TRUYỀN THỐNG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT
NAM VÀ VẬN DỤNG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ
TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
1. Khái quát điều kiện địa lý, lịch sử, con người của dân tộc Việt Nam.
2. Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam.
2.1. Khái quát về lịch sử đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam.
2.2. Truyền thống đánh giặc giữ nước.
3. Vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa hiện nay.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang
1
2
5
5
17
29
38
39
MỞ ĐẦU
2
Dân tộc Việt Nam có một lịch sử lâu đời với nhiều truyền thống tốt
đẹp, rất đáng tự hào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thân yêu
phía Tây và Tây Nam giáp các nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và
Vương quốc Campuchia, phía Đông và phía Nam giáp Biển Đông (Thái Bình
Dương) với 3260 km đường bờ biển và khoảng trên 3000 hòn đảo lớn nhỏ.
Việt Nam có diện tích khoảng 331.590 km2 đất liền và khoảng 700.000 km2
thềm lục địa, phần biển rộng gấp nhiều lần so với phần đất liền. Do có vị thế
tự nhiên đặc biệt như vậy nên Việt Nam sớm trở thành cửa ngõ, yết hầu giao
thông quan trọng, là chiếc cầu nối giữa Châu Á và Thái Bình Dương, giữa
Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, nơi giao điểm của các luồng
đường, luồng hàng từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc, nơi tiếp xúc và giao
thoa của nhiều nền văn hóa, văn minh lớn trên thế giới.
Địa hình Việt Nam khá đặc biệt: hai đầu phình ra (Bắc Bộ và Nam Bộ)
ở giữa thu hẹp lại và kéo dài (Trung Bộ). Thiên nhiên Việt Nam đa dạng bao
gồm các vùng đồng bằng, ven biển, trung du, cao nguyên và núi rừng, với
hàng loạt sông ngòi lớn nhỏ, khí hậu nhiệt đới gió mùa. Hơn nữa Việt Nam lại
nằm ở vị trí có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú “rừng vàng, biển
bạc”, đất đai phì nhiêu, màu mỡ… và cùng với bản tính của người dân Việt
Nam là rất cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất, đã tạo ra cho
đất nước Việt Nam có đầy đủ những điều kiện để phát triển một nền kinh tế
toàn diện. Bên cạnh những thuận lợi do thiên nhiên “hào phóng” đem lại, còn
có hàng loạt những khó khăn như bão, lụt, áp thấp nhiệt đới và gió mùa đông
bắc khắc nghiệt. Chính trong cuộc đấu tranh với những thiên tai đó, để không
ngừng tồn tại, sản xuất, phát triển, con người Việt Nam đã gắn bó sâu sắc với
quê hương, đất nước mình, đoàn kết chặt chẽ với nhau, vươn lên không ngừng
về trí tuệ và sự năng động. Đồng thời, qua hàng ngàn năm đấu tranh với thiên
nhiên, lao động sản xuất đã hun đúc nên tâm hồn cốt cách con người Việt Nam.
Đó là những con người chất phác, giản dị, yêu lao động, yêu thiên nhiên, yêu
4
con người, yêu hòa bình, yêu cuộc sống, bền bỉ dẻo dai, chịu đựng gian khổ,
có lúc phải đối đầu lịch sử với đội quân xâm lược vào loại hùng mạnh nhất
của thế giới đương đại. Song thời nào cũng vậy, nhân dân Việt Nam luôn nêu
cao cảnh giác, chuẩn bị lực lượng đề phòng giặc ngay từ thời bình; trong
chiến tranh, vừa chiến đấu, vừa sản xuất, xây dựng đất nước và sẵn sàng đối
phó với âm mưu của kẻ thù. Vì vậy, đánh giặc, giữ nước là nhiệm vụ thường
xuyên, cấp thiết và luôn luôn gắn liền với nhiệm vụ xây dựng đất nước.
Đặc biệt, Việt Nam ở một vị trí mà biên giới của chúng ta gắn liền với
Trung Quốc- một nước lớn, khổng lồ, luôn luôn có tư tưởng “bành trướng”
xuống phía Nam, nên nước ta thường xuyên bị các thế lực bành trướng ngoại
bang phía Bắc nhòm ngó và tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, thôn
tính. Tất cả các triều đại phong kiến thống trị ở Trung Quốc: Tần, Triệu, Hán,
Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường, Nguyên, Minh, Thanh... đã mở nhiều cuộc
chiến tranh xâm lược, bành trướng, đồng hoá dân tộc Việt Nam, nhưng cuối
cùng chúng đều thất bại trước truyền thống đánh giặc giữ nước độc đáo của
dân tộc Việt Nam. Có thể thấy lịch sử dân tộc Việt Nam không những trong
thời trung cổ bị các đế chế phong kiến phương Bắc xâm lược mà bước sang
thời kỳ cận đại, hiện đại các thế lực đế quốc thực dân phương Tây tiếp tục với
ý đồ xâm lược hoặc trực tiếp xâm lược thống trị nước ta như: Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, Hà Lan, Anh và trực tiếp là Pháp, Nhật, Mỹ sang xâm lược nước ta.
Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử, kể cả những lúc phát triển
cao vẫn là một đất nước không rộng, người không đông, tiềm lực kinh tế,
quốc phòng có hạn. Nhưng thật hiếm có một quốc gia, dân tộc nào trên thế
giới có đặc điểm lịch sử như Việt Nam. Trong mấy nghìn năm lịch sử đã có
hơn một nghìn năm phải trực tiếp cầm vũ khí chống ngoại xâm. Nếu chỉ tính
từ khi có sử liệu ghi chép rõ ràng thì từ cuộc kháng chiến chống Tần xâm
lược đến nay là 22 thế kỷ, dân tộc ta đã phải trực tiếp kháng chiến suốt 13 thế
kỷ. Quá trình chống kẻ thù xâm lược, giữ nước hoặc giải phóng dân tộc hoặc
bảo vệ tổ quốc ở mỗi thời đại lịch sử có khác nhau, song rốt cuộc thì dù dài,
dù ngắn, nhân dân ta đều đánh bại kẻ thù xâm lược, giải phóng được dân tộc.
7
Thư bỏ mạng, “quân Tần thây phơi, máu chảy, hàng mấy chục vạn” 1. Cuộc
kháng chiến của nhân dân ta chống quân xâm lược Tần thắng lợi, An Dương
Vương thành lập nhà nước Âu Lạc, dựng kinh đô ở Cổ Loa và tiếp tục xây
dựng đất nước. Có thể nói, thời kỳ Văn Lang- Âu Lạc là thời kỳ bắt đầu dựng
nước và giữ nước của dân tộc ta, là một thời kỳ phát triển rực rỡ của lịch sử
dân tộc, thời kỳ xây dựng nên nền tảng dân tộc Việt Nam, nền văn hóa, lối
sống, tính cách và truyền thống Việt Nam.
- Cuộc đấu tranh giành độc lập (từ thế kỷ I đến thế kỷ X).
Sau cuộc kháng chiến chống quân Tần, cuộc kháng chiến của nhân dân
Âu Lạc do An Dương Vương lãnh đạo chống quân xâm lược của Triệu Đà từ
năm 184 đến 179 trước Công nguyên bị thất bại. Từ đây, đất nước ta rơi vào
thảm họa hơn một nghìn năm phong kiến Trung Hoa đô hộ, lịch sử gọi là thời
kỳ Bắc thuộc. Hơn một nghìn năm Bắc thuộc đã có biết bao đau thương, tủi
nhục mà nhân dân ta phải chịu đựng. Kẻ đô hộ đâu chỉ dừng lại ở vơ vét của
cải, áp bức bóc lột mà còn rắp tâm xóa bỏ độc lập, chủ quyền của nhân dân ta,
ráo riết thực hiện chính sách đồng hóa dân ta, biến nước ta thành quận huyện
của chúng. Những gì là cơ sở tồn tại, là sức mạnh tinh thần để phục hồi quốc
gia, quốc thể từ lãnh thổ, tiếng nói, phong tục tập quán, lối sống, ý thức tư
tưởng của dân tộc ta đều bị chúng dùng trăm phương nghìn kế để hủy diệt.
Song, đâu chỉ có Bắc thuộc, nhân dân ta quyết không chịu khuất phục,
đã nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường và bền bỉ chống áp bức, bóc lột, giữ
gìn bản sắc dân tộc và liên tiếp đứng lên đấu tranh giành lại độc lập tự chủ.
Mở đầu phong trào giải phóng dân tộc là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà
Trưng (Trưng Trắc và Trưng Nhị là con của lạc tướng huyện Mê Linh, thuộc
dòng dõi “họ Hùng”). Vào mùa xuân năm 40, dưới sự lãnh đạo của hai vị nữ
tướng, nhân dân ba quận đã nhất tề đứng lên chống giặc ngoại xâm, nhanh
chóng lật đổ nền thống trị của nhà Đông Hán, thiết lập chính quyền độc lập,
Thái Bình quận Giao Chỉ lãnh đạo đã bùng nổ. Cuộc khởi nghĩa được các
tầng lớp nhân dân ủng hộ nên đã nhanh chóng lật đổ chính quyền đô hộ của
nhà Lương. Năm 544 Lý Bí lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Lý Nam Đế, đặt
niên hiệu là Thiên Đức, đặt tên nước là Vạn Xuân, tiến hành xây dựng nhà
nước theo chế độ tập quyền trung ương. Mùa hè năm 545 nhà Lương đem
quân sang xâm lược nước ta. Trước sức mạnh của quân địch, Lý Bí phải chạy
9
về động Khuất Lão và giao lại quyền bính cho Triệu Quang Phục, sau đó lui
quân về đóng ở đầm Dạ Trạch. Trong những năm 545- 557 cuộc kháng chiến
của nhân dân ta chống lại quân xâm lược nhà Lương do Triệu Quang Phục
lãnh đạo giành thắng lợi. Đến năm 571 Lý Phật Tử đánh úp Triệu Quang
Phục, chiếm đoạt toàn bộ quyền hành, đất đai và tự xưng là Lý Nam Đế (hậu
Lý Nam Đế). Năm 602- 603 cuộc kháng chiến chống nhà Tùy xâm lược của
Lý Phật Tử bị thất bại, nước ta lại bị rơi vào ách thống trị của nhà Tùy.
Năm 678 Đinh Kiến, Lý Tự Tiên lãnh đạo nhân dân chống nhà Tùy đô
hộ, đánh chiếm phủ thành Tống Bình (Hà Nội), giết chết viên quan đô hộ phủ
Lưu Diên Hựu.
Năm 722 Mai Thúc Loan đã hiệu triệu những người dân phu đi gánh vải
nổi dậy khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt, nhiều
nghĩa sĩ nhân tài khắp vùng Thanh, Nghệ, Tĩnh đã kéo về tụ nghĩa dưới cờ của
Mai Thúc Loan. Ông còn liên kết với các nước Chămpa, Chân Lạp để cùng
nhau chống nhà Đường. Mai Thúc Loan tự xưng là Hoàng đế, xây thành trên
núi và lấy vùng Sa Nam hiểm yếu làm căn cứ chống giặc. Ít lâu sau, nhà
Đường cử Dương Tư Húc cùng Quang Sở Khanh đem 10 vạn quân tiến sang
đàn áp cuộc khởi nghĩa. Mai Hắc Đế thất trận, nghĩa quân tan vỡ.
Năm 766 Phùng Hưng- một hào trưởng đất Đường Lâm đã phát động
một cuộc khởi nghĩa lớn chống lại chính quyền đô hộ nhà Đường. Ban đầu
nghĩa quân đánh chiếm các vùng xung quanh Đường Lâm, rồi đánh chiếm
lược nước ta. Vì thiếu chuẩn bị, Khúc Thừa Mỹ không chống nổi giặc và bị bắt
đưa về Trung Quốc, nước ta lại bị rơi vào tay nhà Nam Hán. Năm 931 được sự
ủng hộ của nhân dân và hào kiệt khắp nơi, Dương Đình Nghệ (vị tướng cũ của
họ Khúc) tổ chức lực lượng tiến quân ra Giao Châu. Thứ sử Lý Tiến chống cự
không nổi phải bỏ chạy về nước. Dương Đình Nghệ nhanh chóng củng cố thành
Đại La, huy động lực lượng và nhanh chóng đánh tan cuộc hành quân tiếp viện
của Nam Hán do Thừa chỉ Trần Bảo chỉ huy. Dẹp xong quân giặc, Dương Đình
Nghệ tự xưng Tiết độ xứ, tiếp tục công cuộc tự chủ của họ Khúc.
Năm 937 Dương Đình Nghệ bị viên thuộc tướng phản bội là Kiều Công
Tiễn ám hại để đoạt chức tiết độ sứ. Được tin Ngô Quyền (người làng Đường
11
Lâm con của thứ sử Ngô Mân và là con rể Dương Đình Nghệ) từ vùng châu
Ái đem quân ra đánh Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn hoảng sợ cho người
chạy sang cầu cứu nhà Nam Hán. Nền độc lập của dân tộc mới được khôi
phục lại bị đe dọa nghiêm trọng cả bên ngoài lẫn bên trong. Trước yêu cầu
của lịch sử, Ngô Quyền được sự ủng hộ của nhân dân đã giết chết Kiều Công
Tiễn, cùng quân sĩ và nhân dân chuẩn bị cuộc kháng chiến. Dưới sự lãnh đạo
của Ngô Quyền, nhân dân ta đã lập nên chiến công oanh liệt trên sông Bạch
Đằng, chỉ trong một ngày nhân dân ta đã quét sạch quân địch ra khỏi bờ cõi,
Vạn vương Hoằng Tháo phải bỏ mạng.
Chiến thắng Bạch Đằng Năm 938 được ghi vào lịch sử dân tộc như một
chiến công hiển hách “một vũ công cao cả, vang dội đến nghìn thu há phải chỉ
lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu! (Ngô Thời Sĩ)” 1. Chiến thắng Bạch
Đằng là cái mốc bản lề của lịch sử Việt Nam, nó chấm dứt vĩnh viễn nền
thống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, mở ra thời kỳ độc
lập thực sự và lâu dài của dân tộc ta.
- Các cuộc chiến tranh giữ nước (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX).
Sau chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền lên ngôi vua, bắt tay vào xây
đặc biệt là đại thắng Bạch Đằng trong cuộc kháng chiến lần thứ ba (1288) còn
mãi mãi lưu truyền trong sử sách, là niềm kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam.
Khởi nghĩa Lam Sơn và cuộc kháng chiến chống quân Minh (1418-1427):
Đầu thế kỷ XV, nước ta bị quân Minh xâm lược, nhà Hồ lãnh đạo kháng
chiến không thành công. Tuy vậy, truyền thống đánh giặc giữ nước của dân
tộc ta vẫn được phát huy mạnh mẽ. Mùa xuân năm 1418 Lê Lợi dựng cờ khởi
nghĩa, cuộc khởi nghĩa đã phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc trên
quy mô cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, sau mười năm
hi sinh, gian khổ, cuộc kháng chiến chống quân Minh của nhân dân ta đã
giành thắng lợi oanh liệt, với chiến thắng Tốt Động- Chúc Động (1426) diệt 6
vạn quân địch, trận vây hãm Đông Quan và chiến thắng Chi Lăng- Xương
Giang (1427) nổi tiếng diệt gọn 10 vạn tên địch. Cuối cùng tướng giặc Vương
Thông cùng 10 vạn quân Minh phải xin đầu hàng. Cuộc chiến tranh kết thúc,
chủ quyền dân tộc Việt Nam được khẳng định.
Khởi nghĩa Tây Sơn và các cuộc kháng chiến diệt quân Xiêm, đại phá
quân Thanh: Vào mùa xuân năm 1771, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Nguyễn
13
Huệ đã lần lượt vùng lên khởi nghĩa đập tan chính quyền phong kiến phản động
của nhà Nguyễn ở Đàng Trong. Tên bán nước Nguyễn Ánh cầu cứu vua Xiêm
rước 2 vạn thủy quân, 300 chiếc thuyền và 3 vạn bộ binh sang xâm lược nước ta.
Nhưng đội quân “áo vải cờ đào” dưới sự chỉ huy tài tình của Nguyễn Huệ đã lập
nên chiến thắng Rạch Gầm- Xoài Mút (19/5/1785) đánh tan 5 vạn quân Xiêm.
Lịch sử còn ghi lại: “Người Xiêm sau trận thua năm Giáp Thìn (1785) ngoài
miệng tuy nói khoác nhưng trong bụng thì sợ quân Tây Sơn như sợ cọp” 1. Năm
1788 Lê Chiêu Thống “cõng rắn cắn gà nhà”, rước 29 vạn quân Thanh vào dày
xéo đất nước ở phía Bắc. Với tinh thần: “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen
răng, đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hòa, đánh cho
sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”, bằng một chiến dịch tấn công thần tốc,
yêu nước trên đều bị thất bại. Nguyên nhân cơ bản do thiếu sự lãnh đạo của một
giai cấp tiên tiến, có đường lối đúng, phù hợp với điều kiện mới của thời đại.
Dưới ánh sáng của Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc: “Muốn cứu nước,
giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”1.
Người đã đưa nhân dân ta đến với Chủ nghĩa Mác- Lênin và thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam (3/2/1930). Việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam “là một bước
ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Nó chứng tỏ rằng
giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”2. Sự ra đời của
Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt Nam ở trong tình
trạng “đen tối không có đường ra”, thời kỳ bế tắc khủng hoảng về đường lối.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng nước ta trải qua các cao trào Xô
Viết- Nghệ Tĩnh 1930- 1931; Phong trào Dân chủ đòi tự do, cơm áo và hòa bình
1936- 1939; Phong trào Phản đế và phát động toàn dân tổng khởi nghĩa 19391945, đỉnh cao là thắng lợi rực rỡ của Cách mạng tháng Tám năm 1945 lập ra nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước công- nông đầu tiên ở Đông Nam Á.
- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945- 1954).
Không chịu từ bỏ dã tâm cai trị nước ta, ngày 23/9/1945 được quân
Anh giúp sức, thực dân Pháp lại tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta
lần thứ hai. Trong điều kiện nước ta còn nhiều khó khăn, phải đương đầu với
1
2
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H.2009, tr.314.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, H.2009, tr.8.
15
nhiều kẻ thù cùng một lúc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng
sách lược tài tình, khéo lợi dụng mâu thuẫn nội bộ của địch, tranh thủ hòa hoãn
với Pháp, đẩy nhanh 20 vạn quân Tưởng về nước để chuẩn bị kháng chiến lâu
16
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với truyền thống đánh
giặc giữ nước anh dũng, quật cường của dân tộc và được giúp đỡ to lớn của
bè bạn khắp năm châu, nhân dân Việt Nam đã vượt mọi khó khăn gian khổ
cùng nhau chống Mĩ cứu nước. Từ năm 1959- 1960 phong trào Đồng khởi ở
miền Nam bùng nổ và lan rộng; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam được
thành lập. Từ năm 1961- 1965 quân và dân ta đã đánh bại chiến lược “Chiến
tranh đặc biệt” của Mĩ. Từ năm 1965- 1968 Mĩ tiến hành chiến lược “Chiến
tranh cục bộ” ồ ạt đưa quân viễn chinh Mĩ vào miền Nam, đồng thời tiến hành
chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ
Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quân và dân cả nước đánh
thắng Mĩ ngay từ trận đầu ở cả hai miền Nam, Bắc. Cuộc tổng tiến công tết
Mậu Thân 1986 trên toàn lãnh thổ miền Nam làm phá sản chiến lược “Chiến
tranh cục bộ ”, buộc Mĩ phải “xuống thang” đàm phán với ta. Để cứu vãn thất
bại, Mĩ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng chiến
tranh sang Lào và Campuchia. Quân và dân ba nước Đông Dương đã kề vai sát
cánh cùng nhau chiến đấu đánh bại các cuộc hành quân của Mĩ- Ngụy sang
Campuchia và đường 9 Nam Lào. Cùng với thắng lợi ở chiến trường miền
Nam, năm 1972 miền Bắc đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52
của Mĩ vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương buộc Mĩ phải kí Hiệp định
Pari công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Đại thắng Mùa xuân năm 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh
lịch sử đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, kết thúc vẻ
vang cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị
hơn 100 năm của chủ nghĩa thực dân, đế quốc ở Việt Nam. Cuộc kháng chiến
chống Mĩ cứu nước là cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh
chống ngoại xâm của dân tộc ta. Với thắng lợi vĩ đại này đã đưa dân tộc ta bước
vào thời kỳ mới, thời kỳ cả nước độc lập, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.
18
2.2. Truyền thống đánh giặc giữ nước.
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn phải
chống lại kẻ thù xâm lược mạnh hơn nhiều lần về quân sự, kinh tế. Song với
tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, với cách đánh mưu trí, sáng tạo, ông
cha ta đã đánh thắng tất cả kẻ thù xâm lược, viết lên những trang sử hào hùng
của dân tộc như chiến thắng Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chương Dương, Hàm
Tử… Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tinh thần yêu nước và truyền
thống đánh giặc của quân dân ta lại được phát huy lên một tầm cao mới và đã
đánh thắng hai kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh là thực dân
Pháp và đế quốc Mĩ. Từ trong thực tiễn chống giặc ngoại xâm của dân tộc,
các thế hệ ông cha ta đã viết lên truyền thống vẻ vang rất đáng tự hào và
những bài học quý báu đối với các thế hệ mai sau. Và cũng chính từ lịch sử
ấy, truyền thống ấy qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc
Việt Nam đã hun đúc và hình thành một cách tự nhiên truyền thống đánh giặc
giữ nước và nó trở thành truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.
Truyền thống không phải là một cái gì có sẵn, nảy sinh trong một thời
gian ngắn, mà là những chuẩn mực, qui tắc ứng xử, thói quen được hình thành
từ lâu đời trong nếp nghĩ, lối sống, hành động của dân tộc và được truyền lại
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Theo giáo sư Trần Văn Giàu: “Mỗi dân tộc
đều có truyền thống của mình, không dân tộc nào không có. Truyền thống là
những đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử
và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng đó có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực…
Truyền thống có cái tốt, có cái xấu. Tốt như truyền thống lên ngựa cầm gươm,
xuống ngựa cầm bút của các tướng sĩ Việt Nam; xấu như mê tín đồng bóng,
như ngó thiển cận trong lũy tre làng”1.
Thật vậy, truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam là
những thói quen về tư duy và hành động quân sự, được hình thành và truyền
giữ nước đã trở thành quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam.
Hai là, trải qua trường kỳ đánh giặc, giữ nước dân tộc ta đã lập nên
những chiến công hiển hách không những đối với dân tộc Việt Nam mà còn
đối với cả thế giới, thắng lợi nối tiếp thắng lợi, chiến công rực rỡ chiến công,
thành một chuỗi dài bất tận trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc ta.
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H.2009, tr.35.
20
Ba là, cội nguồn và nguyên nhân sâu xa của truyền thống đánh giặc giữ
nước của dân tộc ta là bắt nguồn từ những phẩm chất cao quý của dân tộc và
con người Việt Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, lòng yêu nước thương
nòi, ý chí căm thù giặc sâu sắc, là truyền thống đoàn kết và cố kết cộng đồng
trong đánh giặc và trong lao động sản xuất, chống thiên tai, lũ lụt bảo vệ mùa
màng. Truyền thống ấy được hình thành từ buổi đầu dựng nước và giữ nước,
phát triển và lớn lên cùng với sự trường tồn của dân tộc. Truyền thống yêu
nước luôn gắn liền với truyền thống đoàn kết, truyền thống tự lực, tự cường của
dân tộc trong chống giặc ngoại xâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân
ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ
xưa tới nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết
thành một nàn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm,
khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Lịch sử ta đã có
nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta. Chúng ta
có quyền tự hào về những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu,
Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Chúng ta phải ghi nhớ công lao của
các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng”1.
Thực tiễn lịch sử cho thấy đặc trưng chung của chiến tranh giữ nước
Việt Nam là cùng với Nhà nước và quân đội còn có lực lượng to lớn của toàn
nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành
một nàn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó
khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” 1. Toàn bộ lịch sử dân
tộc ta đã chứng minh chân lý sáng ngời đó, dân tộc ta đã trải qua hàng ngàn
năm lịch sử đấu tranh kiên cường để dựng nước và giữ nước. Mỗi trang sử của
dân tộc đều nói lên ý chí tự lực, tự cường, kiên cường bất khuất của nhân dân ta
bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc của mỗi người dân Việt Nam.
Tinh thần yêu nước không phải là tình cảm tự nhiên, nảy sinh cùng với
sự xuất hiện của con người. Tinh thần yêu nước là sản phẩm của một quá
trình lịch sử xã hội của một cộng đồng người nhất định. Nó bắt nguồn từ tình
cảm tự nhiên sâu sắc của mỗi con người đối với những người ruột thịt, đối với
ngôi nhà, làng xóm, quê hương nơi mà họ đã sinh ra và lớn lên, đối với mảnh
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG, H.2009, tr.171.
22
đất mà họ đã đổ biết bao mồi hôi, nước mắt để thuần hoá và từ đó kiếm được
“bát cơm, manh áo”, duy trì lâu dài cuộc sống của mình và các thế hệ nối tiếp,
đối với những sinh hoạt tinh thần mà họ đã cùng những người đồng hương
sáng tạo nên và chung vui sau những giờ lao động vất vả, mệt nhọc. Những
tình cảm đó đã cô đúc lại tạo nên ở con người họ sự gắn bó, yêu thương mảnh
đất quê hương của mình và bên cạnh đó là ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm
đối với việc giữ gìn, bảo vệ và phát triển quê hương mình. Mà cái quê hương
đó, trước đây chỉ là làng xóm, nơi “chôn nhau, cắt rốn” cụ thể của mỗi con
người, nay mở rộng ra thành đất nước, nơi sinh sống của những người cùng
chung số phận, cùng một tiếng nói và một nền văn hoá. Cũng chính vì tình
cảm gắn bó với quê hương đất nước, nơi chôn rau cắt rốn của mình, nơi mà
đôi tay, bộ óc, trái tim của mỗi người Việt Nam đã tạo nên những thành quả
Trọng “Thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Nguyễn
Trung Trực đã hiên ngang tuyên bố trước mặt quân thù: “Bao giờ người Tây
nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”. Hình ảnh Bế Văn
Đàn, Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót đã xả thân vì nước, Nguyễn Viết Xuân
“Nhằm thẳng quân thù mà bắn”… là những biểu tượng sáng ngời về lòng yêu
nước, tinh thần chiến đấu hi sinh vì độc lập dân tộc.
Với tinh thần “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu
mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” 1, “Không có gì quý hơn độc lập, tự
do” đã sớm trở thành tư tưởng và tình cảm lớn nhất, là lẽ sống thiêng liêng
của mỗi người dân Việt Nam.
Thứ hai, cả nước chung sức, toàn dân đánh giặc.
Cả nước chung sức đánh giặc, thực hiện toàn dân đánh giặc, đánh giặc
toàn diện là vấn đề có tính quy luật trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của
dân tộc ta. Dân tộc ta từ ngàn xưa đã ý thức được rằng “nước mất thì nhà
tan”; mất gia đình, mất của cải, mất cả lẽ sống và đạo lý làm người, mất cả
nền văn hiến của dân tộc. Sự mất mát đó không chỉ ở riêng ai mà với mọi
người, mọi nhà. Từ lòng căm thù giặc sâu sắc và để bảo vệ quyền lợi chính
đáng của mỗi người cũng như toàn dân tộc mà mọi người dân Việt Nam ở
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H.2009, tr.480.
24
mọi thế hệ bất kể già, trẻ, gái, trai ai ai cũng đứng lên đánh giặc cứu nước. Cả
nước chung sức, toàn dân đánh giặc còn được xuất phát từ yêu cầu khách
quan của các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta. Đất nước ta
đất không rộng, người không đông, nhân tài vật lực của ta có hạn, lực lượng
quân đội của ta không nhiều. Trái lại, kẻ thù của dân tộc ta có tiềm lực quân
sự và kinh tế mạnh, chúng cậy số đông, trang bị mạnh và có nhiều kinh
giặc phải bó tay”. Nhà sử học Phan Huy Chú cũng viết trong tác phẩm của
mình “Đời nhà Trần nhân dân ai cũng là binh nên mới phá được giặc dữ làm
cho thế nước được mạnh”. Nghĩa quân Lam Sơn đánh thắng quân Minh vì
“tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”, “tụ tập khắp
bốn phương dân chúng, dưới trên đều một bụng cha con”.
Trải qua các giai đoạn lịch sử, tổ tiên ta đều nhận thức một các rõ ràng
vai trò của toàn dân đánh giặc giữ nước. Quan điểm quốc phú binh cường thì
gốc rễ là ở dân thể hiện trong nhiều triều đại. Cho nên, để động viên được sức
mạnh tiềm tàng đó, tổ tiên ta đã phải thi hành nhiều chính sách tiến bộ để “an
dân”. Lý Thường Kiệt coi “đủ ăn” là nguyện vọng của dân. Trần Quốc Tuấn
chủ trương “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”. Buổi đầu đời Lê, triều
đình đã ban lệnh “Không được khinh động đến sức dân” và Nguyễn Trải cho
“việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Đến thế kỷ thứ XVIII, Nguyễn Huệ đã có
nhiều biện pháp để làm nước giàu, quân mạnh, trong đó có chủ trương “làm
sao cho dân yên ổn, có ruộng cày…” hoặc “mở mang cửa ải, thông chợ búa,
khiến cho các hàng hóa không ứ đọng, làm lợi cho dân”. Các triều đại phong
kiến tiến bộ ở nước ta đều chú ý bồi dưỡng, khoan thư sức dân, ra chiếu
khuyến nông, chăm lo thủy lợi, có khi miễn giảm tô thuế một phần để mở
mang kinh tế, phần nữa để tăng cường khối đoàn kết giữa các dân tộc, giữa
triều đình và dân chúng. Vì lợi ích của toàn dân mà phải bảo toàn nền độc lập
của dân tộc, chủ quyền của đất nước, điều đó đã ăn sâu vào lòng người Việt
Nam, trong bất kỳ tầng lớp nào qua các thời đại. Vì toàn dân mà cũng phải do
toàn dân làm mới đánh được kẻ thù hung bạo mạnh hơn, cho nên chính sách
đúng đắn của các chính quyền nhà nước qua quá trình lịch sử Việt Nam đều
phải có sức phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, chung sức đánh giặc. Việc Hồ