BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
VIỆN KHOA HỌC THỦY LI MIỀN NAM Chương trình bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP NHÀ NƯỚC – MÃ SỐ KC-08.29
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHCN ĐỂ ỔN ĐỊNH LÒNG DẪN
HẠ DU HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI - SÀI GÒN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Chuyên đề 1:
TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN,
KINH TẾ – XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI
LÒNG DẪN HẠ DU SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN
Chủ nhiệm đề tài:
PGS.TS. Hoàng Văn Huân
Chủ nhiệm chuyên đề:
tăng của các hộ dùng nớc ven hệ thống sông Sài Gòn cùng với các công trình xây
dựng dọc sông(theo quy hoạch hoặc không theo quy hoạch) đã tác động tới dòng chảy
và gây xói mòn, sụp lở lòng dẫn. Điều này không những ảnh hởng lớn đến tốc độ phát
triển kinh tế mà còn ảnh hởng đến cả các vấn đề xã hội.
Yêu cầu để phát triển kinh tế và xã hội đặt ra là: Hệ thống sông Đồng Nai Sài
Gòn cần phải đợc quản lý tốt hơn, mang tính "chuyên nghiệp" hơn, với mục tiêu bảo
vệ bền vững nguồn nớc, giảm sạt lở và biến hình lòng dẫn, tăng dòng chảy kiệt đẩy
mặn xâm nhập. Nh vậy, vấn đề cần giải quyết ở đây là: phải nghiên cứu tìm ra đợc
những giải pháp khoa học phù hợp để ổn định đợc lòng dẫn hạ du hệ thống sông
Đồng Nai Sài Gòn và phát triển hệ thống các công trình ở thợng lu nhằm tận dụng,
khai thác tối đa nguồn tài nguyên nớc vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng
cho lu vực hệ thống sông Đồng Nai Sài Gòn. Trên cơ sở đó, báo cáo chuyên đề
Tổng quan điều kiện tự nhiên Kinh tế xã hội khu vực hạ du sông Đồng Nai Sài Gòn
có liên quan đến biến đổi lòng dẫn là chuyên đề thuộc đề tài KC- 08-29 với tên gọi
Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ ổn định lòng dẫn hệ thống sông Đồng
Nai Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế xã hội miền Đông Nam Bộ do Viện Khoa
học Thuỷ lợi Miền Nam cùng với các nhà nghiên cứu khoa học khác đã đợc triển khai
thực hiện.
Trong phạm vi chuyên đề này, để có cơ sở xây dựng các giải pháp khoa học
công nghệ ổn định lòng dẫn hệ thống sông Đồng Nai Sài Gòn, đã tiến hành đo đạc và
thu thập tài liệu điều kiện tự nhiên của khu vực. Cụ thể:
(1) Thu thập và đánh giá tài liệu cơ bản về đặc điểm địa hình, địa mạo lu vực
hệ thống sông Đồng Nai Sài Gòn.
(2) Thu thập và đo đạc và đánh giá tài liệu cơ bản về đặc điểm địa chất, địa chất
thuỷ văn, thổ nhỡng.
(3) Thu thập, đo đạc và đánh giá sơ bộ đặc điểm thuỷ văn dòng chảy, khí hậu.
(4) Thu thập các tài liệu về tình hình khai thác tài nguyên trên lu vực hệ thống
sông Đồng Nai Sài Gòn.
Đề tài KC.08-29: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng
Nai - Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế x hội vùng Đông Nam bộ.
Gòn và Vàm Cỏ) và Tây Bắc-Đông Nam (vùng đồi Long Bình-Long Thành-Xuân Lộc
ra biển).
* Vùng trung du
Vùng trung du bao gồm phần lớn các tỉnh Đồng Nai, Bình Dơng, Bình Phớc,
một phần tỉnh Tây Ninh và TP. Hồ Chí Minh. Vùng này có diện tích lớn, cao độ trung
bình từ vài mét đến vài chục mét, địa hình chuyển dần từ dạng đồi thoải hoặc đồi bát
úp sang vùng đất cao khá bằng phẳng ở Dĩ An, Thuận An, Tp.Biên Hoà, Tân Uyên...
* Vùng đồng bằng
Vùng đồng bằng châu thổ HTSĐN nằm chủ yếu ở TP. Hồ Chí Minh, một ít ở
Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dơng, Tây Ninh và Long An. Vùng đồng bằng có
cao độ trung bình từ 1-5 m, địa hình khá bằng phẳng và là vùng ảnh hởng mạnh của
thủy triều từ Biển Đông.
Đề tài KC.08-29: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng
Nai - Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế x hội vùng Đông Nam bộ.
Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
4
Phần lớn diện tích khu vực nghiên cứu thuộc dạng địa hình bồi tích, là vùng
thấp có cao độ < +5m. Địa hình bồi tích có 3 dạng chính sau:
- Dạng bãi triều thờng xuyên ngập triều, phân bố chủ yếu ven sông Đồng Nai,
sông Sài Gòn và các rạch nhỏ. Cao độ địa hình khoảng 0 - 1m, hằng ngày ngập nớc
khi thủy triều lên. Đây là dạng địa hình có tuổi trẻ nhất trong khu vực.
- Đồng bằng thấp thờng xuyên ẩm ớt, tuổi Holocen muộn, địa hình có cao độ
khoảng 1 - 2m đợc cấu tạo bởi trầm tích nguồn gốc sông, đầm lầy sông.
- Thềm bậc 1 ở độ cao 2,5m tuổi Holocen giữa, phân bố dới chân các đồi cao,
bề mặt địa hình hơi nghiêng. Vùng thấp phía nam lác đác có những gò cao hơi nhô
nhng cũng không phá vỡ cảnh quan thiên nhiên của vùng bằng phẳng, thấp trũng.
Ngoài ra, rãi rác những vùng địa hình hơi nhô cao để phân chia ranh giới tập trung
5
05
10
15
20
25km
Vò trí các nơi lấy mẫu nghiên cứu
CHÚ THÍCH
Hình 1.2. BẢN ĐỒ ĐỊA MẠO HẠ DU SÔNG SÀI GÒN- ĐỒNG NAI
Bazan
Khoáng đaxit và khoáng anđêxit
Đá Granit
Đá trầm tích cổ sinh
Đá trầm tích trung sinh
Đất phù sa cổ
Đất phù sa trẻ
CAMBODGE
H×nh 1.2: B¶n ®å ®Þa m¹o h¹ du s«ng Sµi Gßn - §ång Nai.
1.2 §Ỉc ®iĨm s«ng ngßi
HDS§NSG bao gåm dßng chÝnh §ång Nai vµ 4 s«ng nh¸nh lµ La Ngµ, s«ng BÐ,
Sµi Gßn vµ Vµm Cá. S«ng Vµm Cá lµ tªn gäi chung cho hai nh¸nh s«ng lín Vµm Cá
§«ng vµ Vµm Cá T©y. Do Vµm Cá T©y cã quan hƯ mËt thiÕt víi §BSCL h¬n, nªn theo
ph©n chia hiƯn nay, HDS§NSG ®−ỵc x¸c ®Þnh lµ ®Õn bê cđa s«ng Vµm Cá §«ng.
(H×nh 1.3).
1.3.1 Dßng chÝnh s«ng §ång Nai
S«ng §ång Nai ph¸t nguyªn tõ vïng nói cao cđa cao nguyªn Liangbien thc
d·y Tr−êng S¬n Nam, víi ®é cao kho¶ng 2.000 m, gåm hai nh¸nh ë th−ỵng ngn lµ
Da Dung vµ Da Nhim. S«ng cã h−íng ch¶y chÝnh lµ §«ng B¾c-T©y Nam, ®i qua c¸c
còn 130 m.
Hạ trung lu dòng chính sông Đồng Nai từ bãi Cát Tiên đến Trị An. Đoạn này
sông đi qua vùng trung du, hai bên bờ có bãi tràn rộng. Với chiều dài 138 km, độ dốc
lòng sông 0,00065 vối nhiều thác gềnh và hẻm núi, điều kiện tự nhiên có thể cho phép
xây dựng các hồ chứa nớc lớn. Trên đoạn này sông còn có thêm các phụ lu lớn bên
trái là Da Teh, Da Huoai và La Ngà.
Cuối phần hạ trung lu là thác Trị An và hiện nay là nhà máy thủy điện Trị An.
Từ dới thác cho đến cửa Soài Rạp là phần hạ lu sông, có chiều dài 150 km. Sông đi
qua vùng đồng bằng, lòng sông rộng, sâu, độ dốc nhỏ, thủy triều ảnh h
ởng đến chân
thác Trị An. Các phụ lu chính chảy vào sông Đồng Nai ở hạ lu về bên phải có sông
Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ, bên trái hầu hết là các suối nhỏ mà đáng kể hơn cả
là sông Lá Buông. Cụ thể đặc điểm sông Đồng Nai phía hạ lu từ nhà máy thuỷ điện
Trị An đến ngã ba mũi Đèn đỏ nh sau:
Sông Đồng Nai đoạn từ cầu Đồng Nai tới ngã ba sông Sài Gòn có chiều dài
khoảng 35km, là phần cuối cùng của sông Đồng Nai. Phía bờ hữu là địa phận quận 9
và quận 2 - Tp. Hồ Chí Minh còn phía bờ tả thuộc địa phận Tp Biên Hoà, huyện Long
Thành và huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai.
Đoạn sông này vào mùa ma chịu ảnh hởng của lũ qua sự điều tiết của hồ Trị
An và vào mùa khô lại chịu ảnh hởng của chế độ thủy triều biển Đông. Mặt khác, do
Đề tài KC.08-29: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng
Nai - Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế x hội vùng Đông Nam bộ.
Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
7
địa hình quanh co khúc khuỷu nên chế độ dòng chảy của sông phức tạp, lòng sông bị
mở rộng hoặc xói sâu ở các đoạn cong. Theo kết quả điều tra có thể chia đoạn sông này
thành các đoạn: từ cầu Gềnh đến cầu Đồng Nai, từ cầu Đồng Nai đến ngã ba sông
H
ng huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai. Trong đoạn này có nhiều bến bãi bốc xếp vật
liệu và cầu tàu của cảng Đồng Nai. Trong phạm vi 1,5 km từ cầu Đồng Nai đi về phía
Đề tài KC.08-29: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng
Nai - Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế x hội vùng Đông Nam bộ.
Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
8
hạ lu là khu vực cảng Đồng Nai, đoạn này đang trong quá trình quy hoạch và xây
dựng các công trình cảng, một số công trình đã xây dựng trớc đây không đợc quy
hoạch làm bờ sông đứt đoạn và thiếu mỹ quan. Đoạn đờng bờ tiếp theo đến hết khu
vực cù lao Ba Xê, Ba Sang có chiều dài 2km, dân c tập trung sống đông đúc, trên đoạn
sông này hàng ngày các hoạt động khai thác cát bằng nhiều hình thức diễn ra khá nhộn
nhịp và đây là nguyên nhân chính gây xói lở cục bộ ở một số đoạn sông mặc dù không
có tác động của dòng chảy lên đờng bờ. Dọc theo đoạn đờng bờ nối tiếp đến khu vực
cửa sông Buông có chiều dài 6,5 km mật độ dân c tha dần cho đến cuối đoạn sông.
Bờ sông thoải và tơng đối ổn định, ven sông chủ yếu là cỏ lau và một số dừa nớc xen
lẫn những ruộng lúa.
c) Đoạn từ ngã ba sông Buông đến ngã ba Phớc Lý
Đây là đoạn sông cong, trên chiều dài 20km có tới 6 khúc cong ngợc chiều
nhau. Sự khúc khuỷu của sông đã làm cho lòng sông mở rộng, bề rộng sông biến đổi
trong khoảng từ 500m đến 1.000m. ở các đoạn bờ lõm do tác động của dòng chảy, bờ
sông bị xói lở tơng đối mạnh, chế độ dòng chảy phức tạp gây khó khăn cho giao
thông thủy. Hoạt động khai thác cát trên sông cũng là một nguyên nhân gây biến động
lòng sông. Nhìn chung quá trình phát triển của đoạn sông diễn ra theo tự nhiên và hầu
nh cha có tác động của con ngời lên đoạn sông.
Bờ hữu là địa phận phờng Long Phớc, Long Trờng, Phú Hữu quận 9 và một
phần phờng Cát Lái quận 2 - Tp. Hồ Chí Minh. Đoạn bờ thuộc khu vực quận 2 chủ
Bè, tại ngã ba sông này sự phân lu và hợp lu đã làm cho chế độ dòng chảy phức tạp, đây
là nguyên nhân dẫn đến sự mở rộng của lòng sông.
Bờ hữu thuộc địa phận phờng Cát Lái và phờng Thạch Mỹ Lợi quận 2- TP.
Hồ Chí Minh. Đây là khu vực bến phà Cát Lái, cầu cảng của nhà máy xi măng Sao Mai
và nhà máy xi măng Hà Tiên đang xây dựng. ở những đoạn xung quanh khu vực phà
Cát Lái trên chiều dài 3,5 km, bờ sông hầu hết đã có các công trình bến bãi, cầu cảng
và nhà dân xây dựng ven sông, bờ sông bị khống chế ở thế ổn định. Đoạn cuối cùng
tiếp giáp với sông Sài Gòn trên chiều dài 1,5 km, do tác động của dòng chảy, sóng do
gió và do tàu thuyền qua lại kết hợp với địa chất yếu của bờ sông, lòng sông có xu thế
mở rộng dần, bờ sông thoải và xói lở ở mức trung bình, tốc độ xói lở khoảng 2m đến
3m/năm.
Bờ tả thuộc địa phận xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Bờ sông
thoải, xu thế ổn định, có nhiều bần và dừa nớc mọc ven sông. Đoạn từ phà Cát Lái
xuống hạ lu trong phạm vi 1,5 km, bờ sông có hiện tợng bồi, cát bồi lắng thành bãi
ven sông. Đoạn trên phà Cát Lái bờ sông lại có hiện tợng xói nhẹ, bờ sông dốc và có
bậc thụt, dân c sống tha thớt ven sông. Lòng sông ở đoạn này khá rộng, mật độ tàu
thuyền qua lại và neo đậu trên sông dày đặc, phà Cát Lái là tuyến đờng thủy quan
trọng nối Tp. Hồ Chí Minh và huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai, đây còn là tuyến giao
thông thủy đi cảng Sài Gòn và cảng Đồng Nai. Trên sông có nhiều tàu thuyền khai thác
cát, đây cũng là vùng neo đậu tàu của cảng Cát Lái và cảng Sài Gòn.
1.3.2 Sông La Ngà
Sông La Ngà là chi lu lớn duy nhất nằm bên bờ trái dòng chính. Sông bắt
nguồn từ vùng núi cao ven Di Linh-Bảo Lộc với cao độ từ 1.300-1.600 m, chảy theo rìa
phía Tây tỉnh Bình Thuận, đổ vào dòng chính tại điểm cách thác Trị An 38 km về phía
thợng l
u. Chiều dài của sông theo nhánh Da Riam là 290 km, diện tích lu vực 4.100
km2. Hệ số uốn khúc 1,5. Độ dốc lòng sông đến Tà Pao là 0,0117 và đến cửa là 0,005.
Lu vực sông đợc mở rộng ở phần thợng lu và hạ lu. Thợng lu sông gồm 2
nhánh là Da Riam và Da R'gna chảy qua vùng núi hạ thấp theo hớng Đông-Nam của
Đề tài KC.08-29: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng
hớng Tây Bắc-Đông Nam và đổ vào sông Đồng Nai tại vị trí sau thác Trị An khoảng 6
km. Thực ra, đoạn sông này cũng có địa hình vùng trung lu sông.
1.3.4 Sông Sài Gòn
Sông Sài Gòn đợc hợp thành từ hai nhánh Sài Gòn và Sanh Đôi, bắt nguồn từ
các vùng đồi ở Lộc Ninh và ven biên giới Việt Nam-Căm Pu Chia, với độ cao khoảng
100-150 m.
Sông Sài Gòn quanh co uốn khúc cao độ đáy biến đổi từ -10,0 đến -30,0m, xuất
hiện nhiều vực sâu, lòng sông rộng từ 200 đến 400m. Sông Sài Gòn mang sắc thái của
sông đồng bằng đơn tuyến và là sông chịu ảnh hởng mạnh của thuỷ triều, độ dốc nhỏ
(0,0013). Sông có diện tích lu vực 4.700 km2, chiều dài 280 km. Thủy triều có thể
ảnh hởng đến tận Dầu Tiếng, cách cửa 148 km và cách biển 206 km. Đa phần sông
chảy trong vùng đồng bằng bằng phẳng có cao độ từ 5-20 m. Sông Sài Gòn chảy ngang
§Ị tµi KC.08-29: Nghiªn cøu ®Ị xt c¸c gi¶i ph¸p KHCN ®Ĩ ỉn ®Þnh lßng dÉn h¹ du hƯ thèng s«ng §ång
Nai - Sµi Gßn phơc vơ ph¸t triĨn kinh tÕ x∙ héi vïng §«ng Nam bé.
Chuyªn ®Ị 1: Tỉng quan ®iỊu kiƯn tù nhiªn - Kinh tÕ x∙ héi liªn quan ®Õn biÕn ®ỉi lßng dÉn HDS§NSG
11
TP. Hå ChÝ Minh trªn mét ®o¹n kho¶ng 70 km vµ ®ỉ ra s«ng Nhµ BÌ t¹i ng· ba mòi
§Ìn §á. Tõ Thđ DÇu Mét ®Õn cưa, s«ng Sµi Gßn cã ®é réng chõng 200-300 m, kh¸
s©u, ®Ỉc biƯt lµ ®o¹n gÇn cưa s«ng. Cơ thĨ ®Ỉc ®iĨm lßng dÉn s«ng Sµi Gßn qua c¸c
ph©n ®o¹n ®−ỵc m« t¶ nh− sau:
290 km
Biển Đông
ĐBSCL
VÙNG PHỤ CẬN VEN
Å
6,700 km
2
208 km
Sài Gòn
Bé
Đồng Nai
La Ngà
VC.Đông
VC. Tây
7,650 km
2
350 km
6,300 km
2
289 km
Đề tài KC.08-29: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng
Nai - Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế x hội vùng Đông Nam bộ.
Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
12
Bến Cát - Thị xã Thủ Dầu Một và huyện Thuận An, tỉnh Bình Dơng bên hữu ngạn và
Hình 1.4: Đặc điểm lòng dẫn sông Sài Gòn khu vực bán đảo Thanh Đa
b). Đoạn từ cầu Sài Gòn đến mũi Đèn đỏ
Đoạn sông từ cầu Sài Gòn đến mũi Đèn Đỏ dài 16.3km, nằm trên địa bàn các
quận 1, 2, 4, 7. Đoạn này có 3 khúc cong, trong đó có 2 khúc cong tại cầu cảng
ELTGAZ (quận 4) và tại cảng Rau quả (quận 7) là gấp khúc. Chiều rộng lòng sông
không đều nhau, đoạn từ cầu Sài Gòn đến kênh Tẻ dài 6.2 km, chiều rộng lòng sông
trung bình là 290 m, còn đoạn từ kênh Tẻ đến mũi Đèn đỏ dài 10.1km, chiều rộng lòng
sông trung bìnhlà 470 m, rộng nhất là đoạn gần mũi Đèn đỏ, có nơi lòng sông rộng
860m.
Trên đoạn sông này nớc sâu nên tập trung nhiều bến cảng rất lớn và hiện đại
vào bậc nhất nớc ta nh Tân cảng, cảng Sài Gòn, cảng Tân Thuận Đông, cảng Bến
Nghé, cảng container, nhiều kho tàng, nhà máy, xí nghiệp đóng tàu lớn nh Ba Son,
các khu dân c của thành phố Hồ Chí Minh trên địa bàn quận 2. Dọc theo hai bên bờ
sông là hàng loạt các công trình bảo vệ bờ, trong đó bao gồm kè kiên cố bảo vệ cầu
cảng, bảo vệ nhà máy, xí nghiệp đóng tàu, bến phà và bảo vệ các khu dân c, cho nên
đờng bờ hai bên sông là tơng đối ổn định nhất so với các đoạn khác của sông Sài
Gòn. Xem bảng 1.1
Đề tài KC.08-29: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng
Nai - Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế x hội vùng Đông Nam bộ.
Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
14
Bảng 1.1: Hình thái mặt bằng của các khúc sông cong từ cầu Bình Phớc đến
ngã ba mũi Đèn đỏ thuộc hạ du hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai
TT
1,04 1,034 36 0,55
2 Xã An Phú Đông, huyện Hóc Môn (ngang
cầu Bình Phớc)
1,09 0,992 90 1,125
3 Rạch Cầu, rạch Kinh 1,13 0,692 90 1,175
4 Phờng Hiệp Bình Phớc, Thủ Đức 1,21 0,76 112 0,800
5 Phờng 13, quận Bình Thạnh 1,06 1,094 68 0,575
6 Cầu Bình Lợi 1,12 0,735 92 0,475
7 Phờng Hiệp Bình Chánh, Thủ Đức 1,08 1,986 70 0,100
8 Phờng 28, quận Bình Thạnh (đối diện rạch
Gò Dừa)
1,14 0,462 78 1,425
9 Phờng 28, quận Bình Thạnh (đối diện sông
Thủ Đức và rạch Đào)
1,10 0,810 77 0,450
10 Phờng 28, quận Bình Thạnh (ngang khu
vực rạch Bàng, rạch Đập)
1,53 0,879 163 1,375
11
Phờng An Phú, quận 2 1,22 1,094 124 1,600
II Đoạn từ cầu Sài Gòn đến ng ba mũi Đèn
đỏ.
1
Từ cầu Sài Gòn đến rạch Thị Nghè (quận 1) 1,18 1,314 85 0,925
2 Từ rạch T Rô đến khu dân c (quận 2) đối
diện đờng Tôn Đức Thắng
1,12 1,093 70 0,875
3 Từ công ty Caric đến khu dân c (quận 2)
đối diện đờng Hàm Nghi và nhà lu niệm
K: Hệ số quan hệ hình dạng (hệ số cong gấp khúc)
Phân tích hình
thái mặt bằng của
tuyến sông cũng
cho thấy : do cấu
trúc địa chất có
phần đồng nhất,
hình thái mặt cắt
ngang lòng sông
chủ yếu quan hệ
đến điều kiện
dòng chảy và
cũng chính vì vậy
sự biến đổi của
chiều rộng lòng
sông dọc theo
Hình 1. 5: Khu đô thi mới Thủ Thiêm Q2 trên sông Sài Gòn
sông không có sự mở rộng hay co hẹp đột biến:
+ Đoạn từ cầu Bình Phớc đến ngã ba mũi Đèn đỏ: chiều rộng trung bình B =
220 ữ 470m. Chỗ rộng nhất sông Sài Gòn tại cửa sông, nơi hợp lu với sông Đồng
Nai), tại ngã ba mũi Đèn đỏ, chiều rộng là 860m.
+ Từ cầu Bình Phớc đến cầu Sài Gòn :
- Trên toàn đoạn này có 12 đoạn sông cong với 8 lần đổi chiều.
- Đoạn cong có hai bán kính cong cùng chiều thay đổi lớn nhất trớc cầu Sài
Gòn là 3,04; nhỏ nhất tại khu vực cầu Bình Phớc là 1,43.
- Giữa hai đoạn sông cong ngợc chiều hoặc đoạn chuyển tiếp ngắn, hoặc không
có đoạn chuyển tiếp.
- Đoạn sông có bán kính nhỏ nhất khu vực rạch Ông Ngũ R
11
Cỏ Tây có diện tích khoảng 3.200 km2, chiều dài 235 km. Sau khi hợp lu, đoạn sông
chung có chiều dài 36 km và đổ ra dòng chính Đồng Nai tại điểm gần cửa Xoài Rạp.
Tuy cùng một hệ thống nhng mỗi sông lại có một đặc điểm riêng. Vàm Cỏ Đông có
nguồn độc lập, nằm trọn trong phần đất MĐNB, nên đợc xem là thuộc hệ thống sông
Đồng Nai. Trong khi đó, Vàm Cỏ Tây có quan hệ chặt chẽ về mặt thủy văn-thủy lực
với sông Tiền, nên đợc xem là thuộc ĐBSCL. Cả hai sông này đều có độ dốc lòng
sông rất nhỏ (0,000050,0001), và vì vậy, thủy triều ảnh hởng rất sâu, 190 km trên
Vàm Cỏ Đông và 170 km trên sông Vàm Cỏ Tây, kể từ hợp lu hai sông, tức là khoảng
240 km và 220 km cách biển.
1.3.6 Hệ thống sông kênh vùng hạ lu hệ thống sông Đồng Nai
Hạ lu HTSĐN có một mạng lới sông-kênh khá dày. Ngoài một số sông rạch
tự nhiên còn là các kênh đào. Từ sau Trị An, sông Đồng Nai đi vào vùng ảnh hởng
thủy triều, lòng sông mở rộng và sâu, thích hợp với loại dao động lên xuống của triều.
Từ Nhà Bè trở xuống, sông chia thành nhiều nhánh nhỏ, mà đáng kể hơn cả là sông
Lòng Tàu. Sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông đợc nối bằng các kênh đào khá lớn nh
Rạch Tra, Thái Mỹ, kênh Xáng, kênh Ngang... Hệ thống kênh Đôi-kênh Tẻ và sông
Bình Điền đi ngang qua trung tâm TP. Hồ Chí Minh, nối sông Sài Gòn với Vàm Cỏ
Đông.
1.3.7- Sông Nhà Bè( ng ba mũi Đèn đỏ đến ng ba mũi Nhà Bè):
Sau vùng hợp lu với sông Đồng Nai là sông Nhà Bè có lòng sông rộng B (1000
-1600m), đáy sông biến đổi -10,0 đến -24,0m; chỗ hợp lu sâu đến 30m. Đây là đoạn
sông cong bờ hữu luôn bị xâm thực. Phía dới ngã ba mũi Nhà Bè phân thành hai phân
Đề tài KC.08-29: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng
Nai - Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế x hội vùng Đông Nam bộ.
Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
17
lu: Lòng Tàu, có chiều rộng B = 380 - 580m và Soài Rạp, có chiều rộng B = 1000m,
Minh có chiều dài khoảng 35km. Phía bờ hữu quanh co, có nhiều đoạn cong gấp khúc
nh
khúc cong An Ngãi và khúc cong gần ngã ba sông Lòng Tàu - Lôi Giang.
- Đoạn đờng bờ từ mũi Bình Khánh đến kinh Ông Đức (hay còn gọi là kinh
Ngay) có chiều dài 3km là đoạn bờ tơng đối thẳng. Lòng sông đoạn này có chiều rộng
Đề tài KC.08-29: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng
Nai - Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế x hội vùng Đông Nam bộ.
Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
18
khoảng 1.000m và là một trong những đoạn rộng nhất của sông Lòng Tàu. Mặc dù
lòng sông rất rộng nhng do đây là ngã ba phân lu của sông Nhà Bè mà cũng là ngã
ba hợp lu của các sông Nhà Bè-Lòng Tàu-Soài Rạp, hơn nữa đây là đoạn quanh của
tất cả các phơng tiện giao thông thủy có trọng tải lớn từ sông Nhà Bè ra biển và ngợc
lại cho nên bờ sông đoạn này thờng xuyên bị sạt lở, trung bình khoảng từ 0,5m đến
1,5m/năm. Trên bờ là dừa nớc mọc rất dày và có những bụi dừa cao khoảng 8m,
nhng nhiều gốc dừa cũng đã bị xói lở và trôi theo sông.
- Từ kinh Ông Đức đến rạch Đớc dài 2,5km đờng bờ có xu thế bồi, tuy mức
độ không nhiều nhng khi nớc triều rút có thể thấy đợc một bãi bồi khá dài chạy dọc
theo bờ. Đoạn này trên bờ cũng có rất nhiều dừa nớc và một ít các loại cây tạp khác
nh bần, chà là hay keo.
- Từ rạch Đớc đến rạch Vân có chiều dài khoảng 1,5km nhng bị sạt lở mạnh,
trung bình từ 1,5m đến 2m/năm. Đây là đoạn sông cong và luồng tàu chạy lại gần bờ
cho nên sóng do tàu gây nên có biên độ rất cao và làm cho bờ thờng xuyên bị sạt lở
mạnh. Trên bờ cũng có rất nhiều dừa nớc và các loại cây khác, nhng bờ vẫn bị sạt lở.
- Từ rạch Vân đến Tắc Cả Cát (đối diện ngã ba trên của sông Đồng Tranh) có
chiều dài khoảng 2,5km là đoạn đờng bờ tơng đối ổn định, không bị sạt lở, có một
vài đoạn đang bồi, nhng mức độ bồi không nhiều. Đoạn này sông hẹp dần và chiều
khoảng hơn 1km.
- Đoạn đờng bờ từ rạch Đơn đến ngã ba sông Lòng Tàu - Đồng Tranh - Ngã
Bảy có chiều dài khoảng 14km là những cánh rừng ngập mặn với đủ các loại cây,
nhng nhiều nhất là đớc (chiếm khoảng 70%), bần (20%) và các loại cây ngập mặn
khác nh mắm, sú, vẹt (10%). Những khu rừng ngập mặn này do Tổng đội Thanh niên
xung phong, đội An Bình, huyện Cần Giờ phụ trách. Đây là lá phổi của thành phố Hồ
Chí Minh, là rừng sinh thái do con ngời trồng lớn nhất nớc ta và đã đợc tổ chức
Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là rừng
sinh quyển của Thế giới. Đoạn đờng bờ này rất ổn định hầu nh không bị sạt lở vì các
loại cây nh đớc, bần có rễ ăn rất sâu vào trong đất nên chống đợc sóng gió, nhất là
sóng do các phơng tiện vận tải thủy lớn tạo nên. Quá nửa buổi chiều rất nhiều các loại
chim bay về những tổ của chúng trong khu rừng ngập mặn này. Đây là một nguồn tài
sản rất quí giá của thành phố Hồ Chí Minh và của cả nớc. Dọc theo bờ sông hiện nay
có các Trạm kiểm soát của các Tổng đội Thanh niên xung phong canh giữ rừng để đề
phòng các vụ cháy rừng và phá rừng.
* Phần phía bờ tả sông:
Phía bờ tả sông Lòng Tàu cũng đợc bắt đầu từ mũi Bình Khánh đến ngã ba
sông Lòng Tàu-Đồng Tranh-Ngã Bảy có chiều dài khoảng 34km. Bờ tả sông Lòng Tàu
quanh co, uốn khúc có nhiều đoạn sông cong và có nhiều sông lớn đổ vào nh sông
Đồng Tranh, sông Tắc Đinh Cầu, sông Dừa.
- Đờng bờ từ mũi Bình Khánh đến trụ điện cao thế có chiều dài khoảng 6km
tơng đối ổn định không lở, không bồi. Trên bờ dừa nớc mọc rất dày nên có tác dụng
bảo vệ bờ rất tốt. Tuy nhiên hiện nay nhiều ng
ời đang xây dựng các ao nuôi tôm rất
lớn và họ đã bắt đầu chặt phá dừa nớc và làm cho nhiều đoạn bờ đã bắt đầu có hiện
tợng sạt lở.
- Đoạn đờng bờ từ trụ điện cao thế đến Nông trờng Đô Hòa có chiều dài 7km
đang có xu thế bồi tuy mức độ không nhiều lắm. Đoạn này dân c sống đông đúc và
trên bờ vẫn là dừa nớc chiếm diện tích nhiều nhất, ngoài ra có một số loại cây khác
nh bần, chà là mọc xen kẽ nhau.
sông Cá Gâu dài khoảng 7km, đoạn tiếp theo từ sông Cá Gâu đến trớc mũi Nớc Vận
dài khoảng 3km, đoạn từ mũi Nớc Vận đến sông Đồng Điền dài khoảng 4km và một
đoạn từ cửa sông Đồng Điền ra đến chợ Cần Thạnh, xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ,
thành phố Hồ Chí Minh dài khoảng 4km.
- Đoạn đờng bờ từ ngã ba sông Lòng Tàu-Ngã Bảy đến ngã ba sông Cá Gâu có
chiều dài khoảng 7km thuộc địa phận xã Long Hoà, huyện Cần Giờ. Đoạn sông này
chỉ trừ một đoạn hơi cong còn lại những đoạn khác rất thẳng. Dọc theo bờ là những
cánh rừng ngập mặn thuộc huyện Cần Giờ với rất nhiều các loại cây khác nhau nh
bần, đớc, sú, vẹt, mắm nhng nhiều nhất là đớc. Các cánh rừng này là tài nguyên rất
quí giá, ngoài ra nó còn có khả năng chống sóng rất tốt, chống lại sự phá hoại đờng
bờ của sóng biển, sóng do các phơng tiện giao thông thủy và dòng chảy mạnh do thuỷ
triều gây nên, do đó đoạn đờng bờ này hầu nh không bị sạt lở và rất ổn định.
Đề tài KC.08-29: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng
Nai - Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế x hội vùng Đông Nam bộ.
Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
21
- Đoạn bờ sông dài khoảng 3km từ ngã ba sông Ông Tiên - Ngã Bảy về phía
thợng lu:
Bờ sông Ngã Bảy đoạn trớc mũi Nớc Vận này lại có thể chia làm 2 đoạn nhỏ
dựa theo mức độ sạt lở và hình dạng đoạn sông.
Đoạn thứ nhất, đoạn sông thẳng, điểm đầu của đoạn này cách mũi Nớc Vận
khoảng 3km và kéo dài khoảng 2km, lòng sông rộng chừng 700 - 800m. Dọc theo bờ
sông đoạn này cây cối khá dày, chủ yếu là các cây ngập mặn nh bần, đớc, chà là ...
Tốc độ sạt lở đoạn này vào khoảng 5m/năm. Sự chênh lệch lớn của mực nớc triều là
nguyên nhân gây ra sạt lở bờ, ngoài ra đây là tuyến đờng giao thông thủy chính vào
thành phố Hồ Chí Minh, hàng ngày có hàng trăm lợt tàu lớn qua lại gây ra sóng lớn,
22
- Đoạn bờ sông từ cửa sông Đồng Điền ra đến chợ Cần Thạnh, xã Cần Thạnh,
huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh:
Đoạn bờ này dài khoảng 4km nằm ngoài cửa sông Ngã Bảy, cũng chịu tác động
trực tiếp của sóng và triều biển Đông, tuy nhiên hớng của sóng lại gần nh song song
với đờng bờ nên mức độ sạt lở ít hơn đoạn phía trong sông trung bình khoảng
15m/năm. Đoạn này cũng không có công trình bảo vệ bờ nào cả.
Dọc theo đoạn đờng bờ ở xã Cần Thạnh khu vực chợ Cần Thạnh, ngời dân địa
phơng đã làm một số bờ kè tạm bằng cừ tràm để bảo vệ nhà cửa và phần đất của
mình. Khu vực này dân c sống tập trung đông đúc, chủ yếu làm nghề nuôi trồng, đánh
bắt và chế biến thủy, hải sản. Trong khu vực này cũng đã có điện sinh hoạt.
* Bờ tả sông Ng Bảy và vùng cửa sông:
Bờ tả sông Ngã Bảy từ ngã ba sông Lòng Tàu-Đồng Tranh-Ngã Bảy đến vịnh
Gành Rái có chiều dài khoảng 12km thuộc địa phận Nông trờng Quận I và xã Thạnh
An, huyện Cần Giờ. Có thể chia bờ tả sông Ngã Bảy thành 3 đoạn tuỳ theo mức độ xói
bồi của bờ.
- Đoạn đờng bờ từ ngã ba sông Lòng Tàu-Ngã Bảy đến đầu ấp Thiềng Liềng,
xã Thạnh An có chiều dài khoảng 5,5 km là một đoạn sông rất thẳng. Dọc theo bờ là
những cánh rừng ngập mặn bạt ngàn với đủ các loại cây chịu mặn nhng nhiều nhất là
đớc và bần. Đoạn này lòng sông rất rộng, nhiều nơi chiều rộng lòng sông là 1.200m.
Chỉ trừ một vài đoạn ngắn tại ngã ba hợp lu các sông lớn đờng bờ bị xói lở nhẹ, còn
lại hầu nh bờ rất ổn định và không có một hiện tợng xói lở nào.
- Đoạn bờ sông dài khoảng 4km từ đầu ấp Thiềng Liềng, xã Thạnh An, huyện
Cần Giờ trở ra:
Bờ sông Ngã Bảy đoạn này lại có thể chia làm 2 đoạn nhỏ dựa theo mức độ sạt
lở và hình dạng đoạn sông.
Đoạn thứ nhất, đoạn sông thẳng, điểm đầu của đoạn đối diện với điểm đầu của
bờ tả đoạn sông nghiên cứu và kéo dài khoảng 2,5km, lòng sông rộng chừng 700 -
800m. Đoạn này dọc theo bờ sông cây cối khá rậm rạp, chủ yếu là các cây chịu mặn
nh bần, đớc, chà là. Tốc độ sạt lở đoạn này vào khoảng 5m/năm. Nguyên nhân gây
lu sông Nhà Bè-Soài Rạp-Lòng Tàu và đổ ra biển Đông qua cửa Soài Rạp. Sông Soài
Rạp nằm trên địa phận các huyện Nhà Bè, Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh, các huyện
Cần Giuộc, Cần Đớc tỉnh Long An, huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang và có
chiều dài khoảng 45km.
Sông Soài Rạp có chiều rộng chênh lệch nhau, có nơi chỉ rộng khoảng 600m
(đỉnh cong cách bến phà Bình Khánh khoảng 3,5km Về phía hạ lu) và có nơi rộng đến
khoảng 2.500m (ngã ba sông Vàm Cỏ-Soài Rạp) lại có nơi rộng trêm 3.000m (tại vùng
cửa sông). Soài Rạp là một sông cong có nhiều kênh rạch đổ vào lại chịu ảnh hởng
trực tiếp của thủy triều biển Đông nhng tình hình xói bồi hai bên bờ sông, đoạn từ phà
Bình Khánh đến ngã ba sông Vàm Cỏ là tơng đối đơn giản vì lòng sông rộng. Qua
khỏi ngã ba sông Soài Rạp-Vàm Cỏ đến biển Đông thì tình hình bồi lắng lại trở nên
khá phức tạp vì trong mùa ma một lợng phù sa do nớc lũ đổ về từ sông Vàm Cỏ
theo dòng chảy từ sông Nhà Bè đổ về sông Soài Rạp và ra cửa sông. Hơn nữa theo
nhiều số liệu thống kê thì tổng l
ợng triều lớn nhất truyền vào cửa sông (tháng IV) qua
các cửa trung bình trong một ngày triều cờng là 1,36 tỷ m
3nhng trong đó cửa Soài
Rạp chỉ chiếm 22%, còn lại là các cửa khác nh Lòng Tàu, Đồng Tranh, Cái Mép.
Ngoài ra Soài Rạp chỉ là tuyến luồng ghe và tàu nhỏ đờng sông cho nên sự tác động
của sóng do ghe tàu gây nên là không đáng kể vì vậy theo nhiều tài liệu tại vùng cửa
sông thì tốc độ bồi lắng tơng đối đáng kể còn các khu vực khác thì đờng bờ hầu nh
khá ổn định.
Đề tài KC.08-29: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng
Nai - Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế x hội vùng Đông Nam bộ.
Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
u đến khu
vực đỉnh cong thuộc xã Hiệp Phớc, huyện Nhà Bè (đối diện rạch Ông Tân) có chiều
dài khoảng 2,5km rất ổn định, cây cối mọc ra sát mép nớc. Dân c tha thớt, chỉ có
một vài điểm khai thác cát trên sông.
- Từ khu vực đỉnh cong đi về phía cửa sông đờng bờ bị sạt lở trên một chiều
dài khoảng 500m, tốc độ sạt lở khoảng 2-3m/năm. ở khu vực này cây cối không phát
triển đợc, dân c không sống ở phía sát bờ sông.