TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA LÝ
HỌ VÀ TÊN NCS: DƯƠNG THỊ THANH XUYẾN
DỰ THẢO LUẬN ÁN NGHIÊN CỨU SINH
Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên và môi trường
cho quy hoạch định hướng không gian đới bờ tỉnh Bình Thuận
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và Môi trường
Mã số: 62850101
Giáo viên hướng dẫn: GS. TS. Trần Nghi
HÀ NỘI, 2017
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................... 3
Chương 1.................................................................................................................. 9
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................9
Chương 2................................................................................................................ 22
ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG KINH TẾ - XÃ
HỘI, KHU VỰC ĐỚI BỜ TỈNH BÌNH THUẬN..........................................................22
Chương 3................................................................................................................ 82
NHỮNG MÂU THUẪN VÀ XUNG ĐỘT TRONG QUÁ TRÌNH KHAI THÁC TÀI
NGUYÊN VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC ĐỚI BỜ TỈNH BÌNH
THUẬN.................................................................................................................... 82
Chương 4.............................................................................................................. 100
QUY HOẠCH ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN ĐỚI BỜ TỈNH BÌNH THUẬN...........100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................................... 128
bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp
phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ
mục tiêu đặt ra, đồng thời thực hiện cam kết với các chương trình phát triển
quốc tế liên quan về biển, Việt Nam đã tiến hành một loạt các hành động cụ thể
như chuẩn bị các kế hoạch sử dụng biển và vùng ven biển; đánh giá tác động
môi trường và triển khai các chương trình giám sát, lập kế hoạch phòng ngừa
những tai biến thiên nhiên và tai biến do con người gây ra; bảo tồn và phục hồi
các hệ sinh thái quan trọng.
Việt Nam cũng đang nỗ lực đưa ra những chính sách chỉ đạo quốc gia để
duy trì đa dạng sinh học và năng suất của các loài và các hệ sinh thái biển ở Biển
Đông. Mặt khác, chú trọng đưa những kiến thức sinh thái và sự hiểu biết về các
hệ thống giá trị xã hội và văn hóa truyền thống vào quản lý đới bờ và đưa các
3
cộng đồng địa phương cùng tham gia vào quá trình quản lý. Nhà nước Việt Nam
cũng đã ban hành gần 50 văn bản khung pháp lý bảo vệ môi trường biển và
phòng chống ô nhiễm biển. Một loạt chương trình trong nước và hợp tác quốc tế
về QLTHĐB giữa Việt Nam với Thuỵ Điển, Ấn Độ, Hà Lan… đã được triển
khai. Trong chính sách của mình, Việt Nam đang tăng cường nỗ lực để giải
quyết vấn đề ô nhiễm biển do các nguồn ô nhiễm từ cả nội địa ra và ngoài biển
vào. Việt Nam đang coi trọng phương pháp phòng ngừa hơn là biện pháp phản
ứng để ngăn chặn suy thoái môi trường biển.
Các lĩnh vực được ưu tiên là tăng cường quy hoạch phát triển và quản lý,
phòng chống ô nhiễm: kiểm soát nước thải, quản lý các lưu vực sông, đới ven bờ,
kiểm soát ô nhiễm từ các nguồn thải nội địa và kiểm soát các nguồn thải chất hóa
học do con người, kiểm soát các hoạt động quá mức như nghề cá, nuôi trồng hải
sản, du lịch biển, bảo vệ đa dạng sinh học, chú trọng sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên, thích ứng với bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu... Đặc biệt, Việt
Nam cũng đã ban hành và thực hiện tốt Chương trình quản lý tổng hợp dải ven
- Điều kiện tự nhiên (tổng hợp các thông tin về điều kiện địa chất; đặc
điểm địa mạo - địa hình và xu thế biến động; đặc điểm khí hậu; các đặc trưng
địa hệ các hệ sinh thái và xu hướng biến động).
- Điều kiện kinh tế - xã hội (thực trạng phát triển công nghiệp; thực trạng
phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp; thực trạng phát triển thuỷ sản; thực trạng
văn hóa và du lịch).
- Tài nguyên và môi trường (tài nguyên địa chất và khoáng sản; tài
nguyên đất; tài nguyên rừng; tài nguyên sinh thái; ngư trường nước trồi và tài
nguyên thuỷ sản; tài nguyên vị thế; tài nguyên du lịch).
b) Nghiên cứu, đánh giá các xung đột giữa phát triển du lịch và khai thác
khoáng sản khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận gồm:
- Xác định hiệu quả kinh tế giữa việc phát triển du lịch và việc khai thác
khoáng sản tại khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận theo quan điểm phát triển bền
vững.
- Những xung đột giữa bảo vệ cảnh quan du lịch và khai thác khoáng sản
làm mất cảnh quan tự nhiên và suy thoái môi trường.
c) Định hướng quy hoạch không gian đới bờ tỉnh Bình Thuận theo quan
điểm phát triển bền vững kinh tế và đảm bảo chất lượng môi trường.
Xây dựng bản đồ quy hoạch định hướng không gian đới bờ tỉnh Bình Thuận.
d) Đề xuất các cơ chế chính sách và các giải pháp quản lý
- Chính sách quản lý giải quyết xung đột giữa phát triển du lịch và phát
triển khai thác khoáng sản titan.
- Chính sách về môi trường: Đề xuất hoàn thiện hoặc xây dựng mới các
chính sách tổng thể về bảo vệ và từng bước cải thiện chất lượng môi trường,
ngăn chặn và đẩy lùi xu hướng gia tăng ô nhiễm tại khu vực nghiên cứu.
- Chính sách về đầu tư các dự án: Trên cơ sở kết quả đánh giá mức chịu tải
về môi trường, đề xuất các chính sách về đầu tư các dự án phù hợp mức độ chịu
tải của môi trường nhưng vẫn đảm bảo phát triển kinh tế tại khu vực nghiên cứu.
- Chính sách về quản lý tổng hợp đới bờ: theo quan điểm phát triển bền
vững nhằm hài hoà giữa việc phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường tại khu vực
như sau: Kinh tế du lịch (45%); Kinh tế Thủy sản (38%); Công nghiệp chế biến
(7%); Trồng cây ăn quả (7%); Nông nghiệp và trồng cây ăn quả (9%); Năng
lượng (gió, mặt trời, sóng và thủy triều) (5%); Các đơn vị kinh tế còn lại (6%).
6. Điểm mới của luận án
6.1.1. Đánh giá được nguồn gốc, tuổi và điều kiện thành tạo của 3 loại cát
ven biển Bình Thuận: cát đỏ, cát vàng đỏ loang lổ, cát vàng rơm và cát trắng
- Cả 3 loại cát có nguồn gốc biển (m) thuộc tướng đê cát ven bờ (sand
barier bar) thành tạo trong pha biển tiến động lực chủ yếu là sóng ven bờ.
- Cát đỏ có tuổi Pleistocen sớm (Q 11) đến Pleistocen giữa (Q12), cát vàng
đỏ loang lổ có tuổi Pleistocen muộn phần sớm (Q 13a). Cát vàng rơm có tuổi
Pleistocen muộn phần muộn (Q13b), cát trắng có tuổi Holocen sớm- giữa (Q21-2).
- Cát có nguồn gốc biển-gió tuổi Pleistocen muộn-Holocen có địa hình
gò đồi lượn sóng do gió tái tạo cát biển trong pha biển thoái do ảnh hưởng của
băng hà Wurm 2.
6.1.2. Xác định được các lợi thế và hạn chế trong định hướng quy hoạch
phát triển kinh tế bền vững tỉnh Bình Thuận
6
Ba lợi thế: (1) Môi trường nước trồi tạo một ngư trường lớn trên biển; (2)
Cao nguyên cát đỏ kỳ vĩ là tài nguyên du lịch có giá trị kinh tế lớn và bền vững
và (3) Trữ lượng khổng lồ về sa khoáng ilmenit là tiềm năng lớn cho phát triển
công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản.
Ba hạn chế: (1) Xói lở bờ biển mạnh làm biến động và giảm chất lượng
bãi tắm; (2) Khí hậu khô nóng sa mạc hóa, cát bay, cát chảy, cát lấn đồng ruộng;
(3) Thiếu nước cho sinh hoạt và hoạt động kinh tế.
6.1.3. Xác định cơ chế, nguyên nhân và tốc độ xói lở bờ biển những khu
đang khai thác làm bãi tắm chất lượng cao, đề xuất các giải pháp giảm thiểu
năng lượng sóng từ xa như làm các đê ngầm nhân tạo song song với bờ và các
mỏ hàn dạng tombolo chuyển xói lở sang bồi tụ.
hoạt động kinh tế-xã hội.
- Các hệ sinh thái đó có mối quan hệ tác động qua lại hết sức chặt chẽ. Vì
vậy, rất thuận lợi cho việc đề xuất các giải pháp và mô hình quản lý tổng hợp.
- Đề xuất được định hướng quy hoạch không gian đới bờ của vùng nghiên
cứu làm cơ sở để xây dựng bản đồ quy hoạch định hướng không gian đới bờ tỉnh
Bình Thuận.
8. Bố cục của luận án
Mở đầu
Chương 1: Tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên môi trường khu vực đới bờ tỉnh Bình Thuận
Chương 3: Những vấn đề xung đột trong quá trình khai thác tài nguyên và
phát triển kinh tế-xã hội
Chương 4: Quy hoạch định hướng không gian đới bờ tỉnh Bình Thuận
Kết luận, kiến nghị
8
Chương 1
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về quy hoạch định hướng không gian và quản lý môi
trường đới bờ biển trên thế giới
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng và đem lại
sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cho toàn nhân loại. Tuy nhiên cùng với đó là
những vấn đề môi trường nghiêm trọng mà chúng ta đang phải đối mặt. Đứng
trên bờ vực của sự sống còn, mỗi quốc gia đã đi tìm những quyết sách riêng cho
mình. Từ đó, quản lý tổng hợp đới bờ biển (QLTHĐB) và quy hoạch không gian
biển (QHKGB) được nghiên cứu và áp dụng ngày càng phổ biến. Thực hiện tốt
hai công cụ này sẽ phát huy được một cách có hiệu quả tính quản lý đa ngành,
(1957) tại Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, chương trình di cư (1950 –
1987) và các nghiên cứu quy hoạch lưu vực sông ở Indonesia [34].
Hiện nay một số tổ chức quốc tế như WB, ADB,… đã ban hành nhiều tài
liệu giới thiệu kinh nghiệm, cung cấp thông tin và hướng dẫn về QHMT ở nhiều
nước trên thế giới. Trong thời gian qua, ADB đã xuất bản các tài liệu liên quan đến
quản lý và QHMT, tài nguyên thiên nhiên tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương
như “Hướng dẫn quy hoạch thống nhất phát triển kinh tế kết hợp với môi trường
vùng – Tổng quan về các nghiên cứu quy hoạch phát triển môi trường vùng tại
châu Á”; “Hướng dẫn quy hoạch thống nhất phát triển kinh tế kết hợp với môi
trường vùng” và “Quy hoạch xây dựng quy hoạch môi trường vùng” [34].
Cuối thế kỉ 19, QHMT có những bước tiến mới, thể hiện ở việc một số
nước đã thực hiện các đạo luật và quy định về QHMT, như ở Hồng Kông,
“Hướng dẫn quy hoạch môi trường” có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho các
dạng sử dụng đất thích hợp cho các quy hoạch phát triển. Tại Úc, đạo luật
QHMT và đánh giá tác động môi trường đã được ban hành năm 1997. Từ đó cho
đến nay, QHMT dần trở thành một trong những nội dung quan trọng trong các
chương trình quản lý ven biển.
Quy hoạch không gian biển (QHKGB) được phát triển từ ý tưởng quản lý
công viên biển quốc tế “Dải san hô lớn – Great Barrier Reef” theo phân vùng
chức năng (function zoning) ở Australia cách đây khoảng 30 năm. Theo đó, các
nhà quy hoạch chia không gian biển ở đây thành 07 phân khu để quản lý, sử
dụng hiệu quả và thích ứng với bản chất tự nhiên của từng phân khu, bao gồm:
(1) Phân khu sử dụng chung; (2) Phân khu bảo tồn nơi cư trú; (3) Phân khu bảo
tồn cửa sông; (4) Phân khu công viên bảo tồn; (5) Phân khu đệm; (6) Phân khu
vườn quốc gia; (7) Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Các hoạt động khai thác tài
nguyên biển sẽ được quy định được phép hay không được phép tùy theo phân
khu. Nhờ những hiệu quả đem lại, những năm sau đó, phân vùng chức năng
được áp dụng rộng rãi trong các hoạt động quản lý hệ thống các khu bảo tồn
biển (Marine Protected Area) toàn cầu, khu vực và các quốc gia ([35]; tr. 39, 40,
41). Trong suốt tiến trình phát triển, QHKGB cũng đã được xác định bằng các
QHKGB trên cơ sở xác định các vùng cơ bản cho hoạt động nghề cá trong phạm
vi vùng đặc quyền kinh tế của Đức ([35], tr.44)…
Ở Đông Á, QHKGB vùng ven bờ là một hoạt động thực tế đã có từ
khoảng 20 năm trước tại các quốc gia thành viên. Kế hoạch phân vùng đã được
áp dụng thành công tại thành phố Hạ Môn (Trung Quốc), Batangas của Philipin
và Đã Nẵng (Việt Nam). Tuy nhiên đây mới chỉ là thành công bước đầu, các vấn
đề môi trường xảy ra ở đới bờ ngày càng nghiêm trọng do biến đổi khí hậu làm
cho mực nước biển dâng lên, vì vậy, công tác QHKGB cần phải nhận được sự
nỗ lực, hợp tác hơn nữa giữa các quốc gia Đông Á. Trên cơ sở đó, Cơ quan phát
triển quốc tế Thụy Điển (Sida), Cơ quan Điều phối các biển Đông Á (COBSEA)
cùng với sự hỗ trợ của Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc đã xúc tiến
đề tài QHKGB cho các quốc gia khu vực biển Đông Á (2011 – 2013) với 03 giai
đoạn: (1) Xây dựng “Hướng dẫn Quy hoạch không gian vùng bờ khu vực biển
Đông Á: Tích hợp các vấn đề nổi bật và cách tiếp cận quản lý hiện đại”; (2) Xin
ý kiến góp ý của các quốc gia thành viên của COBSEA về dự thảo bản hướng
dẫn; (3) Chuyển sang văn bản hướng dẫn quốc gia về QHKG biển và vùng bờ
biển. Đây là một trong những tài liệu quan trọng cung cấp khung pháp lý cho
các nước tại khu vực biển Đông Á để điều chỉnh quy hoạch không gian liên
11
vùng, liên quốc gia ([35], tr. 43, 44).
Đến nay, QHKGB đã được nghiên cứu và ứng dụng sâu rộng ở khắp các
quốc gia trên thế giới. Theo Ủy ban Hải dương học Liên Chính phủ của
UNESCO (Ehler & Douvere 2007), quy hoạch không gian biển (QHKGB) được
định nghĩa là “một quá trình phân tích và phân bổ các phần của không gian biển
ba chiều cho các mục đích sử dụng cụ thể, để đạt được các mục tiêu sinh thái,
kinh tế và xã hội thường được xác định thông qua tiến trình chính trị; kết quả
của quá trình QHKGB thường là một kế hoạch tổng thể toàn diện cho một vùng
biển. QHKGB là một phần của quản lý sử dụng biển”. Đây là định nghĩa được
gian và cơ chế thực hiện, xem xét các phương thức cần để cải thiện và xây dựng
các quy chế đánh giá và điều chỉnh. Các kết quả đánh giá sẽ được phản hồi và sử
dụng trong giai đoạn quy hoạch và phân tích và quá trình lại lặp lại từ đầu.
Cùng với quy hoạch môi trường, quản lý môi trường đới bờ biển
(QLĐBB) cũng được hình thành song song và phát triển qua các giai đoạn lịch
sử. QLĐBB bắt đầu được quan tâm khi con người nhận thức được sự khan hiếm
và sức chịu tải của môi trường biển. QLĐBB lúc này dưới hình thức quản lý
sinh thái ven biển được đánh dấu bằng việc thành lập các công viên biển ở châu
Âu vào năm 1930. Đến thập kỷ 70 của thế kỉ 20, khái niệm QLĐBB chính thức
được đề cập với sự ra đời của Bộ luật quản lý đới bờ biển của Mỹ vào năm
1972. Tiếp sau Mỹ, chính phủ các nước cũng xây dựng những chương trình
quản lý tài nguyên biển, quản lý ô nhiễm môi trường, bảo vệ đa dạng sinh thái,
… Kể từ năm 1983, thông qua sự hỗ trợ của Tổ chức Phát triển Quốc tế của Mỹ
(USAID), mô hình quản lý vùng bờ của Mỹ đã được ứng dụng ở nhiều nước
đang phát triển tại châu Mỹ La tinh và Đông Á. Các quỹ hỗ trợ của Mỹ đã chọn
Ecuado, Sri Lanka và Thái Lan là các nước thực hiện thí điểm. Hội thảo đầu tiên
về Quản lý tài nguyên vùng đới bờ ở Nam và Trung Mỹ được tổ chức tại Mar
del Plata (Argentina) vào năm 1984. QLĐBB trong thời gian này mang tính chất
đơn lẻ, tách biệt giữa các ngành, do đó, nó không phát huy được hiệu quả mong
muốn cho các nhà quản lý chính sách. Do đó, QLTHĐBB đã ra đời nhằm khắc
phục những nhược điểm của quản lý môi trường nói chung, công cụ này đã nhận
được sự hưởng ứng của nhiều nước, trước hết là các quốc gia giáp biển.
Định nghĩa về quản lý tổng hợp đới bờ được đề cập nhiều hơn kể từ sau
Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp quốc (UNCED) được tổ
chức vào năm 1992. Định nghĩa về QLTHĐB là phần tổng hợp của Chương 17
(chương về đại dương và bờ biển) của Chương trình Nghị sự 21, đây là kế hoạch
hành động bao quát do UNCED xây dựng. Việc chấp thuận Chương trình Nghị
sự 21, sự ủng hộ cao của các nhà tài trợ, các cơ quan chính phủ và các cơ quan
các mục đích và mục tiêu quản lý ở các cấp độ khác nhau”. Hay khái niệm của
Cicin-Saint và Knecht: “Quản lý tổng hợp vùng bờ có thể được định nghĩa là
một tiến trình liên tục và năng động mà thông qua đó các quyết định sẽ được
thông qua nhằm hướng đến sử dụng bền vững, phát triển, và bảo vệ vùng bờ, đại
dương và nguồn tài nguyên của chúng” (Hồ Nhân Ái, 2009) [37]. Tuy nhiên,
khái niệm được nhiều người công nhận và sử dụng là của TS. Chua Thia - Eng.
Theo Chua Thia - Eng, quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường đới bờ là
"một khung quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên sử dụng cách tiếp cận
mang tính toàn diện, tổng hợp và một quá trình lập kế hoạch tương tác để giải
quyết các vấn đề quản lý phức tạp tại vùng đới bờ".
QLTHĐB là phương thức quản lý nhằm đạt hiệu quả cao trong sử dụng
tài nguyên và giá trị chung tại đới bờ, giảm thiểu các tác động có hại đến con
người và môi trường, trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa các ngành, cơ quan và các
bên liên quan. QLTHĐB hướng đến mục tiêu phát triển bền vững với ba trụ cột
lớn: kinh tế, xã hội và môi trường. Nó vừa đảm bảo khi thác tài nguyên đem lại
giá trị kinh tế, vừa tạo sinh kế ổn định cho người dân địa phương vùng bờ, đồng
thời ngăn chặn, phòng ngừa các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Chính vì thế, cùng với QHKGB, QLTHĐB ngày càng có vai trò quan trọng đối
với chiến lược phát triển kinh tế trong dài hạn của các quốc gia.
14
1.2. Tổng quan về nghiên cứu quy hoạch định hướng không gian và
quản lý môi trường đới bờ biển Việt Nam và tỉnh Bình Thuận
1.2.1. Đối với đới bờ Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia giáp biển với đường bờ biển trải dài 3260 km,
có tổng diện tích biển gấp khoảng ba lần diện tích đất liền (khoảng trên 1 triệu
km2) và đây là khu vực sinh sống, nguồn sinh kế cho hàng triệu người dân. Vì
thế biển luôn được đặt trong vị trí quan trọng đối với chiến lược phát triển kinh
từ năm 2000, điển hình là Khu bảo tồn biển Hòn Mun (Khánh Hòa) được chia
15
thành 4 vùng: vùng lõi, vùng phục hồi sinh thái, vùng chuyển tiếp và vùng phát
triển; tiếp đó là phân vùng phục vụ cho Kế hoạch hành động QLTHĐBB ở thành
phố Đà Nẵng (2004) ([32], tr. 18, 19). Trong giai đoạn 2011 – 2013, dự án do
COBESEA về QHKGB đã triển khai ở 6 quốc gia trong đó có Việt Nam ([33],
tr.46). Cũng trong giai đoạn này, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Tổng cục Biển
và Hải đảo Việt Nam) cùng với sự quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ đã
chủ trì thực hiện dự án sử dụng vốn đối ứng hợp tác với NOAA (Hoa Kỳ) để áp
dụng QHKGB ở hai vùng trọng điểm là vùng biển quần đảo Cát Bà và lận cận
(Hải Phòng) và khu vực biển Móng Cái (Quảng Ninh). Đây là dự án đầu tiên áp
dụng thử nghiệm QHKGB ở vùng bờ của Việt Nam trên cơ sở bài học từ mô
hình của bang Massachusetts ([33], tr. 45). Tiếp đó, trong giai đoạn 2011 –
2015, Việt Nam cũng nhận được nhiều sự giúp đỡ của bạn bè thế giới trong việc
hoàn chỉnh hệ thống phương pháp luận và kinh nghiệm cho QHKGB. Tháng
9/2012, Việt Nam đã tham gia Hội thảo APEC về QHKGB tại Hạ Môn, Trung
Quốc [33]; đồng thời tiến hành các chuyến tham quan thực hành và các diễn đàn
ở Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Philipin, Trung Quốc [32],… Bên cạnh đó, Ngân hàng
Thế giới cũng đã hỗ trợ ngành Thủy sản Việt Nam thực hiện dự án “Nguồn lợi
ven biển vì sự phát triển bền vững” cho 8 tỉnh ven biển, bao gồm cả việc lồng
ghép QHKGB vào các kế hoạch đầu tư nguồn lợi thủy sản ven biển ([32], tr. 20,
21).
Nghiên cứu, học tập và áp dụng QHKGB chính là quá trình tích hợp
QHKGB với quản lý môi trường để thực hiện chương trình quản lý tổng hợp đới
bờ biển (QLTHĐBB) ở nước ta hiện nay. Đới bờ biển (ĐBB) ở đây được hiểu là
“một vùng chuyển tiếp mà ở đó môi trường biển và môi trường lục địa tương tác
lẫn nhau và hình thành một môi trường thống nhất”. Theo phạm vi không gian,
ĐBB Việt Nam có thể xác định là toàn bộ vùng biển thuộc chủ quyền của Việt
phố Đà Nẵng [32]; Đề tài nghiên cứu sự phát triển của một số mẫu QLTHĐBB
ở Việt Nam của Nguyễn Chu Hồi, quan tâm nhiều đến vấn đề chính sách và thay
đổi cơ cấu quản lý với 2 nghiên cứu hình mẫu ở Hạ Long – Cát Bà và Đà Nẵng;
Đề án quốc gia về QLTHVB ở 14 tỉnh miền Trung Việt Nam tới năm 2010 (từ
Thanh Hóa tới Bình Thuận). Đề án đang được thúc đẩy ở cấp địa phương, sử
dụng nguồn hỗ trợ từ Chính phủ theo Quyết định số 158/2007/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ tháng 10 năm 2007 [32].
Bên cạnh đó, ở Việt Nam cũng có một số dự án đào tạo nhân lực như: dự
án xây dựng năng lực QLTHĐBB ở Quảng Ninh (2011), dự án xây dựng năng
lực về QLTHĐBB cho cán bộ của Viện Hải dương học do Trung tâm phát triển
quốc tế Thụy Điển (SIDA) kết hợp với Cục Môi trường tổ chức (1996-2003); dự
án hỗ trợ đào tạo QLTHĐBB của Ấn Độ (2000-2003); dự án giáo dục và đào tạo
QLTHĐBB do AIT-DANIDA tổ chức tại Việt Nam (2001-2004). Ngoài ra còn
có dự án “Xây dựng và ban hành chính sách và hướng dẫn kỹ thuật về quản lý
tổng hợp đới bờ”. Trong khuôn khổ dự án, tại Đà Nẵng, Trung tâm Quy hoạch –
Điều tra – Đánh giá Tài nguyên Môi trường biển và hải đảo (Tổng cục biển và
hải đảo Việt Nam) đã tổ chức lớp tập huấn về 05 chính sách và 12 hướng dẫn kỹ
thuật QLTHĐB cho cán bộ làm công tác quản lý tài nguyên môi trường biển đảo
trực thuộc một số tỉnh ven biển.
Về mặt pháp lý, nhà nước Việt Nam cũng tiến hành hoàn thiện hệ thống
các văn bản pháp luật trong nước và thực hiện các cam kết quốc tế. Theo đó,
QLTHĐB của Việt Nam phải được xác định dựa trên Công ước Liên Hợp Quốc
về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) [1]. Ở cấp quốc gia, Việt Nam cũng
17
ban hành Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 tập trung vào phát triển kinh
tế biển trong bối cảnh ngành [32], Thông tư số 22/2012/TT-BTNMT ngày 26
tháng 12 năm 2012 về Quy định việc lập và thực hiện Kế hoạch quản lý tổng
hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven biển, Luật Biển Việt Nam
nghiên cứu về các thành tạo Đệ tứ miền Duyên hải Nam Trung Bộ. Trong công
trình này Fontaine đã phát hiện ra cát kết vôi tuổi Neogen và thềm biển cao 15m
ở bờ biển Khánh Hoà.
Từ năm 1975 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên đề và đo
18
vẽ bản đồ địa chất Đệ tứ tỷ lệ 1/50.000 khu vực Ninh Thuận và Bình Thuận.
Năm 1978 Lê Đức An đã nghiên cứu địa chất, địa mạo khu vực Phan Thiết và
tìm thấy Tectit có tuổi 700.000 năm BP. Đồng thời, Lê Đức An cũng đã xác lập
hệ tầng Phan Thiết có tuổi Pleistocen giữa (Q12 pt).
Nghiên cứu đánh giá sa khoáng ilmenit ở Bình Thuận đã có nhiều tác giả
như Đào Thanh Bình (1983), Nguyễn Thanh Bình (1988), Nguyễn Kim Hoàn,
Nguyễn Biểu (1985). Tuy nhiên, phải đến sau năm 1990 công tác đo vẽ bản đồ
địa chất Đệ tứ tỷ lệ 1/50.000 và các nghiên cứu chuyên đề mới được triển khai
một cách đồng bộ. Nguyễn Văn Cường và nnk (2001) đo vẽ bản đồ địa chất
1/50.000 và tìm kiếm khoáng sản nhóm từ Hàm Tân đến Côn Đảo. Hoàng
Phương, Ma Công Cọ, Trần Nghi (1977) đã thực hiện phương án đo vẽ bản đồ
địa chất tỷ lệ 1/50.000 tờ Phan Thiết. Cả Nguyễn Văn Cường và Hoàng Phương
đều thành lập cột địa tầng cát đỏ Phan Thiết không có Pleistocen sớm (Q 11). Hệ
tầng Phan Thiết có tuổi (Q12-3) pt là mang tính chất quy ước trong khi chưa có
tuổi tuyệt đối.
Năm 2000 – 2001 Trần Nghi, Colin Wallace, Brian Jone (Australia) trong
đề tài hợp tác quốc tế “Nghiên cứu tuổi nhiệt huỳnh quang thạch anh, nguồn gốc
và điều kiện thành tạo cát đỏ Phan Thiết” đã có những kết quả mới hơn so với
những nghiên cứu trước đó. Các tác giả đã phát hiện được một chu kỳ cát đỏ
tuổi Pleistocen sớm (Q11) nằm dưới lớp “mũ sắt” chứa tectit sắc cạnh có tuổi
700.000 năm PB.
Nghiên cứu về nước trồi (upwelling) và ngư trường vùng biển Phan Thiết
có các chuyên gia như Võ Văn Lành, Phan Văn Huấn, Hà Xuân Hùng (2005),
riêng và toàn bộ hệ thống lãnh thổ nói chung.
- Tiếp cận sinh thái: Phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường là một
bộ phận không thể thiếu của chính sách sinh thái toàn vẹn. Mục tiêu của phát
triển bền vững theo quan điểm tổng hợp đới bờ là bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
và môi trường, tăng cường bảo tồn và đóng góp lợi ích ngày càng nhiều cho
cộng đồng.
- Tiếp cận lịch sử: Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động, biến đổi hay
phát triển theo quá trình của nó. Nghiên cứu quá khứ, làm cơ sở đánh giá đúng đắn
hơn về hiện tại. Nghiên cứu hiện tại và quá khứ trên cơ sở phân tích nguồn gốc
phát sinh, phát triển và có cơ sở, sẽ dự báo tương đối chính xác về xu hướng phát
triển trong tương lai.
- Tiếp cận liên ngành: Mỗi khu vực lãnh thổ đều tồn tại các địa hệ tự
nhiên và các ngành phát triển kinh tế khác nhau, chúng có mối quan hệ mật thiết
với nhau. Để xây dựng được mô hình quy hoạch tổng thể không gian đới bờ cần
dựa trên cơ sở tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên-môi trường và phân tích
lợi ích và chi phí của mỗi ngành.
1.3.2. Các phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp khảo sát, nghiên cứu ngoài trời
- Đới bờ tỉnh Bình Thuận gồm một phần diện tích đất liền ven biển và
phần ngập nước đến độ sâu 30m nước. Vì vậy, công tác nghiên cứu thực địa bao
gồm cả những vấn đề địa chất trầm tích Đệ Tứ và địa hình địa mạo. Các lộ trình
khảo sát theo tuyến vuông góc với đường bờ từ khu vực đồng bằng thấp bên
trong đến khu vực thềm cát, cồn cát, bãi triều và trầm tích đáy biển ven bờ. Đối
20
với phần đất liền các thao tác nghiên cứu bao gồm quan sát cảnh quan, địa hình
– địa mạo chụp ảnh, lấy mẫu trầm tích tầng mặt và khoan và đào phẫu diện lấy
mẫu theo độ sâu, lấy mẫu ở vách cồn cát, đê cát bằng ống nhựa bịt nilong đen để
phân tích tuổi tuyệt đối theo phương pháp nhiệt huỳnh quang (TL). Các trạm
dịch vụ du lịch; (7) Bãi tắm; (8) Bãi cư trú động vật thân mềm; (9) Đới sa
khoáng đường bờ cổ 25-30m; (10) Ngư trường (nước trồi).
21
Chương 2
ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
KINH TẾ - XÃ HỘI, KHU VỰC ĐỚI BỜ TỈNH BÌNH THUẬN
2.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên đới bờ tỉnh Bình Thuận
2.1.1. Phần đất liền
2.1.1.1. Jura hạ, các bậc Sinemur - Toar. Hệ tầng Đắc Krong (J1s-t đk)
Các trầm tích hệ tầng Đắc Krong lộ ra ở vùng Tân Thuận với tổng diện
tích khoảng 2 km2. Chưa quan sát được quan hệ địa tầng trên và dưới của hệ
tầng. Với đặc điểm có chứa carbonat trong mặt cắt nên tuổi của trầm tích này
cũng được xếp vào tuổi Jura sớm, hệ tầng Đắc Krong.
22
2.1.1.2. Jura trung. Hệ tầng La Ngà (J2ln): Các trầm tích hệ tầng La Ngà
phân bố khá rộng. Chúng lộ ra ở vùng phía bắc Phan Dũng, vùng Gia Bang, Cà
Giây, Phan Tiến, Đồng Tiến, Thuận Hòa, phần phía bắc Hàm Thuận Nam dọc lưu
vực Sông Phan và rải rác ở một số nơi khác.
2.1.1.3. Kreta hạ. Hệ tầng Đèo Bảo Lộc (K1đbl): Hệ tầng Đèo Bảo Lộc
phân bố ở lưu vực Suối Ca Tô thuộc địa phận các xã Hàm Phú, Đông Tiến,
Đông Giang, Hàm Cần với diện lộ khoảng 300 km 2. Ngoài ra chúng còn lộ ra ở
khu vực sông Lũy - núi Chai với diện tích chừng 60 km 2 tạo khối hình méo mó,
kéo dài theo phương Đông Bắc - Tây Nam. Thành phần thạch học các đá của hệ
tầng bao gồm: andesit, andesitobazan, andesitodacit, dacit, ryodacit, ryolit, ryolit
porphyr và tuf của chúng. Một số nơi có sự tham gia của các trầm tích nguồn núi
2.1.1.7. Pliocen “Sét kết Tiến Thành” (N2): Các trầm tích này bị lớp cát
pha bột màu xám loang lổ, gắn kết chặt của hệ tầng Mũi Né (mQ 12.1mn) phủ lên,
quan hệ dưới chưa rõ. Bề dày của mặt cắt này trên 16,5m. Trầm tích này được
xếp giả định vào Pliocen (N2) ngang với mức địa tầng của hệ tầng Liên Hương
và được gọi là “Sét kết Tiến Thành”.
2.1.1.8. Pliocen. Hệ tầng Suối Tầm Bó (N2(?)stb): Hệ tầng Suối Tầm Bó
phân bố ở Tân Minh, dọc theo tả ngạn sông Dinh, các trầm tích cũng được xếp
vào hệ tầng Suối Tầm Bó lộ ra khoảng 8km 2. Thành phần là cát thạch anh chọn
lựa tốt, đôi chỗ lẫn ít sạn sỏi (1 - 9%). Bề dày thay đổi từ 1,7 - 3,7m, trung bình
2,5m. Trầm tích này nằm phủ trên các thành tạo Mesozoi và bị phủ bởi bazan hệ
tầng Túc Trưng (B/N2-Q11tt).
2.1.1.9. Pliocen - Pleistocen hạ. Phun trào bazan (B/N 2 - Q11): Thành tạo
này lộ ra những diện lộ nhỏ ở khu vực Đá Bàn - Giếng Xó (Hồng Liêm). Thành
phần thạch học các đá gồm bazan olivin, bazan olivin - augit, bazan olivin pyroxen. Các đá bazan dạng bọt, đặc sít, màu xám tro, xám tối, có nhiều tinh
hốc chứa olivin. Bazan lộ ra ở dạng lớp phủ mỏng nằm trên bề mặt bào mòn của
các đá xâm nhập và phun trào Kreta. Bazan ở khu vực Đá Bàn - Giếng Xó bị
phủ bởi cát đỏ hệ tầng Phan Thiết (m bQ12-3pt) và sản phẩm phá hủy của chúng
được tích đọng trong thành phần cuội dăm của thành tạo sườn tích - lũ tích tuổi
Pleistocen sớm - giữa (dpQ11-2) có chứa tectit và saphir, zircon. Thành tạo bazan
này tương đương với hệ tầng Túc Trưng. Chiều dày của lớp phủ bazan Pliocen Pleistocen hạ trong phạm vi Bình Thuận dao động trong khoảng vài mét đến 10
- 30m…
2.1.1.10. Pleistocen hạ - trung (Q11): Các trầm tích Pleistocen hạ được chia
thành 2 kiểu nguồn gốc như sau: Hệ tầng Tuy Phong, trầm tích sông (aQ 11tp). Hệ
tầng Tuy Phong phân bố ở khu vực Bắc Tuy Phong, phía Tây Nam Phan Thiết.
Thành phần trầm tích của hệ tầng gồm cát sạn, sạn sỏi đa khoáng bị laterit hóa,
kết tảng cứng chắc, màu nâu vàng, nâu đỏ loang lổ; cát pha bột - sét màu trắng
đục. Các trầm tích này còn thấy trong các lỗ khoan ở Chí Công, Phan Thiết ở độ
sâu 30,5 - 31,3m hoặc độ sâu 76 - 77,1m, dọc thung lũng sông Phan, Đồi 82.
Các trầm tích này phủ bất chỉnh hợp trên các trầm tích của hệ tầng Liên Hương
(N2lh) và bị các trầm tích hệ tầng Mũi Né (mQ 12.1mn) phủ bất chỉnh hợp lên.
phủ bởi trầm tích sông - biển có tuổi Pleistocen muộn, thời muộn (amQ 13b) và trầm tích
sông tuổi Holocen sớm - giữa (aQ21-2). Chiều dày dao động từ vài mét đến 20 - 30m.
b) Pleistocen thượng, phần trên (Q13b): Các thành tạo Pleistocen thượng,
phần trên phân thành 5 kiểu nguồn gốc:
- Trầm tích biển, tướng đê cát ven bờ (mbQ 13b): Thành tạo này phân bố
chủ yếu ở khu vực dọc bờ biển Tuy Phong (từ Cà Ná qua Vĩnh Hảo, Phước Thể
đến Chí Công), tạo thềm biển cao 15 - 20m. Thành phần trầm tích là cát hạt vừa
đến thô lẫn sạn chứa vụn sinh vật biển màu xám vàng, dính kết chắc. Thành tạo
này có quan hệ dưới không rõ, chúng thường bị phủ bởi các trầm tích gió tuổi
Holocen giữa - muộn.
- Trầm tích biển, tướng vũng vịnh - ven bờ (mQ 13b): Các trầm tích này
phân bố khá phổ biến dạng bậc thềm biển ở độ cao 20 - 40m viền quanh chân
đồi cát đỏ, tạo thành các dải cát trắng ở các khu vực Bình Thạnh, Chí Công,
Phan Rí, Hồng Thái, Lương Sơn, Hòa Thắng, Bình Tân, Hồng Liêm, Hồng Sơn,
Hàm Đức, Tây Tà Kou, Hàm Tân và Tân Thắng. Các trầm tích tướng vũng vịnh
25