ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH …………
------------------------------
ĐỀ ÁN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮTRONG CÁC
CƠ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIAI ĐOẠN
2016-2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025
.................... - NĂM 2017
1
Các chữ viết tắt
CEFR:
GDĐT:
GDTX:
GVG:
GVTA:
HS:
KK:
KNLNN:
NNQG:
NN1:
NN2:
SGK:
TBM:
TH:
THCS:
(Tên tỉnh), ngày
DỰ THẢO
……………….
tháng năm 2017
ĐỀ ÁN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ TRONG CÁC
CƠ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIAI ĐOẠN 2016-2020, ĐỊNH HƯỚNG
ĐẾN NĂM 2025
Phần thứ nhất
SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I. SỰ CẨN THIẾT
(Tên tỉnh) có 27 huyện, thị xã, thành phố, diện tích tự nhiên 11.131,94
km2, dân số 3.412.566 người; có 7 dân tộc anh em sinh sống, đó là: Kinh,
Mường, Thái, H’mông, Dao, Thổ, Hoa. Dân số trong độ tuổi lao động có khoảng
2,16 triệu người, chiếm tỷ lệ 63,2 % dân số toàn tỉnh. Nguồn lao động của (Tên
tỉnh) tương đối trẻ, có trình độ văn hoá khá cao. Lực lượng lao động đã qua đào
tạo chiếm 27%, trong đó lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm
5,4%. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều cơ chế, chính sách
để phát triển giáo dục đào tạo, đặc biệt quan tâm đến phát triển ngoại ngữ. Công
tác dạy và học ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục và đào tạo trên địa bàn
tỉnh đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: ngoại ngữ (tiếng Anh) đã và đang
được triển khai giảng dạy từ lớp 3 đến lớp 12; đội ngũ giáo viên ngoại ngữ đạt
trình độ chuẩn và trên chuẩn cao; cơ sở vật chất trường, lớp học, thiết bị giáo dục
được tăng cường;
Đề án: “Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục giai
đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025” trên địa bàn tỉnh.
II. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015-2020.
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh .................... lần thứ XVIII nhiệm kỳ
2015-2020.
- Luật Giáo dục năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Giáo
dục (Nghị định 75/CP, Điều lệ trường học, Quy chế về tổ chức và hoạt động của
các cơ sở giáo dục- đào tạo...).
- Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2008 của Thủ tướng
Chính phủ về phê duyệt Đề án “ Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục
quốc dân giai đoạn 2008-2020”.
- Quyết định số 66/QĐ-BGDĐT ngày 02 tháng 12 năm 2008 của Bộ
trưởng Bộ GDĐT về việc quy định Chương trình giáo dục thường xuyên về tiếng
Anh thực hành.
- Kế hoạch số 855/KH-BGDĐT ngày 03/12/2010 của Bộ GD&ĐT về việc
tham gia thực hiện Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân
giai đoạn 2008-2020 của chương trình phát triển giáo dục trung học;
- Quyết định số 3321/QĐ-BGDĐT ngày 12 tháng 8 năm 2010 của Bộ
trưởng Bộ GDĐT về việc ban hành Chương trình thí điểm tiếng Anh tiểu học.
- Quyết định số 01/QĐ-BGDĐT ngày 3 tháng 1 năm 2012 của Bộ trưởng
Bộ GDĐT về việc phê duyệt Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Anh
thí điểm cấp THCS.
- Quyết định số 5209/QĐ-BGDĐT ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Bộ
trưởng Bộ GDĐT về việc phê duyệt Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng
Anh thí điểm cấp THPT.
4
ngoài công lập; 8 trường THPT ngoài công lập.
Toàn tỉnh có 17.895 lớp với 563.029 học sinh, trong đó cấp Tiểu học có
10.124 lớp với 275.897 học sinh; cấp THCS có 5.532 lớp với 192.030 học sinh;
cấp THPT có 2.239 lớp với 95.102 học sinh. Hiện nay, ngoại ngữ được dạy chủ
yếu là tiếng Anh, chỉ có trường THPT Chuyên Lam Sơn có 03 lớp học Tiếng
Nga (94 học sinh), 03 lớp học Tiếng Pháp (104 học sinh) với tổng số 198 học
sinh (chiếm 0,2% số học sinh THPT). (Phụ lục 1)
2. Chương trình dạy học
2.1. Chương trình dạy học bằng tiếng Anh
Cấp Tiểu học đang học theo chương trình tiếng Anh tự chọn (2 tiết/tuần)
theo quy định của Bộ GD&ĐT. Năm học 2010-2011, tỉnh .................... mới bắt
đầu dạy thí điểm Tiếng Anh cấp Tiểu học theo chương trình mới từ lớp 3 ở các
huyện: Đông Sơn, Hà Trung, Hậu Lộc, Quảng Xương, TP. .................... với số
lượng 22 lớp theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT. Năm học 2016-2017, trên 22 đơn vị
huyện, thị xã, thành phố đã triển khai chương trình tiếng Anh 10 năm cấp Tiểu
học theo Đề án NNQG 2020.
Đối với chương trình dạy học tiếng Anh cấp THCS và THPT: Từ năm học
2013-2014 trên địa bàn tỉnh chỉ còn 2 chương trình: Chương trình dạy học tiếng
Anh 7 năm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Chương trình dạy học tiếng Anh 10 năm theo
Quyết định số 01/QĐ-BGDĐT ngày 03/1/2012 và Quyết định số 5902/QĐBGDĐT ngày 23/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Năm học 2016-2017, trên 21 đơn vị huyện, thị xã, thành phố đã triển khai
chương trình tiếng Anh 10 năm cấp THCS theo Đề án NNQG 2020 đến. Riêng
đối với cấp THPT chỉ mới triển khai dạy học chương trình Tiếng Anh 10 năm
đối với 8 trường THPT trên địa bàn tỉnh.
2.1. Chương trình dạy học bằng tiếng Nga, tiếng Pháp
6
Trên địa bàn tỉnh chỉ có trường THPT Chuyên Lam Sơn dạy chương trình
Giáo
Giáo
Giáo
Giáo
viên
học
viên
viên
viên
viên
viên
viên
viên
đạt
dự
đạt
đạt
đạt
đạt
đạt
không
trình
khảo
trình
trình
trình
trình
trình
đạt trình
độ
589
245
153
100
THPT
511
0
2
104
340
41
16
8
TH
Sau khảo sát phân loại trình độ sử dụng năng lực ngoại ngữ, đội ngũ giáo
viên tiếng Anh đã liên tục được tham gia các lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực
Quy mô học ngoại ngữ trong các cơ sở GDTX ngày càng phát triển và mở
rộng, cả về số lượng học viên cũng như các trung tâm/cơ sở dạy và học ngoại
ngữ không chính quy. Hiện nay các cơ sở GDTX rất đa dạng, tuy nhiên có thể
phân thành 2 loại hình như sau:
- Các cơ sở GDTX công lập: Hiện nay trên địa bàn tỉnh .................... có 27
trung tâm GDTX cấp huyện, thị xã, thành phố. Số học viên học bổ túc văn hóa
THCS và bổ túc văn hóa THPT ngày càng tăng. Ngoại ngữ là môn khuyến khích
cho học viên ở các lớp bổ túc THCS hoặc bổ túc THPT. Do đó, nhiều trung tâm
8
GDTX còn mở các lớp học ngoại ngữ buổi tối cho những người có nhu cầu.
Tổng số học viên học tiếng Anh tại các trung tâm là: 2780 học viên
- Các cơ sở/ trung tâm ngoại ngữ: Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có 37
Trung tâm ngoại ngữ, Ngoại ngữ - Tin học đang hoạt động. Hiện nay, tại các
trung tâm này có 475 lớp học ngoại ngữ, trong đó: lớp tiếng Anh có 461 lớp; lớp
tiếng Nhật có 10 lớp; lớp tiếng Hàn có 4 lớp. Tổng số học viên là 7736 học viên,
trong đó có 7436 học viên học tiếng Anh; 150 học viên học tiếng Nhật; 150 học
viên học tiếng Hàn.
2. Chương trình dạy học
- Chương trình sách giáo khoa: Trong các trung tâm GDTX, ngoại ngữ
được dạy với tư cách là môn học khuyến khích ở các lớp bổ túc THCS với tổng
số tiết cho cả 4 lớp (từ lớp 6 đến lớp 9) là 352 tiết (THCS chính quy là 385 tiết).
Đối với bổ túc THPT, tiếng Anh cũng được coi là môn học khuyến khích. Hiện
nay, các trung tâm trên địa bàn tỉnh tùy theo điều kiện đều lựa chọn dạy học
tiếng Anh theo một trong các chương trình sau:
- Chương trình tiếng Anh bổ túc THPT cũ với tổng số tiết cho cả 3 lớp là:
256 tiết tương đương chương trình học tiếng Anh THPT cũ (297 tiết).
- Chương trình tiếng Anh hệ 7 năm
túc THCS, bổ túc THPT không được học ngoại ngữ vì không phải môn học bắt
buộc. Điều này hạn chế khả năng hòa nhập của các em vào THPT chính quy
hoặc học lên đại học. Một số học sinh không được học ngoại ngữ ở THCS rất
khó có điều kiện học tiếp theo chương trình tiếng Anh ở bậc THPT chính quy.
Chất lượng dạy học ngoại ngữ ở các cơ sở GDTX còn thấp so với yêu cầu,
quy định của Bộ GD&ĐT về chứng chỉ A, B, C, chưa đáp ứng được yêu cầu của
người học, của xã hội. Nhiều người học đi học lại mà không hiệu quả, nhiều
người có chứng chỉ ngoại ngữ A, B, C nhưng năng lực lại không tương xứng.
III. Thực trạng dạy học ngoại ngữ trong các trường Cao đẳng, trung
cấp chuyên nghiệp và dạy nghề
1. Quy mô dạy và học ngoại ngữ
Toàn tỉnh có 16 trường Cao đẳng và trung cấp, tổng số lớp học ngoại ngữ
năm học 2016 - 2017 là 236 lớp với 5.607 HSSV.
Môn học tiếng Anh là môn học chung bắt buộc đối với hệ Trung cấp và 120
tiết cho hệ Cao đẳng. Tuy nhiên, hầu hết HSSV chỉ chú tâm học để đủ điểm, không
đầu tư nhiều thời gian để rèn luyện các kỹ năng (Nghe, Nói, Đọc, Viết) nên chất
lượng chưa đạt yêu cầu đề ra.
2. Chương trình dạy học
Chương trình khung về ngoại ngữ do Bộ GDĐT quy định là 60 - 120 tiết,
tùy theo hệ tuyển và thời gian đào tạo. Trên cơ sở chương trình khung, các
trường tự xây dựng sách giáo khoa cho từng ngành nghề đào tạo phù hợp với
từng điều kiện cụ thể của các trường. Tuy nhiên, trong thực tế, chương trình
ngoại ngữ hiện tại chỉ đáp ứng các mục đích sau:
- Trang bị kiến thức ngữ pháp cơ bản
- Cung cấp kiến thức cơ bản phục vụ giao tiếp hàng ngày.
- Đọc tài liệu chuyên môn đơn giản
- Đáp ứng yêu cầu về thi tuyển công chức.
3. Đội ngũ giáo viên
10
CĐ, ĐH.
Hiện chưa có giáo trình ngoại ngữ không chuyên chung cho các trường.
Hầu hết các trường đều tự biên soạn chương trình và giáo trình cho phù hợp với
điều kiện cụ thể của từng trường
3. Đội ngũ giáo viên
Đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ trong các trường Đại học là: 128 giáo
viên trong đó có 2 giáo viên tiếng Pháp; 2 giáo viên tiếng Trung Quốc. Các giáo
viên đều có trình độ sư phạm hoặc được bồi dưỡng sư phạm. Đa số giáo viên
11
ngoại ngữ là cán bộ trong biên chế hoặc là đội ngũ cơ hữu của trường (Phụ lục
6).
4. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ngoại ngữ
Trang thiết bị dạy ngoại ngữ ở các trường Đại học được quan tâm đầu tư ,
hệ thống các phòng học khang trang, đáp ứng được nhu cầu người học.
Thư viện trang bị giáo trình, tài liệu tham khảo các trường đảm bảo, đầu tư
mua sắm mới giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy với 5.250 đầu sách (132.313
cuốn tiếng Việt, 3.777 cuốn ngoại văn), 48.155 số báo tiếng Việt, 4.900 số báo
ngoại văn, 162 đĩa CD cơ sở dữ liệu trong và ngoài nước.
5. Chất lượng dạy học ngoại ngữ
Chất lượng dạy và học ngoại ngữ ở các trường Đại học đã và đang được
quan tâm, đáp ứng nhu cầu của xã hội, người học; các cơ sở đào tạo đã thực hiện
việc đổi mới dạy học ngoại ngữ trong chương trình giảng dạy với nội dung,
chương trình đào tạo phù hợp với các trình độ, ngành nghề dào tạo, góp phần
tích cực trong việc nâng cao trình độ ngoại ngữ cho HSSV.
Đối với trường Đại học Hồng Đức: Tính đến năm 2015, nhà trường đã đào
tạo được hơn 8.000 sinh viên đạt trình độ tiếng Anh chuẩn đầu ra theo định
hướng TOEIC. Năm 2016, theo quy định mới của Bộ GD & ĐT, trường đã
chuyển đổi sang dạy học tiếng Anh theo khung NLNNVN và đã đào tạo được
lực lượng lao động.
2. Về nhận thức, thái độ của người dạy và người học
- Hầu hết người dạy, người học nhìn nhận ngoại ngữ là một môn kiến
thức, chứ không phải môn học ngôn ngữ cần quá trình thực hành, tập luyện để
đạt được kỹ năng sử dụng ngôn ngữ.
- Việc dạy và học ngoại ngữ vẫn chỉ tập trung cho việc thi đỗ môn học mà
ít quan tâm đến việc sử dụng ngoại ngữ như một công cụ giao tiếp, làm việc.
3. Về phương pháp dạy học ngoại ngữ
- Giáo viên vẫn là trung tâm của quá trình giảng dạy, điều đó có nghĩa là
người học vẫn là đối tượng thụ động tiếp thu tri thức, làm theo yêu cầu của giáo
viên, ít có sự sáng tạo trong sử dụng kiến thức được học.
- Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên ngoại ngữ không đồng
đều, khả năng nghe, nói, giao tiếp, sử dụng ngoại ngữ của giáo viên còn rất
nhiều hạn chế, thiếu kinh nghiệm dạy học sát đối tượng học sinh; số giáo viên
cốt cán, giáo viên giỏi còn ít nên việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học
đạt hiệu quả thấp. Một bộ phận giáo viên Tiếng Anh được đào tạo ở loại hình
không chính quy (tại chức, văn bằng 2, vừa học vừa làm vv...).
4. Về điều kiện dạy học ngoại ngữ
- Chương trình sách giáo khoa còn nhiều bất cập: chưa có chương trình
SGK chung đối với các trường Đại học, Cao đẳng; chương trình SGK phổ
thông 7 năm thiếu tính liên thông về thực hành các kỹ năng, chưa cập nhật,
không đa dạng về chủ đề để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người học.
- Thời lượng dành cho môn ngoại ngữ còn ít, sĩ số học sinh trên lớp
đông, không phù hợp với việc tổ chức các hoạt động lôi cuốn và hiệu quả
trong giờ học.
- Trang thiết bị phục vụ cho việc học ngoại ngữ còn thiếu thốn, đặc biệt
là máy chiếu, video, phòng luyện âm/thực hành tiếng.
13
2.1. Nguyên nhân khách quan
2.1.1. Sự phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng miền còn có sự chênh
lệch đáng kể, một số khu vực đặc biệt là khu vực miền núi xa điều kiện kinh tế
khó khăn dẫn đến sự quan tâm về học tập nói chung, học ngoại ngữ nói riêng còn
hạn chế.
2.1.2. Nhu cầu nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ngày càng cao,
trong khi đó khả năng đáp ứng của ngân sách Nhà nước và ngân sách của tỉnh
còn hạn chế. Kinh phí chi thường xuyên cho các đơn vị, trường học còn ít, khó
khăn trong việc tổ chức hoạt động chuyên môn, đặc biệt là các hoạt động phục
vụ dạy học ngoại ngữ.
14
2.1.3. Đội ngũ giáo viên ngoại ngữ vừa thừa, vừa thiếu cục bộ ở hầu hết
các cấp học, đặc biệt là ở những địa phương khó khăn, xa xôi, hẻo lánh. M ột
số huyện có hiện tượng giáo viên ngoại ngữ phải dạy liên trường.
2.1.4. Trình độ chuyên môn và năng lực ngôn ngữ của đội ngũ giáo viên
tiếng Anh chưa đồng đều. Một bộ phận đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ của
tỉnh chưa đạt chuẩn theo yêu cầu của Bộ GDĐT, còn yếu kém về năng lực
chuyên môn, lạc hậu về phương pháp giảng dạy.
2.1.5. Hình thức kiểm tra đánh giá về ngoại ngữ còn chưa tương thích
với quá trình dạy học, chủ yếu là trắc nghiệm 2 kĩ năng (dạy 4 kĩ năng, thi 2
kĩ năng) nên có sự đối phó trong dạy học, dạy học chủ yếu về điểm số. Ở cấp
THPT, việc đánh giá ở kì thi THPT quốc gia chủ yếu kiểm tra kiến thức
ngôn ngữ (ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm), nên giáo viên cấp THPT phải tập
trung giảng dạy kiến thức ngôn ngữ theo yêu cầu của kì thi.
2.1.6. Việc tổ chức dạy học theo hình thức phân ban dẫn tới tình trạng
học lệch, học tủ của học sinh, học sinh chỉ chọn và tập trung học những môn
học theo khối để thi Đại học, nhiều em học sinh không quan tâm nhiều hoặc
không có động cơ đối với việc học tập môn ngoại ngữ. Trong kì thi tốt
vì đa số người học cho rằng ngoại ngữ (tiếng Anh) là ngôn ngữ nước ngoài, việc
học tập ngoại ngữ chỉ mang tính chất tạm thời không phải là ngôn ngữ cần thiết
để sử dụng cho công việc hoặc giao tiếp hàng ngày.
16
Phần thứ ba
MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
GIAI ĐOẠN 2016-2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2025
I. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
Nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ một cách đồng bộ và hệ thống
trong các cơ sở giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh; triển khai chương trình dạy
và học ngoại ngữ mới ở các cấp học; phấn đấu đến năm 2025, giáo viên ngoại
ngữ đạt được một bước tiến rõ rệt về năng lực chuyên môn, thành thạo cả 4 kỹ
năng nghe, nói, đọc viết theo Khung năng lực ngoại ngữ châu Âu (CEFR) và
Khung năng lực 6 bậc của Việt Nam; đa số học sinh tốt nghiệp THPT có đủ năng
lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp trong học tập, làm việc
trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hoá.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1. Giáo dục phổ thông:
Tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ theo chương
trình 7 năm hiện hành (từ lớp 6 đến hết lớp 12); triển khai thực hiện chương trình
giáo dục 10 năm bắt đầu từ lớp 3 môn ngoại ngữ bắt buộc theo lộ trình dự kiến:
- Cấp Tiểu học: tiếp tục triển khai chương trình tiếng Anh mới 10 năm và
mở rộng dần quy mô để đạt 80% số học sinh Tiểu học học theo chương trình mới
từ năm học 2020-2021.
- Cấp THCS: triển khai dạy chương trình mới từ lớp 6 với khoảng 70 % số
học sinh THCS được học theo chương trình mới vào năm 2020-2021.
phòng dạy học ngoại ngữ, trang thiết bị dạy học ngoại ngữ và học liệu ngoại ngữ
tối thiểu.
- Đối với cán bộ, công chức, viên chức (có chuyên môn đào tạo không
phải là ngoại ngữ): Phấn đấu có tỉ lệ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ
sở giáo dục có trình độ tiếng Anh từ B1 trở lên đạt 10% vào năm 2020.
II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền, tạo bước
phát triển mạnh mẽ đối với công tác dạy và học ngoại ngữ đến năm 2025
Các cấp uỷ Đảng, chính quyền quán triệt sâu sắc các quan điểm, chính
sách của Đảng về công tác dạy và học ngoại ngữ, trên cơ sở đó có chủ trương
phù hợp để lãnh đạo, chỉ đạo công tác dạy và học ngoại ngữ ở cơ sở, làm thay
đổi nhận thức của các cấp, các ngành đối với công tác dạy học ngoại ngữ. Đặc
biệt phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị để nâng cao chất lượng dạy và
học ngoại ngữ; triển khai thực hiện Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30/9/2008
của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong
hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”, tạo ra phong trào thi đua học
tập ngoại ngữ, phát triển mạnh mẽ về chất lượng dạy và học ngoại ngữ trên địa
bàn tỉnh.
2. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dạy
và học ngoại ngữ
Tăng cường tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức toàn xã hội về tầm
quan trọng của ngoại ngữ trong thời kỳ hội nhập, giúp cho người dạy, người học
hiểu rõ các yêu cầu, mục tiêu mới của việc dạy học ngoại ngữ và thay đổi các
nhận thức, hành vi chưa đúng (trong quản lý, giảng dạy, học tập) đối với việc
dạy và học ngoại ngữ (dạy học chạy theo điểm số, đối phó thi cử, dạy chay, học
lệch,…).
18
Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục truyền thống và
ngữ.
- Tổ chức các cuộc giao lưu, thi Olympic tiếng Anh, thi hát, nói, nghe, viết
tiếng Anh, mở các câu lạc bộ tiếng Anh trong các nhà trường.
4. Xây dựng, tăng cường đội ngũ giáo viên ngoại ngữ
4.1. Triển khai Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiếng Anh
dạy ở các cấp Tiểu học, THCS và THPT đạt chuẩn về KNLNN 6 bậc theo quy
định của Đề án NNQG 2020.
19
Tổ chức triển khai các lớp bồi dưỡng giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ,
bồi dưỡng đạt chuẩn chính quy cho những giáo viên tốt nghiệp loại hình tại chức
và các lớp bồi dưỡng khác theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT. Có chính sách khuyến
khích giáo viên ngoại ngữ tự học, tự bồi dưỡng đạt chuẩn KNLNN theo quy
định.
Tăng cường đầu tư để nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo của Trung
tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, Khoa Ngoại ngữ của trường Đại học Hồng Đức
và các trường Đại học khác đóng trên địa bàn tỉnh để trở thành những đầu mối
đào tạo, liên kết đào tạo; thực hiện việc kiểm tra, liên kết để kiểm tra, đánh giá
trình độ, năng lực ngoại ngữ của giảng viên, giáo viên và học sinh, sinh viên của
tỉnh.
4.2. Đảm bảo đội ngũ giáo viên tiếng Anh đủ về số lượng, có trình độ cao,
hợp lý về cơ cấu và đa dạng về nguồn tuyển dụng. Tạo cơ chế chính sách để các
trường được bổ sung đủ số giáo viên ngoại ngữ phù hợp với lộ trình triển khai
của Đề án. Cụ thể là:
- Đối với cấp Tiểu học: Đảm bảo có đủ số lượng giáo viên cho năm học
2016-2017, sau đó hàng năm bổ sung thêm bình quân 148 giáo viên cho đến năm
2025.
- Đối với cấp THCS: Đảm bảo có đủ số lượng giáo viên cho năm học
chất lượng đào tạo các môn ngoại ngữ.
6. Nâng cao công tác quản lý dạy và học ngoại ngữ
Nâng cao năng lực tổ chức quản lý dạy học ngoại ngữ cho cán bộ quản lý
cấp Sở, Phòng GD&ĐT và trường học. Đảm bảo mỗi phòng GD&ĐT có chuyên
viên phụ trách môn tiếng Anh.
Xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán, cộng tác viên môn ngoại ngữ để hỗ
trợ Sở, Phòng GD&ĐT và các trường phổ thông để chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra
hoạt động chuyên môn ở cơ sở và tư vấn, hỗ trợ giáo viên về chuyên môn.
Tăng cường tổ chức các hoạt động chuyên môn tại trường, cụm trường,
Phòng và Sở GD&ĐT; tổ chức tốt Hội thi giáo viên giỏi môn ngoại ngữ ở các
cấp.
Xây dựng các nguồn học liệu mở trên website của Sở, Phòng GD&ĐT,
trường học kết nối như đề kiểm tra, thi, tài liệu tham khảo chuyên môn, tài liệu
bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, kém...
7. Trang bị cơ sở vật chất và thiết bị thiết yếu cho việc dạy và học ngoại
ngữ
Bổ sung, mua sắm trang thiết bị dạy và học ngoại ngữ theo danh mục
trang thiết bị phù hợp với tùng cấp học và trình độ đào tạo đúng quy định của Bộ
GD&ĐT, đảm bảo đến năm 2025 50% số trường có phòng học tiếng nước ngoài,
25% số trường THCS và THPT có phòng nghe nhìn.
Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và kỹ thuật viên nhằm sử dụng có hiệu quả
các thiết bị dạy và học ngoại ngữ, khai thác đúng mục đích các nguồn thông tin,
tư liệu nước ngoài, đặc biệt là Internet, phục vụ cho việc dạy và học ngoại ngữ.
8. Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực dạy và học ngoại ngữ
Tăng cường hợp tác quốc tế trong dạy và học ngoại ngữ: tạo cơ chế thuận
lợi khuyến khích các trường thực hiện các chương trình hợp tác, kết nghĩa, trao
đổi giáo viên, học sinh với với các tổ chức, trường học của các quốc gia bản ngữ.
Đẩy mạnh việc tìm kiếm các chương trình, nguồn học bổng về ngoại ngữ và du
học nước ngoài, tạo động cơ học tập ngoại ngữ cho học sinh và giáo viên. Mời
giáo viên tình nguyện người nước ngoài có trình độ sư phạm làm giáo viên giảng
6.792.800.000 đồng
- Tổ chức các hoạt động chuyên môn trong các nhà trường cho học sinh
(xây dựng các trường điển hình về dạy học ngoại ngữ, hoạt động ngoại khóa,
sinh hoạt các câu lạc bộ ngoại ngữ...): 4.559.750.000 đồng
- Đầu tư phòng dạy học ngoại ngữ đại trà: 29.360.000.000 đồng
3.3. Kế hoạch thực hiện Đề án Ngoại ngữ giai đoạn 2021-2025
- Hoàn thành nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh các cấp
học.
- Triển khai chương trình sách giáo khoa mới 10 năm (Phụ lục 9 ).
- Triển khai chương trình dạy học ngoại ngữ tăng cường đối với các
trường dạy nghề, Trung cấp, Cao đẳng và Đại học.
- Tiếp tục hỗ trợ xây dựng các phòng dạy và học ngoại ngữ, các phòng
nghe nhìn và đa phương tiện cho các trường học các cấp.
22
3.4. Kinh phí thực hiện
Tổng kinh phí thực hiện: 80.692.930.000 đồng, gồm các chương trình:
- Bồi dưỡng giáo viên đạt chuẩn, nâng chuẩn năng lực ngoại ngữ cấp TH,
THCS và THPT: 9.280.000.000 đồng
- Bồi dưỡng cập nhật phương pháp giảng dạy cho giáo viên cấp TH,
THCS, THPT: 15.760.000.000 đồng
- Đào tạo, bồi dưỡng trong nước giáo viên cốt cán cấp TH, THCS và
THPT: 2.099.650.000 đồng
- Đào tạo, bồi dưỡng ngoài nước giáo viên cốt cán cấp TH, THCS và
THPT: 4.259.980.000 đồng
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức cấp phòng GDĐT,
trường THPT: 3.810.000.000 đồng
- Bồi dưỡng giáo viên sử dụng đồ dùng, thiết bị: 1.580.750.000 đồng
- Tập huấn thực hiện giảng dạy cập nhật chương trình mới, tổ chức chuyên
việc quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện Đề án NN 2016-2020, định hướng đến
năm 2025 theo các quy định hiện hành.
4. Sở Nội vụ
Phối hợp với Sở GD&ĐT hướng dẫn việc thực hiện công tác tuyển dụng,
sử dụng và quản lý giáo viên ngoại ngữ trong các trường phổ thông theo quy
định. Đồng thời tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Bộ Nội vụ phân bổ số
lượng giáo viên ngoại ngữ theo định mức do Trung ương quy định.
5. Sở Thông tin và Truyền thông
Phối hợp với Sở GD&ĐT chỉ đạo các cơ quan thông tin, truyền thông tăng
cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội về vai trò vị trí của
ngoại ngữ trong giai đoạn hiện nay đối với việc phát triển kinh tế-xã hội của
tỉnh; sự cần thiết, tầm quan trọng của việc đổi mới dạy học ngoại ngữ trong nhà
trường, đáp ứng yêu cầu mới.
6. Sở Lao động Thương binh và Xã hội
Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, các sở, ngành tăng cường công tác
chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện Đề án NN trong lĩnh vực dạy nghề phù
hợp với lộ trình, kế hoạch triển khai chung.
24
7. Uỷ ban Nhân dân các huyện, thị xã, thành phố
Chỉ đạo các phòng GD&ĐT, các cơ quan chức năng ở địa phương xây
dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch triển khai Đề án NN 20162020, định hướng đến năm 2025 trên địa bàn; kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ
kết, tổng kết việc thực hiện Đề án NN tại địa phương, định kỳ báo cáo Uỷ ban
Nhân dân tỉnh và Sở GD&ĐT.
Phối hợp với Sở GD&ĐT và các sở, ngành liên quan cấp tỉnh để chỉ đạo
thống nhất, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu, kế hoạch chung của tỉnh việc triển
khai thực hiện Đề án này trên địa bàn.
8. Các trường Đại học trên địa bản tỉnh