CHUYÊN ĐỀ : TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY HÀNH
CHÍNH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Phần 1. Ý ĐỊNH GIẢNG BÀI
I. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
1. Mục đích:
Trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về cơ cấu tổ chức cũng như
cơ chế hoạt động của hệ thống bộ máy hành chính ở nước ta; và cơ sở khách quan,
quan điểm, nội dung cơ bản của cải cách hành chính đáp ứng yêu cầu xây dựng và
hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
2. Yêu cầu:
- Người học nắm được cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Chính phủ và
Ủy ban ND các cấp
- Nắm được cơ sở khách quan và quan điểm, nội dung cơ bản cải cách HCNN
ở nước ta hiện nay, vận dụng CCHC trong QĐ (ngành, địa phương của mình).
II. NỘI DUNG: gồm 2 phần
- Bộ máy hành chính nhà nước nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Cải cách nền hành chính nhà nước góp phần xây dựng và hoàn thiện nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Trọng tâm phần 2
III. THỜI GIAN:
4 tiết
IV. ĐỊA ĐIỂM
Lên lớp tại giảng đường
V. TỔ CHỨC, PHƯƠNG PHÁP:
1. Tổ chức: Lên lớp tập trung tại giảng đường
2. Phương pháp giảng dạy:
- Là phương pháp diễn giảng của GV kết hợp với sơ đồ, bảng biểu; Hướng
dẫn H nghiên cứu tài liệu và phân tích làm rõ một số nội dung quan trọng
- Học viên nghe ghi theo ý hiểu, kết hợp nghiên cứu tài liệu để hoàn thiện
VI. VẬT CHẤT ĐẢM BẢO:
Thuyết trình + Nêu vấn đề
Giáo án, giáo
trình, tài liệu,
Phần 2
80 phút
Thuyết trình + Nêu vấn đề
Giáo án, giáo
trình, tài liệu,
III. KẾT THÚC GIẢNG BÀI
1. Kết luận bài
2. Định hướng nội dung ôn tập:
3
I. BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của nền hành chính nhà nước
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
a) Khái niệm hành chính nhà nước
Hành chính là hoạt động quản lý, điều hành công việc của mọi cơ quan nhà
nước cũng như các tổ chức chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội theo chức năng,
nhiệm vụ và điều lệ của từng tổ chức.
Các yếu tố cấu thành thể chế hành chính nhà nước:
+ Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định nhiệm vụ quyền hạn thẩm
quyền của các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới địa
phương bao gồm:
> Văn bản quy định về chính phủ và các cơ quan chính phủ như: luật tổ chức
chính phủ, các quy chế làm việc của chính phủ.
> Văn bản quy định hoạt động của ủy ban nhân dân và cơ quan chuyên môn
như: luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, quy chế được quy định
tại nghị định 171, 172 của chính phủ.
+ Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định nội dung của quản lý hành
chính nhà nước trên tất cả các mặt các lĩnh vực của đời sống xã hội.
+ Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định chế độ công vụ
+ Hệ thống các chế định về tài phán hành chính nhằm giải quyết tranh chấp
hành chính giữa công dân với nền hành chính.
+ Hệ thống các thủ tục hành chính nhằm giải quyết các quan hệ giữa nhà
nước với công dân với các tổ chức xã hội.
- Cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống bộ máy hành chính nhà
nước từ Trung ương đến cơ sở.
5
Cơ quan hành chính các cấp bao gồm chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp,
được tổ chức và hoạt động theo một cơ chế đồng bộ, có thứ bậc để quản lý các lĩnh
vực của đời sống xã hội do pháp luật quy định.
- Đội ngũ cán bộ, công chức của bộ máy hành chính.
Là những công dân do bầu cử hoặc tuyển dụng và được bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh đảm nhiệm cương vị lãnh đạo hoặc giữ một chức danh chuyên
môn, nghiệp vụ thuộc biên chế các cơ quan hành chính nhà nước và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước.
b) Sơ lược các giai đoạn phát triển của nền hành chính Nhà nước ta
nước, Phó Chủ tịch nước và nội các. Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ
trưởng, có thể có Phó Thủ tướng. Chính phủ thời kỳ kháng chiến chống Pháp có
cơ cấu gồm 11 Bộ. Ở địa phương, chính quyền được tổ chức thành 4 cấp là: bộ
(Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ), tỉnh, huyện và xã. Trong đó ở cả 4 cấp đều có Uỷ
ban hành chính, còn Hội đồng nhân dân chỉ được tổ chức ở tỉnh, thành phố, thị xã
và xã. Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố, thị xã, xã nơi có Hội đồng nhân dân thì
do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra; Uỷ ban hành chính huyện, bộ nơi không có
Hội đồng nhân dân thì do các Hội đồng nhân dân cấp dưới bầu ra.
Chính phủ và cơ quan hành chính địa phương đã tổ chức nhân dân ta thực
hiện công cuộc “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, đưa cuộc kháng chiến chống
Pháp đi đến thắng lợi hoàn toàn.
- Giai đoạn 1945 đến 1954
Sau thắng lợi của Cuộc kháng chiến chống Pháp, ngày 22 tháng 9 năm 1955,
Quốc hội nước ta thông qua danh sách Chính phủ mở rộng (Hội đồng Chính phủ)
do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Thủ tướng, các đồng chí Trường Chinh, Phạm
Hùng làm Phó Thủ tướng. Theo Hiến pháp 1959, Thủ tướng là người đứng đầu
Hội đồng Chính phủ. Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, Chính phủ nước ta
được tổ chức gồm 21 Bộ, 10 Ủy ban và 10 Tổng cục. Ở địa phương bỏ cấp bộ. Các
đơn vị hành chính của nước ta được phân định như sau: nước được chia thành tỉnh,
khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉnh được chia thành huyện, thành
7
phố, thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn. Các đơn vị hành chính kể trên đều tổ
chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính.
Từ 1960 đến 1964, Quốc hội Khoá II đã sửa đổi Chính phủ gồm có: Thủ
tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, các chủ nhiệm Uỷ ban nhà nước và
Tổng Giám đốc Ngân hàng nhà nước. Trong đó Hội đồng Chính phủ do Phạm Văn
Đồng làm Thủ tướng và 5 Phó Thủ tướng. Trong các nhiệm kỳ của Quốc hội Khoá
III (1964-1971), Quốc hội Khoá IV (1971-1975), Chính phủ nước ta đã luôn được
chính ở Trung ương. Theo đó, Chính phủ nước ta có cơ cấu bao gồm 18 Bộ, 4
cơ quan ngang bộ và 9 cơ quan thuộc Chính phủ (gồm: Viện hàn lâm KHXH
VN, Viện hàn lâm KH và CNVN, TTXVN, Đài TNVN, Đài THVN, Bảo hiểm
XH VN, Học viện CT-HC quốc gia HCM, Ban quản lý Lăng Chủ lịch HCM,
UBGS tài chính quốc gia).
Ở địa phương, bộ máy hành chính bao gồm Uỷ ban nhân dân các cấp và các
cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân. Địa giới hành chính các cấp tỉnh,
huyện đã nhiều lần thay đổi. Thời kỳ sau chiến tranh xu hướng chung là sát nhập
thành các cấp hành chính có quy mô lớn. Từ khi bước vào đổi mới đến nay có xu
hướng ngược lại là tách ra thành các đơn vị hành chính có quy mô nhỏ hơn. Năm
1986 nước ta có 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (đơn vị cấp tỉnh), 535
huyện, thị, thành phố trực thuộc tỉnh (đơn vị cấp huyện); năm 1992 có 53 đơn vị
cấp tỉnh, 553 đơn vị cấp huyện; năm 1998 có 61 đơn vị cấp tỉnh, 604 đơn vị cấp
huyện; năm 2004 có 64 đơn vị cấp tỉnh, 652 đơn vị cấp huyện và tính đến
31/12/2008 nước ta có 63 tỉnh, thành với 696 đơn vị cấp huyện.
Hiến pháp 2013 ra đời trong bối cảnh mới chúng ta đã thực hiện hơn 25 năm
đổi mới, tình hình thực tiễn kinh tế xã hội của đất nước có nhiều bước phát triển
mới. Hiến pháp khẳng định rõ hơn vai trò Chính phủ là cơ quan “thực hiện quyền
hành pháp”. Về chính quyền địa phương, Hiến pháp quy định: “Chính quyền địa
phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy
9
ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn
vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định”.
2. Tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
a) Tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính ở Trung ương
*Chính phủ
phạm vi cả nước hoặc công tác được giao phụ trách. Nhiệm kỳ của Chính phủ theo
nhiệm kỳ của Quốc hội.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ được quy định cụ thể tại Điều 96 Hiến pháp
2013 (gồm 8 nhiệm vụ), có thể khái quát trên một số nội dung cơ bản sau đây:
- Xây dựng và lãnh đạo hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ Trung
ương đến cơ sở; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức nhà nước.
- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị, kinh tế - xã hội, đơn vị vũ trang và công dân.
- Quản lý, điều hành công cuộc xây dựng đất nước trên mọi lĩnh vực;
- Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền
công dân; bảo đảm trật tự an toàn xã hội;
- Quyền kiến nghị lập pháp và quyền lập quy.
- Củng cố và tăng cường nền quốc phòng và an ninh quốc gia.
- Thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước; tổ chức đàm phán, ký điều
ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước; quyết định
việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân daanh
Chính phủ (Trừ điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn);
- Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân
Việt Nam ở nước ngoài
Chính phủ tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Hiệu quả
hoạt động của Chính phủ được bảo đảm bằng hiệu quả hoạt động của tập thể
11
Chính phủ, của Thủ tướng và từng thành viên Chính phủ. Hình thức hoạt động tập
thể của Chính phủ là phiên họp của Chính phủ.
Chính phủ họp thường kỳ mỗi tháng một lần, thảo luận tập thể và quyết định
theo đa số những vấn đề quan trọng. Thủ tướng có quyền triệu tập họp bất thường
hoặc khi có 1/3 thành viên Chính phủ yêu cầu. Chính phủ có thể cho phép thành
nhà nước (Tổng cục, Cục, Vụ, Văn phòng); các tổ chức sự nghiệp (viện nghiên
cứu, nhà trường, trung tâm…); các cơ sở kinh tế ở địa phương.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ và là
người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, lãnh đạo công tác của bộ, cơ quan ngang
bộ; chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức
thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong
phạm vi toàn quốc.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ báo cáo công tác trước Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ; thực hiện chế độ báo cáo trước Nhân dân về những vấn đề
quan trọng thuộc trách nhiệm quản lý.
Căn cứ vào Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, các
văn bản của Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ra quyết định,
chị thị, thông tư và hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với tất cả
các ngành, các địa phương và cơ sở.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hướng dẫn và kiểm tra các Bộ, cơ
quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện các nhiệm vụ công tác thuộc
ngành, lĩnh vực mình phụ trách.
b) Tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính ở địa phương
*Uỷ ban nhân dân
Hiến pháp 2013 quy định: Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn
vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cấp chính quyền
địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp
13
với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do
luật định.
Theo Điều 114 Hiến pháp 2013: Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa
Uỷ ban nhân dân làm việc theo hai hình thức: chế độ làm việc tập thể và làm
việc theo chế độ thủ trưởng. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân lãnh đạo, điều hành hoạt
động của Uỷ ban nhân dân. Khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa
phương, Uỷ ban nhân dân phải thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.
Uỷ ban nhân dân họp ít nhất mỗi tháng một lần. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
quyết định và chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp
trên về các quyết định thuộc thẩm quyền của mình.
* Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
Uỷ ban nhân dân có các cơ quan chuyên môn giúp việc quản lý nhà nước ở
địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ
Trung ương đến cơ sở.
Các cơ quan chuyên môn chịu sự chỉ đạo, quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp
mình, vừa chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên. Thủ
trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước Uỷ ban nhân dân và cơ quan chuyên môn cấp trên và khi cần thiết thì
báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân. Tuỳ điều kiện của từng địa phương mà
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quyết định thành lập hay bãi bỏ, sát nhập các cơ quan
chuyên môn trực thuộc theo quy định của Chính phủ.
Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân có thể chia thành 3 nhóm
lĩnh vực cơ bản:
- Lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, thương mại.
- Lĩnh vực văn hoá, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, thể thao, báo
chí, thông tin, bảo hiểm, y tế.
15
- Lĩnh vực quốc phòng, an ninh.
Thường ở cấp tỉnh cơ quan chuyên môn có các sở, ở cấp huyện có các
phòng, ban. Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân làm việc theo chế độ
quyết liệt, phức tạp. => Phải có một nền HC vững mạnh.
( Tham nhũng, tội phạm, tệ nạn XH, sự chống phá của địch…)
- Từ quan điểm của Đảng về cải cách hành chính
(Thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X); Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 2011-2020 theo Đại hội XI của Đảng; Kết quả tổng kết, đánh giá
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và
những bài học thực tiễn chỉ đạo thực hiện ở các cấp).
+ Nghị quyết TƯ 5 (Khoá X) chỉ ra mục tiêu, 3 quan điểm, 5 yêu cầu, 10 chủ
trương giải pháp về cải cách hành chính (tài liệu)
+ ĐH XI của Đảng: đề ra chiến lược phát triển KT-XH 2011-2020 với 5 quan
điểm phát triển; 3 khâu đột phá. Về xây dựng nhà nước, đảng ta chỉ ra: “phải tạo
bước chuyển mạnh về cải cách hành chính; chỉ ra mục tiêu cụ thể cho cải cách HC
trong 10 năm tới: “Tập trung xây dựng nền HCNN trong sạch, vững mạnh, bảo
đảm quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Thực hiện chương trình
tổng thể cải cách hành chính và hiện đại hoá nền hành chính quốc gia”. (Văn kiện
ĐHXI, tr.142).
+ Kết quả thực hiện Chương trình tổng thể CCHC 2001-2010 đã được Chính
phủ tổng kết, chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm và những bài học kinh nghiệm
phong phú
Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 được Thủ tướng
phê duyệt tháng 9/2001. Nội dung của chương trình xác định rõ 4 lĩnh vực: cải
cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công.
17
Hai điểm được đánh giá cao từ cả bên trong hệ thống hành chính và từ bên
ngoài, nghĩa là từ người dân, những người hưởng thụ các dịch vụ công, là cải cách
thể chế và cải cách thủ tục hành chính.
Các luật Tổ chức CP, Tổ chức HĐND và UBND, Thanh tra, luật Công chức; các
số lượng nhưng hạn chế về chất lượng; Thủ tục HC còn nhiều vướng mắc, gây
phiền hà cho tổ chức và công dân; kỷ cương cán bộ, công chức chưa nghiêm.
+Các đầu mối trực thuộc CP giảm nhưng bộ máy bên trong các bộ chưa
giảm; chức năng một số cơ quan trong bộ máy chưa đủ rõ, còn trùng lặp và chưa
bao quát hết các lĩnh vực quản lý.
+Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu; cơ chế
quy định trách nhiệm người đứng đầu chưa rõ ràng; tình trạng tham nhũng, quan
liêu của cán bộ, công chức… vẫn còn nghiêm trọng
Đào tạo để nâng cao chất lượng con người trong bộ máy hành chính cũng cần
được chú trọng hơn, khi mà báo cáo tổng kết CCHC của Chính phủ chỉ ra một bộ
phận cán bộ, công chức còn "thiếu trách nhiệm, chưa thạo việc, hạn chế về năng
lực" hay "thiếu linh hoạt, máy móc", đặc biệt là "quan liêu, cửa quyền, hách dịch",
thậm chí "suy thoái phẩm chất, đạo đức, tham nhũng, vô cảm trước yêu cầu của
nhân dân, của xã hội".
Phó Thủ tướng N.X. Phúc: “Hiện nay 30% công chức không có cũng được,
sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về...”.
+Cải cách tài chính công mới chỉ là bước đầu, kết quả còn hạn chế...
Đặc biệt, cải cách tiền lương vẫn còn chậm, lương chưa chưa trở thành động
lực cho cán bộ, công chức phấn đấu và cống hiến.
*Các rào cản trong CCHC:
- Nhóm nguyên nhân khách quan:
+Do KT nước ta mới chuyển đổi sang cơ chế KTTT, bộ máy HC còn chịu
ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp cũ
19
+Do những bất cập giữa yêu cầu về sự chuyển đổi nhanh về KT-XH với khả
năng thích ứng chậm của nền hành chính
+Do hạ tầng cơ sở của nền HC còn thấp; hệ thống PL chưa đồng bộ
+Mặt bằng dân trí thấp; trang bị cơ sở vật chất, văn phòng hạn hẹp
cấp hợp lý, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước trong thời k mới, chuyển thành công nền hành chính sang phục
vụ.
(Xem văn kiện ĐHXI, tr.172)
Mục tiêu của Chương trình CCHC từ 2011-2020: (Theo NQ30c ngày
8/11/2011 của Chính phủ)
1. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu
quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước.
2. Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch
nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính.
3. Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ
sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân
chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan
hành chính nhà nước.
4. Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền
con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước.
5. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực
và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước.
21
Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể
chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú
trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công
chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất
lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công.
b) Yêu cầu cải cách hành chính thời gian tới:
hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự công
bằng trong phân phối thành quả của đổi mới, của phát triển kinh tế - xã hội;
- Hoàn thiện thể chế về sở hữu, trong đó khẳng định rõ sự tồn tại khách quan,
lâu dài của các hình thức sở hữu, trước hết là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở
hữu tư nhân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu khác nhau
trong nền kinh tế; sửa đổi đồng bộ thể chế hiện hành về sở hữu đất đai, phân định
rõ quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất, bảo đảm quyền của người sử dụng đất;
- Tiếp tục đổi mới thể chế về doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là xác
định rõ vai trò quản lý của Nhà nước với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà
nước; tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước với chức năng quản trị
kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; hoàn thiện thể chế về tổ chức và kinh
doanh vốn nhà nước;
- Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về xã hội hóa theo hướng quy
định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cung ứng các
dịch vụ trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh;
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế về tổ chức và hoạt động
của các cơ quan hành chính nhà nước; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản
quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ, Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân các cấp;
23
- Xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa Nhà nước
và nhân dân, trọng tâm là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, lấy ý
kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương, chính sách quan trọng và
về quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan hành chính nhà
nước.
2. Cải cách thủ tục hành chính:
sát việc thực hiện thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước các
cấp.
3. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước:
- Tiến hành tổng rà soát về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ
chức và biên chế hiện có của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh, cấp huyện, các cơ quan, tổ chức khác thuộc bộ máy hành chính nhà nước ở
trung ương và địa phương (bao gồm cả các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước); trên
cơ sở đó điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức, sắp xếp lại các cơ
quan, đơn vị nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống hoặc trùng lắp về
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; chuyển giao những công việc mà cơ quan hành
chính nhà nước không nên làm hoặc làm hiệu quả thấp cho xã hội, các tổ chức xã
hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận;
- Tổng kết, đánh giá mô hình tổ chức và chất lượng hoạt động của chính
quyền địa phương nhằm xác lập mô hình tổ chức phù hợp, bảo đảm phân định
đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, sát thực tế, hiệu lực, hiệu quả; xây dựng
mô hình chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn phù hợp.
Hoàn thiện cơ chế phân cấp, bảo đảm quản lý thống nhất về tài nguyên,
khoáng sản quốc gia; quy hoạch và có định hướng phát triển; tăng cường giám sát,
kiểm tra, thanh tra; đồng thời, đề cao vai trò chủ động, tinh thần trách nhiệm, nâng
cao năng lực của từng cấp, từng ngành;
25
- Tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước;
thực hiện thống nhất và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa
liên thông tập trung tại bộ phận tiếp nhận, trả kết quả thuộc Văn phòng Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ
chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào