VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ PHƯƠNG THẢO
HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN
MA TÚY TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số
: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS. TS. HỒ VIỆT HẠNH
Hà Nội, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ
cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn
trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố.
Hà Nội, tháng 03 năm 2017
Tác giả
Đinh Thị Phương Thảo
1.4. Chính sách hỗ trợ việc làm cho người sau cai nghiện ma túy tại Việt Nam ............................. 25
Chương 2 ............................................................................................................................ 28
THỰC TRẠNG HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA
TÚY TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .............................................................. 28
2.1. Khái quát chung về tình hình nghiện ma túy và công tác cai nghiện tại thành phố Hà Nội. .... 28
2.2. Các yếu tố tác động đến hỗ trợ việc làm cho người sau cai nghiện ma túy ............................... 38
2.3. Thực trạng hỗ trợ dạy nghề và việc làm đối với người sau cai nghiện ma túy ......................... 43
2.4 Thực trạng vay vốn hỗ trợ việc làm đối với người sau cai nghiện ma túy ................................. 55
2.5. Đánh giá chung ......................................................................................................................... 61
Chương 3 ............................................................................................................................ 65
GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA TÚY TỪ THỰC
TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ........................................................................................... 65
3.1. Một số yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến đào tạo nghề, vay vốn cho người sau cai nghiện
ma túy............................................................................................................................................... 65
3.2. Một số giải pháp hỗ trợ việc làm cho người sau cai nghiện ma túy tại Hà Nội ........................ 66
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 80
PHỤ LỤC............................................................................................................................ 84
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Viết đầy đủ
Viết tắt
:
TNXH
ATS
XHCN
Tệ nạn ma túy
:
Tệ nạn xã hội
:
Người sử dụng nhóm chất kích
thích
:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tuổi của người sau cai nghiện ma túy ................................................................ 31
Bảng 2.2: Sự chênh lệch về giới tính của người sau cai nghiện ma túy .............................. 32
Bảng 2.3: Tình trạng hôn nhân của người sau cai nghiện ma túy........................................ 33
Bảng 2.4: Trình độ học vấn của người sau cai nghiện ma túy............................................. 34
Bảng 2.5: Gia đình của người sau cai nghiện ma túy .......................................................... 35
Bảng 2.6: Nghề nghiệp của người sau cai nghiện ma túy trước khi sử dụng ma túy .......... 36
Bảng 2.7: Bảng thể hiện chất lượng cuộc sống của người sau cai nghiện ma túy ............... 38
Bảng 2.8: Biểu hiện tình trạng sức khỏe của người sau cai nghiện ma túy ......................... 39
Bảng 2.9: Nhận thức của người sau cai nghiện ma túy về mức độ cần thiết của việc làm . 40
Bảng 2.10: Công việc hiện tại của người sau cai nghiện ma túy ......................................... 46
nghiện thuốc phiện, heroin, xu hướng nghiện ma túy tổng hợp đang tăng
nhanh, đặc biệt là người sử dụng nhóm chất kích thích dạng Amphetamine
(ATS) đặc biệt là Methamphetamine (ma túy đá), Cocaine, Cần sa, Cỏ Mỹ, Lá
khát, Kẹo cười, Trà sữa... và các chất hướng thần khác. Người sử dụng bị ảnh
hưởng sức khỏe tâm thần, có nguy cơ gia tăng tội phạm gây mất trật tự, an
ninh và an toàn xã hội, điển hình như: Thành phố Hồ Chí Minh số người sử
dụng ma túy tổng hợp chiếm trên 48%, Đà Nẵng 85%, Tây Ninh 61%, Trà
Vinh 49%. Phần lớn người sử dụng ma túy tổng hợp gặp phải vấn đề về sức
1
khỏe tâm thần, hoang tưởng trong đó nhiều trường hợp đã có hành vi gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội.
Đến hết tháng 7/2015, các cơ sở cai nghiện ma túy trong cả nước đang
quản lý, điều trị, cai nghiện cho 24.123 người. Trong đó: cơ sở công lập
18.893 người (12.258 người cai nghiện bắt buộc, cai nghiện tự nguyện 3.301
người, quản lý sau cai tại cơ sở là 3.334 người); các cơ sở cai nghiện tư nhân
là 5.230 người; cai nghiện tại gia đình, cai nghiện và quản lý sau cai tại cộng
đồng là 25.397 người. Trong đó, cai nghiện tại cộng đồng là 5.513 người,
quản lý sau cai tại cộng đồng là 19.884 người.
Hỗ trợ việc làm cho người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi
là một trong những biện pháp quan trọng có ý nghĩa cả về kinh tế và xã hội,
nhằm giúp đối tượng trở về cuộc sống bình thường, góp phần nâng cao hiệu
quả công tác phòng chống tệ nạn ma túy. Trên thực tế, giải quyết việc làm cho
người nghiện ma túy sau khi được chữa trị, phục hồi còn nhiều hạn chế. Hàng
năm, số đối tượng được tạo việc làm ở cộng đồng chỉ chiếm khoảng 10% số
đối tượng được chữa trị, phục hồi. Nhìn chung tình hình việc làm của các đối
tượng sau cai là không thuận lợi, chỉ có 20% đối tượng có việc làm ổn định,
32,5% có việc làm nhưng không ổn định. Các đối tượng ở thành phố, thị xã
Cách tiếp cận tâm lý trị liệu nhận thức: Một trong những chuyên gia
hàng đầu khác trong lĩnh vực tâm lý trị liệu nhận thức ở Mỹ là Callahan R.J.
Ông có cách tiếp cận khác đến vấn đề nghiện. Ông cho rằng nguyên nhân của
nghiện ngập và thôi thúc một số người sử dụng các chất gây nghiện chính là
những cảm xúc tiêu cực mà họ phải trải nghiệm.
2.2 Nghiên cứu trong nước
Có nhiều công trình nghiên cứu đến vấn đề hỗ trợ việc làm đối với
người sau cai nghiện ma túy như:
“Các giải pháp tạo việc làm cho người nghiện ma túy, người mại dâm
sau khi được chữa trị phục hồi” do Nguyễn Văn Minh (2001) làm chủ nhiệm
3
đây là đề tài cấp Bộ 2001. Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm,
đời sống người nghiện ma túy, người bán dâm. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng
nhiều khả năng tái nghiện của người nghiện ma túy sau cai là do không có việc
làm, mặc dù nghị lực của đối tượng là yếu tố quyết định, sự quan tâm của gia
đình là yếu tố quan trọng giúp đối tượng từ bỏ tệ nạn xã hội. Do vậy, các đề xuất
của tác giả hướng tới hoàn thiện hệ thống các giải pháp tạo việc làm cho đối
tượng nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, giảm tỷ lệ tái phạm, tái nghiện.
Đề tài “Những giải pháp chủ yếu quản lý, dạy nghề cho người sau cai
nghiện ma túy trong chương trình ba năm ở các trường, trung tâm tại Thành
phố Hồ Chí Minh” (2004 - 2005) do Viện nghiên cứu xã hội thành phố Hồ
Chí Minh thực hiện. Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra những giải pháp thực tiễn
để đáp ứng nhiệm vụ quản lý và dạy nghề cho người sau cai nghiện ma túy
thuộc Đề án “Tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau
cai nghiện ma túy” do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
thông qua Nghị quyết 16/2003 - QH11 “Về việc thực hiện thí điểm tổ chức
quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma túy ở
thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”.
cai nghiện ma túy ở nước ta hiện nay” (năm 2008) đã chỉ ra rằng việc hỗ trợ
tạo việc làm cho những người sau cai nghiện ma túy ở nước ta là việc làm cơ
bản, cấp bách và lâu dài, có ý nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả
công tác cai nghiện, phục hồi, góp phần làm giảm tỷ lệ tái nghiện và phòng
chống các tệ nạn xã hội. Bên cạnh đó, việc làm cho người sau cai nghiện ma
túy là vấn đề lớn, cần phải có những giải pháp đồng bộ có hiệu quả, thiết thực
không chỉ là trách nhiệm của ngành lao động mà là của toàn xã hội. Nâng cao
năng lực đội ngũ cán bộ hỗ trợ tại trung tâm lao động xã hội, có các chính
sách hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp nhận người sau cai nghiện ma túy sẽ góp
phần giải quyết tốt vấn đề việc làm cho những người nghiện ma túy khi tái
hòa nhập cộng đồng.
5
Tác giả Phan Thị Mai Hương (2005) với nghiên cứu “Thanh niên nghiện
ma túy nhân cách và hoàn cảnh xã hội” là một cách tiếp cận mới về thanh
niên nghiện ma tuý - từ góc độ của tâm lý học. Tác giả đã phân tích, hệ thống
hoá những lý luận về đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội và sự ảnh hưởng
của chúng trong việc nghiên cứu hành vi của người nghiện ma tuý, cũng như
quan điểm về việc giải quyết chúng trong thực tiễn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra
một số đặc điểm nhân cách và hoàn cảnh xã hội nổi trội của thanh niên nghiện
ma tuý, mối quan hệ giữa các đặc điểm với hành vi nghiện. Trong đó, vai trò
gia đình được tác giả tìm hiểu ở khía cạnh môi trường gia đình gắn với vị thế
kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến đặc điểm nhân cách và mức độ nghiện của
thanh niên nghiện ma túy, cách quản lý của cha mẹ với con. Trên cơ sở đó, việc
ngăn ngừa hành vi nghiện ma tuý và việc cai nghiện ma tuý ở thanh niên cần
phải kết hợp giữa tri thức và biện pháp của tâm lý học. Kết quả nghiên cứu đã
định hướng về hướng giáo dục và ứng xử thích hợp với người nghiện ma tuý
cũng như góp phần ngăn ngừa việc lạm dụng ma tuý ở thanh thiếu niên.
Như vậy, các nhà nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài họ đã
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tập trung vào vấn đề hỗ trợ việc làm
đối với người sau cai nghiện ma túy tại thành phố Hà Nội
- Phạm vi khách thể: Người sau cai nghiện ma túy
- Phạm vi về không gian, thời gian: từ năm 2013 đến năm 2015 tại thành
phố Hà Nội
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng để phân tích và đánh giá các hoạt động
hỗ trợ việc làm cho người sau cai nghiện ma túy tại thành phố Hà Nội.
7
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu văn bản quy phạm pháp luật của Đảng và Nhà nước về cai
nghiện và quản lý sau cai nghiện, tài liệu nhằm xác định các phạm vi điều tiết
đối với các mối quan hệ giữa người sau cai nghiện và các đối tượng khác
trong xã hội nhằm tạo ra/phân bổ/phát huy mọi nguồn lực trong công tác hỗ
trợ việc làm đối với người sau cai nghiện.
Luật Phòng chống ma túy được Quốc hội ban hành ngày 19/12/2000 và
sửa đổi bổ sung năm 2008.
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính. Theo quy định của pháp luật Việt
Nam, hành vi sử dụng ma tuý trái phép không phải là tội phạm mà là hành vi
vi phạm pháp luật về mặt hành chính và được xử lý theo quy định của pháp
luật hành chính. Việc áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở chữa bệnh, đưa đi cai
nghiện bắt buộc tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội (gọi
tắt là cơ sở cai nghiện) đối với người nghiện ma túy được tiến hành bằng các
thủ tục hành chính được quy định trong Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính
và kiểm soát ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1001/2011/QĐ-TTg
ngày 27/6/2011, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có Quyết định số
19/QĐ-LĐTBXH ngày 09/01/2012 Phê duyệt “Kế hoạch thực hiện Chiến
lược Quốc gia phòng, chống và kiểm soát ma túy ở Việt Nam đến năm 2020
và định hướng đến năm 2030 trong lĩnh vực cai nghiện ma túy và quản lý sau
cai
nghiện
giai
đoạn
2012-2015”
và
Thông
tư
liên
tịch
số
27/2012/TTLT/BTC-BLĐTBXH ngày 24/02/2012 của Bộ Tài chính - Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện
Tình hình việc làm và nhu cầu việc làm của người sau cai nghiện ma túy
ở Hà Nội như thế nào?
Những đặc điểm về nhân khẩu- xã hội của người sau cai có tác động như
thế nào đến mong muốn tìm kiếm việc làm của người sau cai nghiện ma túy?
Gia đình và cộng đồng có vai trò như thế nào trong việc hỗ trợ tìm kiếm
việc làm của người sau cai nghiện ma túy?
Các bảng hỏi được kiểm tra (phỏng vấn thử) trước khi thực hiện các
phỏng vấn chính thức với tổng số mẫu đã chọn
Phương pháp phỏng vấn sâu
Đối tượng được lựa chọn để trả lời phỏng vấn sâu bao gồm:
+ Người sau cai nghiện ma túy: 12 trường hợp.
+ Cán bộ làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội và cán bộ lãnh đạo
quản lý tại Trung tâm: 06 trường hợp.
+ Gia đình, bạn bè, hàng xóm của người sau cai nghiện ma túy: 8
trường hợp.
Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
09 cuộc thảo luận nhóm tập trung đã được thực hiện với người sau cai
nghiện, gia đình người nghiện. Mỗi thảo luận nhóm sẽ có từ 10 – 13 người,
diễn ra từ 90 – 120 phút bao gồm: 03 cuộc với người sau cai nghiện; 03 cuộc
với người thân, bạn bè và hàng xóm của người sau cai nghiện; 02 cuộc với
lãnh đạo xã/phường và thôn/tổ dân phố có người sau cai nghiện. 01 cuộc với
cán bộ làm việc tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội số II. Những người
tham gia thảo luận nhóm thuộc trình độ học vấn và nghề nghiệp khác nhau.
5.2.3. Phương pháp chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu là ngẫu nhiên. Vì luận văn tập trung phân tích
vấn đề hỗ tìm kiếm việc làm cho người sau cai nghiện ma túy tại Hà Nội nên
tác giả đã tách số liệu về người sau cai nghiện tại địa bàn thành phố Hà Nội
để phân tích
tác hỗ trợ tạo việc làm đối với người sau cai nghiện ma túy từ thực tiễn thành
phố Hà Nội
12
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI
NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN MA TÚY
1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm về ma túy
Cho đến nay, trên thế giới không có một khái niệm thống nhất về “ma
túy” (drugs) hay “chất ma túy” (narcotic drugs). Công ước thống nhất về các
chất ma túy năm 1961 (gọi tắt là Công ước 1961) không đưa ra khái niệm
“chất ma túy” mà thay vào đó áp dụng phương pháp liệt kê để xác định trực
tiếp danh mục các chất ma túy bị kiểm soát. Kỹ thuật lập pháp này được sử
dụng trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm của các điều ước quốc tế về kiểm soát
ma túy trước đó, đặc biệt là Công ước về hạn chế việc sản xuất, phân phối
chất ma túy năm 1931 (gọi tắt là Công ước 1931). Trong quá trình dự thảo
Công ước 1931, một nhóm các chuyên gia quốc tế được yêu cầu đề xuất khái
niệm “chất ma túy” để sử dụng trong Công ước. Tuy nhiên, sau khi nghiên
cứu các chuyên gia đã kết luận rằng không thể đưa ra một khái niệm chung về
“chất ma túy” mà chỉ có thể đưa ra nhiều khái niệm khác nhau để mô tả các
chất được Công ước 1931 kiểm soát bởi vì Công ước này điều chỉnh nhiều
loại chất với những thuộc tính khoa học khác nhau. Chính vì vậy, để tránh
những khó khăn mà các nhà chuyên môn đã nêu, các nhà làm luật đã lựa chọn
phương pháp liệt kê để chỉ rõ các chất bị kiểm soát. Kế thừa kinh nghiệm của
Công ước 1931 và một số điều ước quốc tế khác về kiểm soát ma túy, Công
ước 1961 áp dụng phương pháp liệt kê để xác định các chất ma túy mà công
ước điều chỉnh.
Theo Luật Phòng chống ma túy được Quốc hội ban hành ngày 19/12/2000
Theo chúng tôi, nghiện ma túy phải đề cập đến ba vấn đề lớn của hiện
tượng này. Đó là sử dụng ma túy thường xuyên, sự phụ thuộc cả thể xác và
tinh thần vào ma túy và sự mất khả năng kiểm soát của người nghiện ma túy.
14
Có thể hiểu: Nghiện ma túy là sự phụ thuộc cả về thể xác và tinh thần vào ma
túy do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất khả
năng kiểm soát bản thân ở người nghiện ma túy, có hại cho cá nhân và xã hội.
Định nghĩa này đã bao hàm đầy đủ cơ chế của nghiện ma túy. Quan trọng hơn
nó đã khái quát được tác hại do nghiện ma túy gây ra một cách đầy đủ, toàn
diện. Khi dùng ma túy người nghiện được kích thích về cảm giác nên có được
những khoái cảm, tạo cho họ những cảm giác dễ chịu hơn là những cảm giác
họ phải chịu đựng trước đó. Đây chính là điều kích thích họ sử dụng lại ma
túy khi đã thử nghiệm nó. Thiếu ma túy, ở người nghiện sẽ xuất hiện hội
chứng cai, tức là những đau đớn, vật vã và một số phản ứng sinh lý khác ở cơ
thể người nghiện.
1.1.3. Khái niệm về người nghiện ma túy
Theo Khoản 11, Điều 2, Luật phòng, chống ma túy quy định “Người
nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng
thần và bị lệ thuộc vào các chất này”.
1.1.4. Khái niệm về người sau cai nghiện ma túy
Thông tư liên tịch giữa Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội quy định: người sau cai nghiện ma túy là người đã hoàn thành xong
thời gian cai nghiện ma tuý tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động
xã hội áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú hoặc đã hoàn
thành xong thời gian cai nghiện ma tuý tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động xã hội áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại Trung tâm.
1.1.5. Khái niêm việc làm và hỗ trợ việc làm của người sau cai nghiện
ma túy
Khái niệm về việc làm:
người trong xã hội. Đảm bảo để mọi người dân có nhu cầu làm việc có việc
làm, có thu nhập là một điều kiện tất yếu của một xã hội tiến bộ.
16
Việc làm và giải quyết việc làm đang là một trong những vấn đề xã hội
không chỉ riêng với từng quốc gia mà có tính chất toàn cầu, một số phương
thạo việc làm ở nước ta hiện nay đang áp dụng như: Đào tạo nghề (dài han,
trung hạn, ngắn hạn); vay vốn; kết nối người lao động với chủ các doanh
nghiệp thông qua các Trung tâm giới thiệu việc làm; xuất khẩu lao động; tạo
ưu đãi đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh những phương thức này
không những giải quyết được vấn đề thất nghiệp mà còn mang lại cả về mặt
kinh tế, chính trị và xã hội:
+ Về khía cạnh xã hội: nếu giải quyết tốt được vấn đề việc làm sẽ hạn
chế được các tiêu cực xã hội, giữ vững được kỷ cương, nề nếp xã hội.
+ Về khía cạnh chính trị: nếu không giải quyết tốt được vấn đề việc làm,
đến một thời điểm nào đó, vấn đề này sẽ vượt ra thành vấn đề chính trị. Trên
thế giới, nhiều chính phủ, nhiều chế độ chính trị đã bị đổ bởi đã không chú ý
hoặc không có giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề việc làm của mình.
+ Về khía cạnh kinh tế: vấn đề việc làm gắn liền với vấn đề sản xuất.
Hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của
sản xuất. Giải quyết tốt được vấn đề việc làm thì mới đảm bảo được sản xuất
phát triển, kinh tế mới đi lên. Đồng thời, kinh tế phát triển cũng sẽ tạo điều
kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm.
Khái niệm hỗ trợ:
Là chỉ tất cả những công việc, hoạt động, suy nghĩ nhằm giúp đỡ một
người hoặc nhóm người vượt qua vấn đề mà họ gặp phải bằng cách thức khác
nhau, bao gồm cả về thể chất, tinh thần, tiền bạc để nhằm khơi dậy tiềm lực
của người đó để họ có đủ khả năng đương đầu với hoàn cảnh khó khăn.
Trong nghiên cứu tác giả muốn sử dụng khái niệm hỗ trợ như một hệ thống
biện pháp trách nhiệm giải trình. Hỗ trợ trong công tác xã hội thúc đẩy sự công
bằng xã hội thông qua phát triển chính sách xã hội. Đối với việc phát triển các
chính sách xã hội, nhân viên công tác xã hội nghiên cứu các vấn đề xã hội để
18
thực hiện chính sách. Sử dụng nhân viên xã hội để hỗ trợ người lao động và gia
đình họ trong các vấn đề khó khăn về cá nhân, sức khỏe và tài chính.
Trong đề tài nghiên cứu này khái niệm hỗ trợ trong công tác xã hội được
hiểu là những hoạt động trợ giúp của nhân viên công tác xã hội trong tiến
trình làm việc với người sau cai nghiện ma túy nhằm hỗ trợ họ tìm kiếm việc
làm, phòng chống tái nghiện.
1.2. Nguyên tắc hỗ trợ việc làm đối với người sau cai nghiện ma túy
Nguyên tắc nền tảng của công tác xã hội hỗ trợ việc làm đối với người
sau cai nghiện ma túy:
- Đảm bảo phương pháp tiếp cận theo hướng lấy người sau cai nghiện
ma túy là trung tâm, tất cả các hoạt động trợ giúp đặc biệt là công tác hỗ trợ
tạo việc làm phải đặt người sau cai nghiện lên trên để đáp ứng tốt nhất nhu
cầu việc làm cho đối tượng.
- Hỗ trợ và cung cấp cho người sau cai nghiện dịch vụ tổng thể để người
sau cai có thể giải quyết được vấn đề ở nhiều phương diện từ việc làm để đảm
bảo nhu cầu sống tối thiểu cho đến nhu cầu tình cảm tâm lý, tinh thần xã hội.
- Đảm bảo an toàn tối đa xuyên suốt cho người sau cai từ giai đoạn tiếp
cận, quá trình hỗ trợ tạo việc làm cũng như khi công việc người sau cai đã đi
vào ổn định.
1.3. Cơ chế, vai trò của chính quyền, gia đình, bạn bè, người sau cai
nghiện trong quản lý và hỗ trợ việc làm đối với người sau cai nghiện
1.3.1. Vai trò của nhà nước và các cấp chính quyền về hỗ trợ việc làm
đối với người sau cai nghiện
Nhà nước là cơ quan quyền lực tối cao, có vai trò đầu não trong tổ chức