DÂN TỘC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
2
1. DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
3
1.1. Khái niệm dân tộc
3
1.2. Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc
4
2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
5
2.1. Vị trí của việc giải quyết vấn đề dân tộc trong chủ nghĩa xã hội
5
2.2. Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin
7
Hiện nay, khái niệm dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa phổ biến
như sau:
Thứ nhất, dân tộc (tộc người) là một cộng đồng người có mối liên hệ
chặt chẽ và bền vững, có chung nguồn gốc, đặc điểm sinh hoạt kinh tế, có
ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, có ý thức tự giác tộc người. Ví
dụ: dân tộc Kinh (Việt), dân tộc Tày, dân tộc Thái ở Việt Nam…
Thứ hai, dân tộc (quốc gia dân tộc) là một cộng đồng người ổn định
được hình thành trong lịch sử; trên cơ sở cộng đồng về lãnh thổ, ngôn ngữ,
kinh tế, văn hoá, có chung ý thức về dân tộc và tên tự gọi của dân tộc mình.
Ví dụ: dân tộc Việt Nam (có 54 tộc người), dân tộc Trung Hoa, dân tộc Lào…
Dân tộc là cộng đồng người bao gồm nhiều thành phần, tộc người sinh
sống trong một quốc gia mang tính ổn định và có sự cấu kết bền vững. Tính
ổn định, bền vững đó được xác định trên các cơ sở: Cùng chung một lãnh thổ,
cùng nhau lao động sản xuất để phát triển. Dân tộc có chung một phương thức
sản xuất sinh hoạt kinh tế, cộng đồng về kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận,
các thành viên của dân tộc lại, tạo nền tảng vững chắc của dân tộc. Dân tộc có
3
ngôn ngữ chung làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên của cộng đồng
trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tình cảm… Dân tộc có chung một
nền văn hoá, tinh thần, phản ánh sự ổn định, bản sắc văn hoá truyền thống của
mỗi dân tộc.
Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng, không phải
ngay từ khi loài người xuất hiện là có dân tộc, mà dân tộc là sản phẩm của
quá trình phát triển lâu dài trong lịch sử loài người, khi điều kiện kinh tế xã hội phát triển đến giai đoạn nhất định thì dân tộc mới hình thành. Trước
khi cộng đồng dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức
cộng đồng từ thấp đến cao như: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc. Theo V.I.Lênin, ở
các nước phương Tây chỉ khi chủ nghĩa tư bản ra đời, cộng đồng bộ tộc
về các vấn đề: lãnh thổ, kinh tế, văn hoá, xã hội… Trong một quốc gia dân tộc
có nhiều thành phần dân tộc thì các thành phần dân tộc đều bình đẳng như
nhau, quyền bình đẳng đó phải được thể chế bằng pháp luật. Quan hệ giữa các
quốc gia dân tộc với nhau là quan hệ bình đẳng đôi bên cùng có lợi, không
can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Tuy nhiên, vấn đề dân tộc luôn gắn
liền với vấn đề giai cấp, lợi ích của giai cấp, do đó, cách thức giải quyết vấn đề
dân tộc trong các phong trào dân tộc đều mang tính giai cấp sâu sắc.
Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm nảy sinh hai xu hướng
của phong trào dân tộc trong giải quyết vấn đề dân tộc. Xu hướng thứ nhất, khi
chủ nghĩa tư bản ra đời xoá bỏ chế độ cát cứ phong kiến, hình thành một quốc
gia dân tộc độc lập, thống nhất, có một chính phủ, một hiến pháp, thị trường
thống nhất phục vụ cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, kích thích đời sống
dân tộc và các phong trào dân tộc theo hướng tư bản chủ nghĩa. Xu hướng thứ
hai, mở rộng tăng cường quan hệ kinh tế phá bỏ sự ngăn cách giữa các dân tộc
bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, trong đó có cả thủ đoạn vũ trang xâm lược thuộc
địa, đặt ách áp bức của chủ nghĩa thực dân cũ và mới lên các dân tộc thuộc địa
và phụ thuộc, chống lại các phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc, điều đó tất
yếu dẫn đến mâu thuẫn đối kháng giữa chủ nghĩa thực dân, đế quốc với các dân
tộc thuộc địa, phụ thuộc ngày càng gay gắt.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tình trạng bóc lột giai cấp dần dần được
thủ tiêu, tình trạng áp bức dân tộc cũng dần mất theo. Giai cấp công nhân, nông
dân, tầng lớp trí thức và các tầng lớp lao động khác thuộc các dân tộc trong một
quốc gia cùng làm chủ nhà nước, làm chủ xã hội. Mối quan hệ giữa các dân tộc
trong chế độ xã hội chủ nghĩa là các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự
nguyện và bình đẳng tạo điều kiện giúp đỡ nhau phát triển.
Như vậy, vấn đề dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt với tất cả các quốc
gia trên thế giới, là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp. Giải quyết đúng hay
5
tranh của giai cấp công nhân trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử
của mình, muốn hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình thì giai cấp công
nhân phải giải quyết tốt vấn đề dân tộc. Trong “Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản” Mác khẳng định: "Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải
1
C. Mác - Ph.Ăngghen: Tuyển tập, t.1, Nxb Sự thật, H.1980, tr.556.
6
giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự
mình trở thành dân tộc” 1. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chỉ có chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp
bức và giai cấp công nhân toàn thế giới” 3.
Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, là sự nghiệp của toàn thể
nhân dân lao động do giai cấp công nhân lãnh đạo, nó diễn ra hết sức gay
go quyết liệt, phức tạp lâu dài, mang tính nhân dân, tính dân tộc và tính
quốc tế sâu sắc. Giải quyết tốt vấn đề dân tộc thì sẽ xây dựng được khối đại
đoàn kết toàn dân, kết hợp được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại,
tạo ra động lực to lớn bảo đảm cho cách mạng giành được thắng lợi. Ngược
lại, nếu vấn đề dân tộc không được giải quyết tốt thì sẽ tạo ra những mâu
thuẫn, thậm chí dẫn đến xung đột trong nội bộ dân tộc, gây ảnh hưởng lớn
trong quá trình tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thực tế hiện nay,
chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề dân tộc làm
mũi nhọn để chống phá sự nghiệp cách mạng của các nước xã hội chủ
nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm, vì vậy quá trình giải
quyết vấn đề dân tộc phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân,
gắn lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp mới có đường lối chiến lược, sách
lược đúng đắn, phù hợp.
Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng là quyền thiêng liêng của các dân tộc
trong mối quan hệ giữa các dân tộc và các quốc gia dân tộc với nhau, là nội
dung, nguyên tắc cơ bản trong giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng Cộng sản.
Bởi đây là quyền khách quan vốn có mà tạo hoá ban cho các dân tộc. Hiến
pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 có ghi: đã là một dân tộc sinh ra
ai cũng có quyền tự quyết, đây là quyền tạo hoá ban cho họ. Quyền bình đẳng
của các dân tộc là quyền bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, bình đẳng trong
giải quyết các mối quan hệ về: lãnh thổ, kinh tế, văn hoá, ngoại giao…, giải
quyết các vấn đề này các dân tộc dù lớn hay nhỏ, trình độ phát triển cao hay
thấp, dù có chế độ chính trị khác nhau đều có quyền bình đẳng ngang nhau.
Mặt khác, trong một quốc gia có nhiều thành phần dân tộc, quyền bình đẳng
phải được pháp luật bảo vệ, được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội. Trong đó, việc khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn
hoá do lịch sử để lại có ý nghĩa rất quan trọng. Thực hiện quyền bình đẳng
của các dân tộc cần phê phán tư tưởng nước lớn áp đặt nước bé, tư tưởng kỳ
thị dân tộc, dân tộc lớn có tư tưởng áp đặt các dân tộc thiểu số đi theo mình,
bắt họ từ bỏ lễ nghi phong tục tập quán.
Như vậy, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết là phải thủ tiêu
tình trạng giai cấp này áp bức giai cấp khác để trên cơ sở đó xoá bỏ tình
trạng dân tộc này đặt ách nô dịch lên dân tộc khác. Đồng thời, từng bước
khắc phục tình trạng chênh lệch trong sự phát triển của các dân tộc, tạo
điều kiện thuận lợi để các dân tộc còn ở trình độ lạc hậu, bằng sự nỗ lực
1
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb ST, H.1991, tr.77.
8
toàn thế giới. Chỉ có đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân mới
thực hiện được quyền bình đẳng và tự quyết đúng đắn, khắc phục được thái
9
độ kỳ thị, lòng thù hận dân tộc, cũng từ đó mới đoàn kết được nhân dân lao
động các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ
nghĩa xã hội. Chính vì thế, nội dung đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc
được nêu trong Cương lĩnh không chỉ là lời kêu gọi mà còn là giải pháp hữu
hiệu bảo đảm việc thực hiện quyền bình đẳng và tự quyết dân tộc. Nội dung
đó đóng vai trò liên kết cả ba nội dung của Cương lĩnh thành một chỉnh thể.
Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc là sự thể hiện thực tế tinh thần yêu
nước mà thời đại ngày nay đã trở thành sức mạnh cực kỳ to lớn. Nội dung đó
phù hợp với tinh thần quốc tế chân chính đang lên tiếng kêu gọi các dân tộc,
quốc gia xích lại gần nhau.
2.3. Phương hướng giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam
- Tình hình dân tộc ở Việt Nam.
Nước ta gồm 54 dân tộc. Dân tộc đông nhất là dân tộc Kinh, chiếm
87% dân số, 53 dân tộc còn lại chiếm 13% dân số. 10 dân tộc có số dân từ
dưới 1 triệu đến 100 ngàn là: Tày, Nùng, Thái, Mường, Khơme, Mông, Dao,
Giarai, Bana, Êđê; 20 dân tộc có số dân dưới 100 ngàn, 16 dân tộc có số dân
từ dưới 10 ngàn đến 1000, 6 dân tộc có số dân dưới 1000 như: Cống, Si La,
Péo, Rơ Măm, Ơ Đu, Brâu.
Đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta cư trú trên địa bàn rộng lớn
chiếm ¾ diện tích đất nước, chủ yếu là miền núi, trên toàn tuyến biên giới,
một số ở đồng bằng và hải đảo. Ở nhiều tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà
Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu…, các dân tộc
thiểu số chiếm hơn 70% dân số, trong đó Cao Bằng khoảng 92%. Tình trạng
ngày càng gia tăng, Gia Lai gấp 4,29 lần, Kon Tum 1,95 lần, Hà Giang 2,1
lần; chất lượng hiệu quả giáo dục đào tạo còn thấp; chăm sóc sức khoẻ cho
đồng bào gặp nhiều khó khăn; một số tập tục lạc hậu đang có xu hướng phát
triển, bản sắc văn hoá đang bị mai một. Về chính trị: hệ thống chính trị cơ sở
vùng đồng bào dân tộc còn yếu; trình độ cán bộ thấp, 10 dân tộc chưa có cán
bộ trình độ đại học, 5 dân tộc chưa có cán bộ trung học, 40 dân tộc chưa có
cán bộ sau đại học; hoạt động của cấp uỷ, chính quyền và đoàn thể ở nhiều
nơi hiệu quả chưa cao; một số nơi tôn giáo phát triển không bình thường” 1.
- Phương hướng giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam hiện nay.
Trên cơ sở lý luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
dân tộc, Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX của Đảng xác định 5 quan điểm
chính sách giải quyết vấn đề dân tộc.
1
Văn kiện Hội Nghị BCHTW lần thứ bảy khoá IX, Nxb CTQG, H. 2003.
11
Một là, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược
cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng
Việt Nam.
Hai là, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu thủ
đoạn chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch.
Ba là, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội và an ninh
– quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế
kỳ mới.
Trong lĩnh vực kinh tế, đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo, nâng
cao mức sống của đồng bào thiểu số, trọng tâm là đồng bào vùng cao, vùng
sâu, vùng xa; giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở; xây dựng
và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, xã hội vùng biên giới, làm tốt
công tác định canh, định cư, xây dựng vùng kinh tế mới.
Trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế, thực hiện chương trình phủ
sóng phát thanh, truyền hình, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tăng cường
cơ sở khám chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn, ấp.
Trong lĩnh vực củng cố nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở các
vùng dân tộc thiểu số, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở; thực hiện
tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển
cán bộ, khắc phục tình trạng quan liêu xa dân của một số cán bộ, đẩy mạnh
phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc.
Trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng
toàn dân và an ninh nhân dân, tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội, kết hợp kinh tế, quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa,
biên giới, thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc,
miền núi.
Trong lĩnh vực đổi mới về nội dung, phương thức công tác dân tộc
phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, thực hiện tốt quy chế dân
chủ ở cơ sở, động viên đồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực tự
cường, tinh thần vươn lên trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với Quân đội, thực hiện tốt những quan điểm, nội dung về chính
sách dân tộc của Đảng, các chính sách đối với con em là dân tộc ít người,
tham gia đào tạo đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đảm bảo chất lượng
đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công tác cán bộ ở vùng sâu, vùng xa.
Khi học tập dã ngoại, đóng quân ở vùng đồng bào dân tộc ít người, giáo dục cho