Giới thiệu một số di tích lịch sử huyện Đông Triều- Quảng Ninh - Pdf 42

một số di tích lịch sử huyện đông triều
Đền Lê Chân:
Đền Lê Chân thuộc thôn An Biên xã Thuỷ An- Đông Triều- Quảng Ninh, đây là nơi
thờ nữ tớng Lê Chân.
Bà Lê Chân sinh ngày 08 tháng 02 năm (Âm lịch) tại làng Vẻn- nay là thôn An Biên
xã Thuỷ An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Bà là ngời con gái có nhan sắc và tài
giỏi, thủa ấy bà 18 tuổi, giặc Đông Hán sang cớp nớc ta, chúng ra sức áp bức bóc lột.
Tên tớng giặc Tô Định đòi lấy bà Lê Chân làm tì thiếp nhng bà không chịu, Tô Định liền
giết ông Lê Đạo (ngời sinh ra bà).
Không chịu đợc cảnh đó, bà đã cùng một số bà con dân làng vợt sông đi tìm nơi dựng
làng mới, sau gọi là An Biên Trang (tiền thân của thành phố Hải Phòng ngày nay). Tại
đây bà tự nghĩa mộ nhân tài chuẩn bị lực lợng chống quân đô hộ nhà Hán. Tháng 3 năm
40, ở Châu Phong, Hai Bà Trng phất cờ khởi nghĩa, bà Lê Chân cùng nghĩa quân kịp thời
hởng ứng cùng với nghĩa quân của các tớng lĩnh khác đã phá tan phủ Luy Lâu 65 thành
trì, quét sạch quân Đông Hán ra khỏi bờ cõi. Giặc tan, Bà Trng đợc trăm họ suy tôn làm
vua. Nữ tớng Lê Chân đợc tấn phong Thánh Chân công chúa , đợc nhà vua giao
trọng trách Trởng quản binh quyền, thống lĩnh toàn bộ quân đội.
Đến năm 43 Mã Viện đem hàng vạn quân sang trả thù, Nữ tớng Lê Chân và các t-
ớng lĩnh khác đánh cho địch nhiều thiệt hại lớn. Song lực lợng địch đông lại thạo nghề
chinh chiến, bà Lê Chân đã đa một đạo quân phá vòng vây của giặc chạy về lập căn cứ
cố thủ ở rừng núi Lạt Sơn (huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) tìm cách kháng chiến lâu
dài. Trong một trận chống trả quyết liệt nhng thế giặc mạnh, bà đã anh dũng hi sinh tại
chân núi Dát Dâu để bảo toàn khí tiết của mình.
Sự nghiệp của nữ tớng Lê Chân đời đời bất diệt, bà là ngời phụ nữ Việt Nam kiên
cờng bất khuất với ý chí khát vọng độc lập tự do, là niềm tự hào của phụ nữ Việt Nam,
của dân tộc Việt Nam.
Với đạo lý uống nớc nhớ nguồn, để đền đáp công lao to lớn của Bà, nhân dân làng
An Biên- Thuỷ An đã xây dựng đền thờ bà tại quê nhà, nơi bà đã sinh ra. Trải qua nhiều
năm bị giặc tàn phá, ngôi đền nơi đây chỉ còn là phế tích hoang tàn. Đến năm 1993, cán
bộ, nhân dân địa phơng và khách thập phơng đã công đức tiền của, sức lực nên ngôi đền
Lê Chân đã đợc xây dựng lại, lễ khánh thành đền và khai hội đầu tiên đợc tổ chức trang

4. Trần Minh Tông 1314- 1329) 8. Trần Giản Định (1407- 1409)
Và nơi đây còn thờ vị anh hùng tài giỏi kiệt xuất Trần Hng Đạo.
Di tích lịch sử văn hoá thời Trần do ngời xa xây dựng và ngày nay con cháu tôn
tạo để biểu thị sự tôn kính đối với các vị có công lao to lớn trong lịch sử, niềm tự hào về
dân tộc mình và thể hiện truyền thống uống nớc nhớ nguồn, đây là việc làm có ý nghĩa
vô cùng sâu sắc.
Đệ tứ chiến khu (Chiến khu trần Hng đạo):
1 . Sự ra đời của Đệ tứ chiến khu:
Cuối năm 1939, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, thực dân Pháp tăng cờng vơ
vét nhân lực, vật lực của nớc ta phục vụ cho lợi ích của chúng. Nghệ thuật chỉ đạo xây
dựng căn cứ địa của Đảng trong Cách mạng tháng Tám là xây dựng căn cứ ở nông thôn
miền núi rồi tiến dần về đồng bằng. Từ căn cứ địa: Cao- Bắc- Lạng (Đệ nhất chiến khu)
Thái- Tuyên- Hà (Đệ nhị chiến khu)
Hoà- Ninh- Thanh (Đệ tam chiến khu)
Đến Đệ tứ chiến khu vùng duyên hải Đông Bắc là Hải Dơng- Quảng Yên- Kiến An- Hải
Phòng, Hải Ninh cũ (Chí Linh, Đông Triều, Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Cẩm
Giàng, Vĩnh Bảo). Đệ tứ chiến khu ra đời là phù hợp với ý đồ của Đảng.
Tháng 4/1945 tại Hội Xuyên (Gia Lộc- Hải Dơng), tỉnh uỷ lâm thời Hải Dơng họp
hội nghị lần thứ II có xứ uỷ Bắc kì Trần Đức Thịnh tham dự. Trong hội nghị, Trần Cung
(giáo C), Hải Thanh phân tích tình hình cách mạng ở Chí Linh, Đông Triều và đề nghị
thành lập chiến khu, đợc hội nghị đồng ý. Họp xong, Trần Đức Thịnh, Trần Cung, Hải
Thanh vào Chí Linh, Đông Triều thị sát tình hình sau đó họ họp thống nhất những vấn
đề cụ thể cho việc thành lập Đệ tứ chiến khu (chiến khu Trần Hng Đạo). ở Trung ơng,
Đảng phân công Lê Thanh Nghị trực tiếp phụ trách thành lập chiến khu.
Chiến khu Trần Hng Đạo gồm dải đất rộng lớn cả một vùng duyên hải, ban lãnh
đạo lấy Đông Triều và Chí Linh làm trung tâm và lấy chùa Bắc Mã làm đại bản doanh.
Hổ Lao (Tân Việt), Đạm Thuỷ (ThuỷAn), chùa Bắc Mã (Bình Dơng) là nơi dừng chân
của lực lợng du kích và ban lãnh đạo chiến khu.
2. Tham gia c ớp Chính quyền:
Ngày 07/06/1945 ban lãnh đạo họp và quyết định quyết định đánh các đồn Chí

với tinh thần quả cảm. Song vì lực lợng quá chênh lệch, trớc sự tấn công mạnh của kẻ
thù, cán bộ du kích và nhân dân phải rút vào các hang khu vực Núi Canh để cố thủ tìm
cách bám trụ chiến đấu đến cùng. Giặc Pháp đã man rợ hun khói và ớt bột bịt các cửa
hang chặn đờng rút lui của quân ta, 106 cán bộ du kích và nhân dân đã hi sinh anh dũng
trong đó một số ngời đã đợc xác định danh tính còn lại 73 ngời không xác định đợc tên
tuổi quê quán nên đã đợc nhân dân chôn chung. Vì vậy hang này đợc mang tên là hang
73 để ghi lại dấu ấn vô cùng đau xót và là bản án tố cáo tộc ác của thực dân Pháp xâm l-
ợc.
Đền Lê Chân:
Đền Lê Chân thuộc thôn An Biên xã Thuỷ An- Đông Triều- Quảng
Ninh, đền thờ nữ tớng Lê Chân (đây là nơi sinh của bà). Bà Lê Chân là ngời
phụ nữ tài giỏi đã có công giúp Hai Bà Trng quét sạch quân Đông Hán ra
khỏi bờ cõi và đợc phong Thánh Chân công chúa , đợc Trng Vơng giao
chức Tr ởng quản binh quyền thống lĩnh toàn bộ quân đội. Đền Lê Chân đ-
ợc xây dựng lại vào năm 1993 và khánh thành mùa xuân năm 1994. Năm
2002 xây dựng tiếp tợng bà Lê Chân tay cầm thanh kiếm hớng về phía Đông
bắc thể hiện khí phách kiên cờng của nữ tớng tài giỏi
Đền Sinh .
Đền Sinh đợc xây dựng tại xã An Sinh- Đông Triều, đây là nơi thờ 8 vị
vua Trần. Ngày 20/11/1997, huyện Đông Triều vinh dự đợc đảm nhận triển
khai tôn tạo di tích lịch sử văn hoá đền Sinh. Trải qua 34 tháng thi công,
ngày 17/09/2000 tức ngày 20/8 (Âm lịch) khu di tích đền Sinh đã hoàn
thành.
Đền Sinh đợc quy hoạch trên diện tích gần 11 hécta bao gồm khu đền
chính và khu vờn cây ăn quả. Từ phế tích, chúng ta đã tôn tạo nên một ngôi
đền lớn gồm ba lớp: Bái đờng 5 gian, lớp giữa 3 gian, hậu cung 7 gian. Trong
đền thờ 8 vị vua Trần (Bát vị vua Trần)
1.Trần Thái Tông (1225-1258) 5. Trần Hiến Tông (1329-
1341)
2. Trần Thánh Tông (1258- 1278) 6. Trần Dụ Tông (1341- 1369)

chiến khu Trần Hng Đạo đợc treo trang trọng, rồi ảnh các đồng chí lãnh đạo
Đảng từ những năm 30 hoạt động ở Đông Triều. Tiếp theo là ảnh chụp các
đình chùa, mỏ than, núi rừng (đình Hổ Lao, chùa Bắc Mã, chùa Ngọc Thanh,
đồn Cao, Trại Lốc ) nơi hoạt động của chiến khu Đông Triều . ảnh chụp các
đội chiến sĩ, du kích của Đệ tứ chiến khu. Các pa nô, các bài báo đăng lời kêu
gọi, chơng trình Việt minh, phơng hớng hoạt động của Đệ tứ chiến khu.
Hiện vật có nhiều thứ nh: Đồ dùng của các đồng chí lãnh đạo chiến khu
(áo nhà s, cờ, đèn đất, nghiên mực, nồi nấu cơm, bi đông đựng nớc, bao đựng
gạo ), nhiều vũ khí quân và dân ta đã sử dụng trong chiến đấu (quả đạn,
thanh kiếm quất, trục bánh xe đại liên, lựu đạn, lỡi mác, dao găm, súng, mã
tấu, kiếm, chông ) và các cờ, bằng Nhà n ớc trao tặng cho chiến khu và nhân
dân Bắc Mã. Ngoài ra còn có các sơ đồ, lợc đồ về chiến khu Trần Hng Đạo
và các di tích Lịch sử văn hoá- Cách mạng Đông Triều.
Bên cạnh đó còn lu giữ các hiện vật về thành quả đấu tranh chống Mĩ
của nhân dân Đông Triều (súng đạn, xác máy bay). Tiếp đó lá các ảnh về quê
hơng Đông Triều trong thời kì đổi mới. ảnh ngày 08/06/1992 đại tớng Võ
Nguyên Giáp về thăm Đông Triều và đợc đồng chí Nguyễn Quang Nhạ- Bí
th huyện Đông Triều trao kỉ niệm chơng danh dự.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status