Nghiên cứu kỹ thuật làm giàu nhằm xác định salbutamol trong mẫu nước tiểu và thịt lợn bằng phương pháp điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-----------------------------

Dƣơng Thị Nhàn

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT LÀM GIÀU NHẰM XÁC ĐỊNH
SALBUTAMOL TRONG MẪU NƢỚC TIỂU VÀ THỊT LỢN
BẰNG PHƢƠNG PHÁP ĐIỆN DI MAO QUẢN SỬ DỤNG DETECTOR
ĐỘ DẪN KHÔNG TIẾP XÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2016

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------

Dƣơng Thị Nhàn

NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT LÀM GIÀU NHẰM XÁC ĐỊNH
SALBUTAMOL TRONG MẪU NƢỚC TIỂU VÀ THỊT LỢN
BẰNG PHƢƠNG PHÁP ĐIỆN DI MAO QUẢN SỬ DỤNG DETECTOR
ĐỘ DẪN KHÔNG TIẾP XÚC
Chuyên ngành : Hóa Phân Tích
Mã số


Dương Thị Nhàn

3


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN................................................................................... 11
1.1. Tổng quan về Salbutamol ................................................................................ 11
1.1.1. Giới thiệu chung về Salbutamol ..................................................................... 11
1.1.2. Vấn đề sử dụng Salbutamol trên thế giới ........................................................ 12
1.1.3. Vấn đề sử dụng Salbutamol ở Việt Nam ........................................................ 13
1.2. Các phƣơng pháp xác định Salbutamol ......................................................... 14
1.2.1. Phương pháp điện hóa ....................................................................................... 5
1.2.2. Phương pháp ELISA (Enzyme Linked Immunosorbent Assay) ....................... 6
1.2.3. Các phương pháp sắc ký ................................................................................... 7
1.2.3.1. Các phương pháp sắc ký lỏng ........................................................................ 7
1.2.3.2. Phương pháp sắc ký khí khối phổ (GC-MS) .................................................. 8
1.2.4. Các phương pháp điện di mao quản .................................................................. 8
1.3. Phƣơng pháp xác định Salbutamol bằng CE-C4D ........................................ 18
1.3.1. Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của hệ CE cơ bản ....................................... 18
1.3.2. Giới thiệu về detector đo độ dẫn không tiếp xúc C4D .................................... 20
1.3.3. Một số công trình xác định Salbutamol bằng CE ........................................... 21
1.4. Các phƣơng pháp làm giàu chất phân tích .................................................... 23
1.4.1. Phương pháp chiết lỏng – lỏng ....................................................................... 23
1.4.2. Phương pháp chiết pha rắn (SPE) .................................................................. 24
1.4.2.1. Nguyên tắc của chiết pha rắn ...................................................................... 25
1.4.2.2. Cơ chế của chiết pha rắn ............................................................................. 26
1.4.2.3. Các loại cột SPE .......................................................................................... 28
1.4.2.4. Một số công trình làm giàu Salbutamol bằng chiết pha rắn ....................... 29

mẫu nƣớc tiểu .......................................................................................................... 45
3.2.1. Khảo sát lựa chọn cột chiết ............................................................................. 45
3.2.2. Khảo sát đệm chiết .......................................................................................... 46
3.2.3. Khảo sát quá trình rửa tạp ............................................................................... 47
3.2.4. Khảo sát dung môi rửa giải ............................................................................. 48
3.2.5. Đánh giá phương pháp phân tích Salbutamol trong mẫu nước tiểu bằng kĩ
thuật CE-C4D kết hợp chiết pha rắn .......................................................................... 50

5


3.2.5.1. Giới hạn phát hiện, giới hạn định lượng của phương pháp ........................ 50
3.2.5.2. Đánh giá độ lặp lại của phương pháp ......................................................... 51
3.2.5.3. Đánh giá độ đúng của phương pháp ............................................................ 51
3.2.6. Phân tích mẫu thực tế ...................................................................................... 52
3.3. Nghiên cứu, tối ƣu các điều kiện trong quá trình chiết pha rắn làm giàu
Sabutamol trong mẫu thịt lợn ................................................................................ 53
3.3.1. Chuẩn bị mẫu .................................................................................................. 53
3.3.2. Khảo sát lựa chọn cột chiết ............................................................................. 53
3.3.3. Khảo sát lựa chọn quy trình rửa tạp ................................................................ 54
3.4. Đánh giá phƣơng pháp phân tích Salbutamol trong mẫu thịt bằng kĩ thuật
CE-C4D ..................................................................................................................... 56
3.4.1. Đánh giá hiệu suất thu hồi ............................................................................... 56
3.4.2. Đánh giá độ lặp của phương pháp phân tích Salbutamol bằng CE-C4D ........ 57
3.4.3. Kết quả phân tích mẫu thịt lợn thực tế ............................................................ 57
3.5. Kết quả phân tích đối chứng với phƣơng pháp LC/MS/MS ........................ 58
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 62

6

Hình 3.1. Đường chuẩn của Salbutamol ...................................................................43
Hình 3.2. Điện di đồ so sánh kết quả phân tích khi sử dụng (1) cột C18,(2) cột SCX
3ml và (3) cột SCX 6ml .............................................................................45
Hình 3.3. Điện di đồ so sánh kết quả phân tích khảo sát đệm chiết (1) đệm photphat
pH = 6, (2) đệm axetat pH=5,2. .................................................................47
Hình 3.4. Điện di đồ kết quả khảo sát với các quy trình rửa tạp khác nhau (1; 2; 3; 4
tương ứng với quy trình 1; 2; 3; 4) ............................................................48
Hình 3.5. Điện di đồ kết quả khảo sát với các quy trình rửa giải (1; 2; 3 tương ứng
với quy trình 1; 2; 3) ..................................................................................49
Hình 3.6. Điện di đồ giới hạn phát hiện Salbutamol trong mẫu nước tiểu ...............50
Hình 3.7. Điện di đồ so sánh kết quả phân tích khi sử dụng(1) cột C 18 , (2) cột SCX
3ml và (3) cột SCX 6ml. ............................................................................54
Hình 3.8. Điện di đồ so sánh kết quả phân tích khi sử dụng các dung dịch rửa tạp
khác nhau (1; 2; 3 tương ứng với quy trình 1; 2; 3)...................................55
Hình 3.9. Điện di đồ so sánh kết quả phân tích khi sử dụng các dung dịch rửa tạp
khác nhau (4; 5; 6 tương ứng với quy trình 4; 5; 6)...................................55
Hình 3.10. Điện di đồ kết quả phân tích mẫu thịt thực tế .........................................58

8


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Tên viết tắt

Tên đầy đủ

Ace

Acetic


Sắc ký lỏng hiệu năng cao – khối phổ…

LOD

Giới hạn phát hiện

LOQ

Giới hạn định lượng

LC-MS/MS

Sắc ký lỏng khối phổ ba tứ cực

LC-ESI-MS/MS

Sắc ký lỏng ghép với ion hóa khối phổ

MeOH

Methanol

Ppm

Parts per million: phần triệu

%RSD

% độ lệch chuẩn tương đối


tiếp xúc (CE-C4D) gần đây được biết đến là một phương pháp phân tích mới với
nhiều ưu điểm, đã được nghiên cứu, ứng dụng để phân tích Salbutamol trong mẫu
thức ăn chăn nuôi [9, 20]. Tuy nhiên, do nền mẫu nước tiểu, mẫu thịt lợn khá phức
tạp và thường có hàm lượng Salbutamol thấp mà giới hạn phát hiện, giới hạn định
lượng của phương pháp CE-C4D còn hạn chế nên việc phân tích Salbutamol bằng
phương pháp CE-C4D trong các nền mẫu này gặp khó khăn [12, 14]. Vì vậy, việc
nghiên cứu kỹ thuật làm sạch mẫu và làm giàu Salbutamol trong mẫu nước tiểu,
mẫu thịt lợn sẽ làm tăng độ nhạy của phương pháp, giúp xác định được hàm lượng
nhỏ của Salbutamol trong mẫu nước tiểu, mẫu thịt lợn bằng phương pháp CE-C4D,
góp phần quản lý việc sử dụng Salbutamol trong chăn nuôi. Do đó chúng tôi đã lựa
chọn đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật làm giàu nhằm xác định Salbutamol trong
mẫu nƣớc tiểu và thịt lợn bằng phƣơng pháp điện di mao quản sử dụng
detector độ dẫn không tiếp xúc”.

10


CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về Salbutamol
Salbutamol là một chất thuộc nhóm chất tạo nạc - nhóm β-agonists.
Salbutamol có tác dụng liên kết với một protein đặc biệt trên màng tế bào, làm giãn
cơ trơn của đường khí phế quản. Vì vậy trong y học, Salbutamol được dùng làm
thuốc, giúp các bệnh nhân hen suyễn, tắc nghẽn đường phổi hô hấp bình thường trở
lại hoặc kích thích nhịp tim, điều trị suy tim cấp…Tuy nhiên nếu sử dụng với liều
cao, Salbutamol kích thích tuyến thượng thận sản sinh corticoid, làm tăng phát triển
của động vật, làm vật nuôi mau lớn, đồng thời tác động đến quá trình chuyển hóa
tinh bột (gluxit), mỡ (lipit) chuyển thành đạm (nạc), làm tích tụ nạc tại các cơ vân
(mông, lưng, đùi..) nên vật nuôi sẽ trở nên siêu nạc. Salbutamol là một trong những
chất thuộc nhóm β-agonists đứng đầu trong danh mục 18 chất kháng sinh, hóa chất
bị cấm sử dụng trong chăn nuôi ở VN và hầu hết các nước trên thế giới [1, 2].

vẫn tồn đọng Salbutamol ở thịt, gan, thận, nội tạng mà không bị phân hủy khi chế
biến, gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người.
1.1.2. Vấn đề sử dụng Salbutamol trên thế giới
Vào tháng 4 năm 2002, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc đã ban hành một danh
mục các loại thuốc thú y và một số hợp chất tổng hợp bị cấm sử dụng trong chăn
nuôi [24]. Danh mục này áp dụng cho cả các loại thuốc sản xuất trong nước và nhập
khẩu. Đứng đầu danh sách này là Clenbuterol, Salbutamol, Cimaterlo và các muối
của chúng đã bị cấm sử dụng trong mọi loại thức ăn chăn nuôi.
Tại Hồng Công, Trung Tâm Y tế công cộng đã đưa ra quy định về các chất
cấm trong thú y bao gồm Clenbuterol, Salbutamol và các hóa chất nông nghiệp khác
đồng thời nghiêm cấm mua bán các loại thịt và nội tạng động vật bị nhiễm độc [26].
Các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề này có hiệu lực từ ngày 31 tháng 12
năm 2001. Việc thử nghiệm trước khi giết mổ lợn được thực hiện ngay tại các lò mổ
nhằm bảo đảm an toàn đối với thực phẩm trước khi đưa ra thị trường. Trung bình,
mỗi năm có hơn 60000 mẫu nước tiểu lợn được kiểm tra, tất cả các lô hàng có kết
quả dương tính đều bị tiêu hủy.

12


Tại Malaysia, trong những năm qua đã có sự gia tăng đột biến về việc sử
dụng Salbutamol trong thức ăn gia súc nhằm tăng độ nạc và giảm tỉ lệ mỡ trong các
loại vật nuôi [27]. Trung tâm kiểm soát chất kích thích của trường đại học Sains
Malaysia đã đưa ra báo cáo vào tháng 1 năm 2007 về việc xác định tồn dư
Salbutamol trong mẫu thịt bò, lợn, cừu và thịt vịt. Kết quả cho thấy, Salbutamol có
mặt trong 2 trên tổng số hơn 100 mẫu được phân tích. Năm 1996, Malaysia đã cấm
sử dụng toàn bộ các chất thuộc nhóm β-agonist.
1.1.3. Vấn đề sử dụng Salbutamol ở Việt Nam
Theo thông tư 57 ngày 7.11.2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn quy định việc kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm các chất cấm thuộc nhóm

quan thú y tỉnh.
Để chấn chỉnh tình trạng này, cần kiểm tra thức ăn chăn nuôi và nhất là nước
tiểu vật nuôi ở giai đoạn vỗ béo, trước khi xuất bán tại các trang trại chăn nuôi
nhằm phát hiện, ngăn chặn vật nuôi có sử dụng chất cấm đưa ra thị trường. Còn tại
các lò mổ, chợ cần kiểm tra các mẫu thịt, gan, thận trước khi đến tay người tiêu
dung, đảm bảo sức khỏe của người dân.
1.2. Các phƣơng pháp xác định Salbutamol
Hiện nay, có nhiều phương pháp khác nhau để xác định Salbutamol trong
nhiều đối tượng mẫu khác nhau (nước tiểu, thịt lợn, huyết thanh, dược phẩm...) như:
điện hóa, ELISA [16], sắc ký, điện di mao quản Khoảng tuyến tính, các giá trị LOD,
LOQ, hiệu suất thu hồi, sai số tương đối của mỗi phương pháp cho kết quả tương
đối tốt.
1.2.1. Phƣơng pháp điện hóa
Xiaoyun Lin và các cộng sự đã nghiên cứu một loại điện cực mới phân tích
các β-agonist. Sự có mặt của Ractopamin và Salbutamol trong các mẫu thịt lợn và
mẫu nước tiểu người được Muniyandi Rajkumar và các cộng sự nghiên cứu và phát
triển bằng việc sử dụng quy trình chế tạo điện cực màng cacbon thuỷ tinh biến tính
với poly taurine/hạt nano Zirconi (ZrO2) [18]. Trong phương pháp vôn-ampe quét
thế tuyến tính, poly taurine/hạt nano Zirconi (ZrO2) được trực tiếp sử dụng để xác
định Ractopamin và salbutamol. Thế oxi hoá hấp phụ của Ractopamin là 0,65V và
của salbutamol là 0,71V trên bề mặt điện cực. Điện cực biến tính xác định được tín
hiệu oxi hoá của Ractopamin trong khoảng tuyến tính từ 1 đến 28 μM và salbutamol

14


trong khoảng tuyến tính từ 5 đến 220 μM. Điện cực này cũng có thể dùng để xác
định tín hiệu của Ractopamin (1 - 26μM) trong các mẫu thịt lợn và salbutamol (1 114μM) trong các mẫu nước tiểu của người.
1.2.2. Phƣơng pháp ELISA(Enzyme Linked Immunosorbent Assay)
Nguyên lý của phương pháp ELISA xác định clenbuterol và salbutamol là

1.2.3. Các phƣơng pháp sắc ký
Phương pháp phổ khối được sử dụng rộng rãi để xác định lượng vết dư lượng
các chất hữu cơ và các chất gây ô nhiễm cụ thể là phương pháp sắc kí khí và sắc kí
lỏng kết hợp với phương pháp khối phổ được sử dụng để xác định β–agonist trong
các nền mẫu.
1.2.3.1. Các phương pháp sắc ký lỏng
Việc kết hợp hệ tách HPLC và một detector như MS đã tạo thành hệ xác đinh
β-agonist hiệu quả và đang ngày càng phổ biến trong các phòng thí nghiệm hiện đại.
Nhiều công trình nghiên cứu theo hướng này đã đạt được những thành tựu nhất định
trong việc định lượng các β-agonist cũng như sự có mặt của chúng trong các mẫu
dược phẩm, thực phẩm.
Mukesh Maithani và Ranjit Singh đã nghiên cứu và phát triển một phương
pháp xác định đồng thời Salbutamol Sulphate và Theophyllinebằng sắc kí lỏng hiệu
năng cao HPLC (PerkinElmer loại 200) [17]. Dụng cụ được trang bị một loạt mô
hình 200 máy bơm, máy hút khử khí, detector UV-Visible và C-18 cột được sử
dụng. Điều kiện sắc ký : Pha động bao gồm acetonitrile và đệm photphat 65:35 (v /
v) (pH 4,2 ± 0,02, điều chỉnh với trietylamine). Pha động được âm trong 30 phút và
lọc qua một giấy lọc màng 0,45 μ. Tốc độ dòng chảy của pha động là 1,2 mL/phút
và bước sóng sử dụng là 235 nm.
Để xác định độ tuyến tính của phương pháp tác giả đã nghiên cứu ở bảy nồng
độ khác nhau (2, 4, 8, 16, 32, 48 và 64 mg/ml) Của hai loại thuốc đùng trong
nghiên cứu. Kết quả của HPLC được đưa ra như sau. Khoảng nồng độ tuyến tính là
2-64 mg/ml cho cả hai loại thuốc. Các phương trình hồi quy tuyến tính tương ứng
cho Salbutamol Sulphate và Theophyllinelàtìm thấy là y = 6191.4x + 3064,7 và y =
6370.7x - 1993,7.Các giá trị hệ số hồi quy R2 là 0,9999 và 0,9996. Độ thu hồi của
Salbutamol Sulphate và Theophylline là 99,41 và 101,11. Kết quả cho thấy rằng

16





quá trình điện di là 15 phút. Giá trị LOD, LOQ của salbutamol là 0,17 μg/ml và
0,59 μg/ml.
Trong một bài báo khác, Tianshu Zhou và các cộng sự [21] đã ứng dụng
phương pháp điện di mao quản sử dụng detector đo dòng (CE-AD) để xác định các
β–agonist: adrenaline, salbutamol và salmeterol trong huyết thanh. Trong công trình
nghiên cứu này các tác giả đã sử dụng đệm phosphat 0,06 mol/l ở pH = 5,5 với thế
áp vào hai đầu mao quản là 12kV và thời gian bơm mẫu là 8s. Phương pháp có độ
chính xác khá tốt với hiệu suất thu hồi trong khoảng 92,2 † 99,5%, RSD < 4,71%.
Fabiana S. Felix và các cộng sự [15] sử dụng phương pháp điện di mao quản
tích hợp detector đo độ dẫn không tiếp xúc (CE-C4D) để tách và định lượng
salbutamol có trong các sản phẩm thuốc dạng xi-rô với thành phần dung dịch đệm
là 10mM CH3COOH/CH3COONa (pH = 4,9), dung dịch tetraethylammonium
(TEA) được dùng làm chất nội chuẩn, thế áp vào hai đầu mao quản là 28kV, thời
gian bơm mẫu là 25s và ở độ cao 10cm. Kết quả thu được với khoảng tuyến tính từ
7,0.10-5 † 3,0.10-4 mol/l, giới hạn phát hiện của salbutamol là 1,0x10-5 mol/l, giới
hạn định lượng là 3,3.10-5 mol/l. Phương pháp có độ lặp lại khá tốt (RSD = 4,7%
với n =10 tại mức nồng độ 7,0.10-5mol/l).
Gần đây, phương pháp điện di mao quản sử dụng detector đo độ dẫn không
tiếp xúc (CE-C4D) được sử dụng rộng rãi do tính chất ưu việt như hiệu quả tách cao,
thời gian tách ngắn, lượng mẫu tiêu tốn ít… Phương pháp đã được ứng dụng để tách
và xác định các β-agonist trong nhiều đối tượng mẫu khác nhau [9, 15].
1.3. Phƣơng pháp xác định Salbutamol bằng CE-C4D
1.3.1. Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của hệ CE cơ bản
Điện di mao quản là một kỹ thuật tách các chất dựa trên sự di chuyển khác
nhau của các phân tử chất (chủ yếu là các ion mang điện tích) trong dung dịch chất
điện ly có chất đệm pH và trong tác dụng của điện trường (E) nhất định do thế (V)
đặt vào hai đầu mao quản sinh ra [4, 6].


Trong phương pháp điện di mao quản, detector đo độ dẫn là một trong những
loại detector rất được chú ý, tuy có độ nhạy thấp hơn so với hai kĩ thuật điện hóa
khác nhưng lại có ưu điểm là detector đa năng có thể dùng cho rất nhiều loại chất
phân tích khác nhau. Detector này có thể thu nhỏ, thuận lợi khi kết hợp với các mao
quản có đường kính hẹp, thậm chí với các microchip mà không ảnh hưởng đến độ
nhạy và các tính chất khác của detector.
Detector đo độ dẫn không tiếp xúc (C4D) với thiết kế hai điện cực đồng trục
xuất hiện lần đầu trên thế giới vào năm 1998. Dựa trên thiết kế này, năm 2002 nhóm
nghiên cứu của GS Peter Hauser (khoa Hóa, trường đại học Basel, Thụy Sỹ) đã phát
triển thành công dòng sản phẩm C4D với nguồn điện thế kích thích xoay chiều cao
(HV-C4D, 200V). Hãng điện tử eDAQ của Úc sau đó đã phối hợp cùng nhóm nghiên
cứu của GS. Peter Hauser để phát triển dòng sản phẩm C4D thương phẩm.
C4D có nhiều tính năng nổi trội như:
- Điện cực không cần tiếp xúc với dung dịch đo nên tránh được hiện tượng
ăn mòn làm hỏng điện cực.
- Thể tích mẫu đo rất nhỏ, chỉ vài nl.
- Là detector vạn năng có khả đáp ứng với tất cả các hợp phần mang điện
tích trong môi trường nước.
- Khác với detector UV, vốn chỉ có thể cố định tại một điểm nơi có cửa sổ
quang trên cột tách, C4D có thể đặt ở bất kì vị trí nào bằng cách di chuyển tùy ý dọc
theo cột phân tích.
- Có thể dùng cho tất cả các cột tách với vật liệu chế tạo khác nhau, đây cũng
là lợi thế của C4D so với detector UV, vốn chỉ phù hợp với những cột trong suốt.
Ngoài ra, C4D không yêu cầu tạo cửa sổ quang trên cột tách silica nóng chảy nên
giảm thiểu nguy cơ gẫy cột như thường xảy ra với detector đo quang.

20


- Độ nhạy của C4D không phụ thuộc vào đường kính cột tách nên có thể sử



được cho rung siêu âm 10 phút và lọc qua màng 0,45 µm. Đối với mẫu chứa
metoprolol phải thêm một bước ly tâm ở 8000 rpm trong 10 phút để kết tủa tá dược
trước. Mẫu thức ăn chăn nuôi lợn (lấy 2 g) được nghiền thành bột pha loãng 10 ml
hỗn hợp MeOH/H2O (v/v 4/1) sau đó xoáy trộn đều. Hỗn hợp thu được rung siêu
âm trong 2 h sau đó lọc qua màng 0,45 µm trước khi bơm vào hệ thống CE.
Trên thế giới, Weiyu Wang và các cộng sự đã tách và xác định thành công
đồng thời 5 β-agonist có trong thức ăn chăn nuôi, nước tiểu và gan của lợn
(Clenbuterol, Metoprolol, Ractopamin, Isoxsuprine and Salbutamol) sử dụng
phương pháp điện di mao quản với sự phát hiện của detector điện hóa [23]. Điều
kiện điện di được thực hiện với đệm H3BO3–Na2B4O7 100 mM (pH =9), điện thế
tách là 14 kV và thời gian cho quá trình điện di là 15 phút. Giá trị LOD, LOQ của
Salbutamol là 0,17 μg/ml và 0,59 μg/ml.
Peter Mikus, Iva Valášková, Emil Havránek đã phát triển, sử dụng phương
pháp điện di mao quản (CE) để tách, xác định Salbutamol trong dược phẩm (xirô,
dung dịch uống, viên nén) và trong chất lỏng sinh học (nước tiểu, huyết thanh) [15].
Các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình nghiên cứu bao gồm chất tạp, nồng độ của
các ion mang, ion đối và độ pH của hệ đệm. Trong nghiên cứu này, giới hạn phát
hiện, giới hạn định lượng của Salbutamol tương ứng là 1,30 ppm và 4,33 ppm; RSD
là 1,31%.
Trong một bài báo khác, Tianshu Zhou và các cộng sự đã ứng dụng phương
pháp điện di mao quản sử dụng detector đo dòng (CE-AD) để xác định Adrenalin,
Salbutamol và Salmeterol trong huyết thanh [21]. Trong công trình nghiên cứu này,
các tác giả đã sử dụng đệm photphat 0,06 mol/l ở pH = 5,5 với thế áp vào hai đầu
mao quản là 12 kV và thời gian bơm mẫu là 8 s. Phương pháp có độ chính xác khá
tốt với hiệu suất thu hồi trong khoảng 92,2 † 99,5%, RSD < 4,71%.
Fabiana S. Felix và các cộng sự [15] sử dụng phương pháp điện di mao quản
tích hợp detector đo độ dẫn không tiếp xúc (CE-C4D) để tách và định lượng
Salbutamol có trong các sản phẩm thuốc dạng xirô với thành phần dung dịch đệm là

Nguyên tắc của phương pháp dựa trên sự phân bố chất tan khi giữa hai pha
không trộn lẫn, thường là các dung môi hữu cơ và nước [7].
Sự lựa chọn các dung môi hữu cơ phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Dung môi phải không trộn lẫn với nước.

23


- Các chất cần tách phải hòa tan trong dung môi này và khả năng hòa tan
trong dung môi phải lớn hơn trong nước.
- Tỷ trọng của dung môi này phải lớn hơn nước khi chiết rút được tách ra
trong phễu chiết hoặc một dụng cụ tách chiết liên tục chất lỏng – chất lỏng, ngược
lại dung môi phải có tỷ trọng nhỏ hơn nước khi sự tách chiết vi phân trong bình
thủy tinh nhỏ.
Phụ thuộc vào sự trộn lẫn của mẫu chất lỏng với dung môi, các chất cần tách
sẽ hòa tan vào trong dung môi chiết.Hệ số phân bố sẽ tương ứng tỷ lệ của các chất
hòa tan trong dung môi theo các công thức:
P = Cdung môi/Cnước
Vì P không phụ thuộc vào tỷ lệ thể tích và là hằng số ở nhiệt độ nhất định
nên khi tăng thể tích dung môi chiết thì lượng chất hòa tan vào chúng sẽ tăng. Trong
trường hợp thể tích dung môi chiết không thay đổi, chia nhỏ và chiết nhiều lần cũng
sẽ tăng hiệu quả của quá trình tách chiết.
Yung Yang và các cộng sự [25] đã dùng phương pháp sắc ký lỏng hai lần để
tách và xác định Salbutamol, Salmeterol và Atenololby sau khi chiết lỏng lỏng. Độ
thu hồi chất phân tích từ 82-90% trong các mẫu nước tiểu. Tác giả lấy 2 hoặc 3 ml
nước tiểu điều chỉnh về pH 6,0 bằng ammonium acetat 200 mM, sau đó lắc xoáy
đều, đun nóng đến 550C trong 2 giờ rồi làm nguội đến nhiệt độ phòng. Cuối cùng,
dịch chiết được bơm vào cột HILIC (cột sắc kí lỏng ưa nước) để định lượng.
Phương pháp đã đạt được giới hạn phát hiện và định lượng lần lượt nằm trong
khoảng 0,12 † 0,27 ppm và 0,24 † 0,90 ppm. Tuy nhiên, việc chiết lặp hai lần tốn

Khi xử lý mẫu, dung dịch phân tích được dội lên cột chiết, pha tĩnh sẽ tương
tác với các chất trong dung dịch phân tích và giữ một nhóm chất phân tích lại trên
cột (trên pha tĩnh), còn các nhóm chất khác sẽ đi ra khỏi cột cùng với dung môi hoà
tan mẫu và khi đó nhóm chất cần phân tích sẽ được thu lại trên pha tĩnh (chất chiết
rắn). Sau đó dùng một dung môi thích hợp hoà tan tốt các chất phân tích để rửa giải
chúng ra khỏi pha tĩnh (cột chiết) sẽ thu được dung dịch có chất phân tích để xác
định theo một phương pháp phân tích công cụ đã chọn.
Theo đặc điểm và bản chất của sự chiết, các chất chiết pha rắn được chế tạo
và phân chia theo các loại chất:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status