BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------------
PHẠM DUY LINH
THỂ CHẾ, NĂNG SUẤT YẾU TỐ TỔNG HỢP VÀ
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: NGHIÊN CỨU CÁC
QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2017
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT....................................................................................i
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ..........................................................................................iv
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ..........................................................................................1
1.1 Lý do chọn đề tài ...............................................................................................1
1.2 Khoảng trống nghiên cứu ..................................................................................4
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu .........................................................................9
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................10
1.5 Phương pháp nghiên cứu .................................................................................10
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án ......................................................12
1.7 Một số điểm mới và đóng góp của luận án .....................................................13
1.8 Kết cấu luận án ................................................................................................15
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
VỀ TFP, THỂ CHẾ VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG VỚI TĂNG TRƯỞNG
gia ................................................................................................................. 114
3.2.3.2 Phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu ............................................. 119
3.2.3.3 Kiểm định về sự khác biệt về thể chế giữa các nhóm mẫu .............. 122
Kết luận chương 3: .............................................................................................. 123
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... 125
4.1 Tác động của thể chế tới tăng trưởng TFP ............................................... 125
4.1.1 Mô hình ước lượng ................................................................................. 125
4.1.2 Kết quả nghiên cứu và bàn luận ............................................................. 125
4.1.2.1 Kết quả cho mẫu gộp ....................................................................... 127
4.1.2.2 Kết quả ước lượng cho từng nhóm mẫu........................................... 130
4.2 Tác động của thể chế, tăng trưởng TFP và tương tác của chúng tới tăng
trưởng kinh tế .................................................................................................... 133
4.2.1 Mô hình ước lượng ................................................................................. 133
4.2.2 Kết quả nghiên cứu và bàn luận ............................................................. 134
4.2.2.1 Kết quả ước lượng cho mẫu gộp ...................................................... 135
4.2.2.2 Kết quả ước lượng cho từng nhóm mẫu........................................... 139
4.3 Kiểm định tính vững của mô hình..............................................................143
Kết luận chương 4:...............................................................................................146
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ...........................................148
5.1 Kết luận .........................................................................................................148
5.2 Hàm ý chính sách .........................................................................................154
5.2.1 Đối với việc cải thiện và nâng cao chất lượng thể chế ...........................156
5.2.2 Đối với việc thúc đẩy tăng trưởng TFP và nâng cao tỷ trọng đóng góp của
TFP đến tăng trưởng. ........................................................................................159
5.2.3 Một số hàm ý chính sách khác nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ........161
5.3 Đóng góp của luận án và một số hạn chế ...................................................161
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ....................163
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................165
FEM
Fixed Effects Model
Mô hình hiệu ứng cố định
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GMM
Generalized Method of Moments Phương pháp moment tổng quát
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
IV
Instrument Variable
Biến công cụ
ICRG
tế
REM
Random Effects Model
Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên
R&D
Research and Development
Nghiên cứu và triển khai
TFP
Total Factor Productivity
Năng suất yếu tố tổng hợp
2SLS
Two Stage Least Squares
Bình phương nhỏ nhất hai giai
đoạn
WB
Bảng 2.3: Tóm tắt các nghiên cứu về tác động của TFP đến tăng trưởng .............. 89
Bảng 3.1: Mô tả tóm tắt các biến và nguồn dữ liệu ............................................... 114
Bảng 3.2: Thống kê mô tả các biến ở mẫu gộp ...................................................... 120
Bảng 3.3: Thống kê mô tả các biến ở mẫu thu nhập trung bình thấp .................... 121
Bảng 3.4: Thống kê mô tả các biến ở mẫu thu nhập trung bình khá ..................... 121
Bảng 3.5: Thống kê mô tả các biến ở mẫu thu nhập cao ....................................... 122
Bảng 3.6: Kết quả kiểm định sự khác biệt về chất lượng thể chế .......................... 123
Bảng 4.1: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến chất lượng thể chế ................. 126
Bảng 4.2: Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu ....................... 126
Bảng 4.3: Kết quả ước lượng GMM sai phân Arellano-Bond cho mẫu gộp ........ 127
Bảng 4.4: Kết quả ước lượng GMM sai phân Arellano-Bond cho nhóm các quốc gia
thu nhập trung bình thấp......................................................................................... 130
Bảng 4.5: Kết quả ước lượng GMM sai phân Arellano-Bond cho nhóm các quốc gia
thu nhập trung bình khá .......................................................................................... 131
Bảng 4.6: Kết quả ước lượng GMM sai phân Arellano-Bond cho nhóm các quốc gia
thu nhập cao............................................................................................................ 132
Bảng 4.7: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình ........................ 135
Bảng 4.8: Kết quả ước lượng GMM sai phân Arellano-Bond cho mẫu gộp ......... 135
Bảng 4.9: Kết quả ước lượng GMM sai phân Arellano-Bond cho nhóm quốc gia thu
nhập trung bình thấp ............................................................................................... 139
iii
Bảng 4.10: Kết quả ước lượng GMM sai phân Arellano-Bond cho nhóm quốc gia
thu nhập trung bình khá...........................................................................................140
Bảng 4.11: Kết quả ước lượng GMM sai phân Arellano-Bond cho nhóm quốc gia
thu nhập cao ............................................................................................................140
Bảng 4.12: Kết quả ước lượng GMM sai phân Arellano-Bond cho mẫu gộp ........144
Bảng 4.13: Kết quả ước lượng FE-2SLS cho mẫu gộp ..........................................145
Tại sao một số quốc gia quá giàu trong khi một số khác lại quá nghèo? Câu hỏi
được Adam Smith đặt ra ngay tựa đề của tác phẩm “An Inquiry into the Nature and
Causes of the Wealth of Nations” vào năm 1776. Hơn 200 năm sau, câu hỏi này lại
được hai nhà nghiên cứu kinh tế là Daron Acemoglu & James Robinson đề cập
trong tác phẩm nổi tiếng “Why nations fail: the origins of power, prosperity, and
poverty” vào năm 2012.
Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu vĩ mô hàng đầu của chính phủ các quốc gia.
Todaro & Smith (2015) nhận định tăng trưởng kinh tế là một quá trình ổn định mà
theo đó năng lực sản xuất của nền kinh tế được tăng lên theo thời gian để mang lại
mức tăng sản lượng quốc gia và gia tăng thu nhập. Có thể thấy, tăng trưởng kinh tế
thể hiện bởi khối lượng của cải của quốc gia không ngừng tăng lên, các lý thuyết
tăng trưởng đã chỉ rõ sự gia tăng này có thể đạt được qua việc bổ sung thêm yếu tố
đầu vào cho sản xuất như vốn, lao động, hoặc bằng cách sử dụng tốt hơn các yếu tố
đầu vào với mức tiêu phí ngày càng ít hơn để thu được sản phẩm đầu ra ngày càng
nhiều và có chất lượng cao hơn. Mặc dù đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế khá
cao qua hai thập kỷ gần đây, nhưng đa số các quốc gia đang phát triển vẫn chưa bắt
kịp về mức thu nhập bình quân so với các nước phát triển. Trong bối cảnh mà tác
động của việc gia tăng vốn và lao động đến tăng trưởng đang dần giảm sút, các
quốc gia đang phát triển muốn tiếp tục đạt được sự tăng trưởng thì nhất thiết phải
tạo ra năng suất ngày càng cao. Báo cáo về triển vọng phát triển toàn cầu, OECD
(2014) đã đề cập tới việc cần phải thúc đẩy tăng năng suất để duy trì tăng trưởng
trong tương lai cho các nền kinh tế đang phát triển. Đánh giá tầm quan trọng của
năng suất tới tăng trưởng trong dài hạn, Krugman (1997, trang 11) nhận định “Năng
suất không phải là tất cả, nhưng về lâu dài thì nó gần như là tất cả. Khả năng không
2
ngừng nâng cao mức sống của một đất nước phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào khả
năng tăng sản lượng trên đầu công nhân của nước đó”. Như vậy, năng suất là chỉ số
(1973) đã phân tích nguyên nhân dẫn tới tăng trưởng khi phân tách yếu tố quyết
định tác động tới phát triển kinh tế bao gồm yếu tố trực tiếp (Proximate
determinants) và yếu tố căn nguyên (Fundamental determinants), cụ thể hai tác giả
biện luận mối quan hệ trong đó xem thể chế là yếu tố căn nguyên dẫn tới phát triển
kinh tế qua sơ đồ sau:
TFP
Thể chế
Vốn con người
Phát triển kinh tế
Vốn vật chất
Qua việc phân tích các lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, lý thuyết tăng trưởng nội
sinh và lý thuyết về kinh tế học thể chế mới, có thể thấy mỗi lý thuyết đều đề cập tới
yếu tố chính mà nó nghiên cứu. Vậy yếu tố nào là căn nguyên giúp gia tăng năng
suất (vốn con người, công nghệ, hay nền tảng thể chế của quốc gia) để từ đó tạo
động lực cho tăng trưởng là chủ đề còn nhiều tranh luận giữa các nhà nghiên cứu.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm từ trước đến nay hầu hết chỉ xem xét vai
trò của thể chế và TFP như những yếu tố độc lập trong mô hình mà chưa nhấn mạnh
mối quan hệ giữa thể chế, TFP và tăng trưởng để xem chúng tương tác với nhau như
thế nào, yếu tố nào là gốc rễ dẫn tới tăng trưởng dài hạn.
Xuất phát từ những nhận định trên, trước bối cảnh mà các quốc gia, đặc biệt là
nhóm quốc gia đang phát triển vẫn tiếp tục tìm kiếm mô hình tăng trưởng phù hợp
để có thể bắt kịp với các nền kinh tế phát triển, đề tài nghiên cứu về: “Thể chế ,
năng suất yếu tố tổng hợp và tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu các quốc gia
đang phát triển” là cần thiết nhằm củng cố thêm về mặt lý thuyết và bổ sung các
bằng chứng thực nghiệm về vai trò của thể chế, TFP, cũng như mối quan hệ của
chúng tới tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển. Từ những kết quả
nhận định sau: “Một hạn chế cơ bản của kinh tế học truyền thống khi tiếp cận các
nguồn cho tăng trưởng năng suất là nó không đưa vấn đề tăng trưởng và năng suất
vào một bối cảnh thể chế năng động” (North, 1994, trang 9).
5
Luận án nhận thấy các lý thuyết tăng trưởng vẫn còn tiếp tục tranh luận và tìm
kiếm yếu tố căn nguyên dẫn tới tăng trưởng và phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, mặc
dù được thừa nhận là một yếu tố có tác động tới tăng trưởng nhưng việc nghiên cứu
để đưa thể chế vào khung phân tích của lý thuyết tăng trưởng truyền thống cũng
mới bắt đầu thời gian gần đây. Sala-i-Martin (2002) cũng nhận định, hiện vẫn đang
trong giai đoạn đầu khi đề cập tới thể chế vào các lý thuyết tăng trưởng.
Về mặt nghiên cứu thực nghiệm:
Thứ nhất: Đa số các nghiên cứu xem xét riêng từng mối quan hệ của thể chế đến
tăng trưởng, của TFP đến tăng trưởng, còn ít nghiên cứu cùng đưa cả thể chế, TFP
vào mô hình để cùng phân tích tác động tới tăng trưởng. Trong khi như lập luận của
lý thuyết kinh tế học thể chế mới thì ba yếu tố này là một chuỗi quan hệ tương tác
với nhau, trong đó thể chế và năng suất có quan hệ qua lại thúc đẩy nhau từ đó tác
động tới tăng trưởng kinh tế. North (1994) đã đưa ra những kết luận về cách mà thể
chế đã và đang ảnh hưởng tới thay đổi về năng suất như: (i) Môi trường thể chế
kinh tế, chính trị thuận lợi có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất; (ii)
Năng suất gia tăng đôi khi được khởi xướng bởi thay đổi công nghệ dẫn tới thay đổi
thể chế, và đôi khi do thay đổi thể chế mà gây ra thay đổi công nghệ; (iii) Sự phát
triển của chính phủ và điều hành của chính phủ chắc chắn đã, đang và tiếp tục có
một ảnh hưởng lớn tới năng suất cho dù chúng ta không có cách thức nào đo lường
trực tiếp được tác động của nó. Các nghiên cứu thực nghiệm của Hall & Jones
(1999), Islam (2008), Tebaldi & Elmslie (2013), Krammer (2015) về ảnh hưởng của
thể chế tới thay đổi năng suất đã chỉ ra chất lượng thể chế có mối quan hệ dương
với năng suất.
chung một khung phân tích luận án nhận thấy: Nghiên cứu của Henriksen & cộng
sự (2011) về mối quan hệ của thể chế, năng suất và sản lượng trong ngành sản xuất
bơ, sữa của Đan Mạch đã đi đến kết luận sự đổi mới thể chế dẫn tới sự đổi mới về
công nghệ dẫn tới sự thành công của ngành sản xuất bơ sữa, qua đó đóng góp cho
sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của Đan Mạch. Mặc dù đề cập tới cả ba yếu tố,
nhưng kết quả của nghiên cứu này ở phạm vi một ngành kinh tế. Tang & cộng sự
(2008) trong bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa thể chế, thay đổi công nghệ với
biến động kinh tế vĩ mô đã đánh giá tác động của cả chất lượng thể chế (thông qua
7
biến đại diện là: Nguy cơ bị quốc hữu hóa; Các ràng buộc ban đầu về quyền hành
pháp) và tăng trưởng TFP (dẫn xuất cho thay đổi công nghệ) trong cùng một mô
hình. Tuy nhiên, các tác giả sử dụng biến phụ thuộc là bất ổn kinh tế vĩ mô hay biến
động tăng trưởng kinh tế nên kết quả chủ yếu giải thích về ảnh hưởng của chất
lượng thể chế và thay đổi công nghệ trong việc giảm bớt những bất ổn này chứ chưa
đề cập tới việc chúng có làm cải thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế hay không. Trong
một nghiên cứu có chủ đề tương tự, Gimenez & Sanau (2007) đã xem xét quan hệ
của ba yếu tố này trong một mô hình trên một mẫu gồm 64 quốc gia. Nghiên cứu
xây dựng một hệ phương trình để đánh giá tác động của chất lượng thể chế, tiến bộ
công nghệ đến tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ của các yếu tố khác đến chất
lượng thể chế và tiến bộ công nghệ. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện tác động
dương của chất lượng thể chế, tiến bộ công nghệ và vốn con người đến tăng trưởng,
nghiên cứu cũng nhận định đây là những yếu tố quan trọng có tính quyết định đến
tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Tuy nhiên, dữ liệu của bài nghiên cứu ở giai
đoạn khá xa từ 1985 - 1997, hơn nữa, biến dẫn xuất cho yếu tố (A) hay được xem là
TFP trong mô hình tăng trưởng là tỷ lệ gia tăng về số lượng tạp chí khoa học, kỹ
thuật được xuất bản. Tương tự, Tebaldi & Elmslie (2013) cũng sử dụng số lượng
bằng phát minh, sáng chế để dẫn xuất cho đổi mới và tiến bộ công nghệ khi đánh
mức tăng trưởng nhanh hơn các quốc gia có chất lượng thể chế kém. Trong khi đó,
Venard (2013) khi thực hiện phân tách mẫu nghiên cứu thành nhóm nước có chất
lượng thể chế thấp và nhóm có chất lượng thể chế cao lại cho rằng việc cải thiện
chất lượng thể chế là có hiệu quả hơn cho sự phát triển kinh tế ở các nước có chất
lượng thể chế thấp. Vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu cụ thể vai trò của chất lượng thể
chế và TFP đến tăng trưởng kinh tế cho từng nhóm quốc gia có đặc điểm tương
đồng là cần thiết để bổ sung cho các nghiên cứu trước đây, từ đó đề xuất các khuyến
nghị phù hợp cho từng nhóm quốc gia.
Thứ ba: Khi nghiên cứu về thể chế, có rất nhiều biến được sử dụng để dẫn xuất cho
chất lượng thể chế như: Bộ chỉ số đánh giá về rủi ro môi trường kinh doanh (BERI);
Bộ chỉ số đánh giá rủi ro quốc gia (ICRG) gồm các các tiêu chí như chính trị, kinh
tế, tài chính của các quốc gia, hay các thước đo về tính dân chủ, tính tự do kinh tế
của một quốc gia; Bộ chỉ số Polity gồm các thước đo về tính dân chủ của một quốc
gia; Bộ chỉ số quản trị công toàn cầu (WGI) gồm sáu chỉ số đánh giá về khu vực
9
công. Việc xác định biến đại điện nào phản ánh chính xác và đầy đủ nhất về chất
lượng thể chế của mỗi quốc gia cũng chưa được một nghiên cứu nào chỉ ra. Vì vậy,
kết quả của các nghiên cứu khó so sánh với nhau để có nhận định chính xác về vai
trò của chất lượng thể chế tới tăng trưởng TFP và tăng trưởng kinh tế. Đối với các
nghiên cứu có sử dụng bộ chỉ số quản trị công của WB thì chưa thấy có nghiên cứu
nào sử dụng cùng lúc cả sáu chỉ số để ước lượng tác động của chúng tới tăng trưởng
TFP và tăng trưởng kinh tế.
Thứ tư: Tìm hiểu bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam, các nghiên cứu cùng chủ để
mà luận án lược khảo như nghiên cứu về thể chế và tăng trưởng kinh tế của Nguyễn
Văn Phúc (2013), Nguyễn Hồng Nga (2013), nghiên cứu về vai trò của TFP tới tăng
trưởng kinh tế của Trần Thọ Đạt & Đỗ Thị Tuyết Nhung (2011) đều sử dụng
phương pháp phân tích, thống kê mô tả, chưa thấy có nghiên cứu thực nghiệm nào
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp tổng hợp, phân tích so sánh và thống kê mô tả: Các phương pháp
này được sử dụng để tiến hành lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm
liên quan, từ đó phân tích so sánh nhằm xây dựng khung phân tích cho luận án.
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để đánh giá và phân tích thực trạng về
dữ liệu các biến trong mô hình nghiên cứu.
Phương pháp định lượng: Là phương pháp chính của luận án nhằm nghiên cứu tác
động của chất lượng thể chế tới tăng trưởng TFP và tác động của chất lượng thể
chế, tăng trưởng TFP và tương tác của chúng tới tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở
hàm sản xuất Cobb - Douglas, lý thuyết tăng trưởng nội sinh và lý thuyết kinh tế
học thể chế mới, luận án tiến hành xây dựng hai mô hình thực nghiệm. Phương
pháp ước lượng GMM sai phân được sử dụng để phân tích cho bộ dữ liệu bảng cân
bằng gồm mẫu gộp 71 quốc gia đang phát triển và ba nhóm mẫu khác. Lý do
phương pháp GMM được sử dụng bởi:
11
(i) Tính chất của các biến nghiên cứu đều là các biến số vĩ mô thường có tương
quan với phần dư nên có thể xuất hiện hiện tượng nội sinh trong mô hình.
(ii) Việc sử dụng biến trễ của biến phụ thuộc là biến độc lập cũng dẫn tới hiện tượng
tự tương quan cao và nội sinh.
Vì thế, việc hồi quy các biến này theo phương pháp hồi quy cổ điển có thể dẫn đến
kết quả ước lượng là không vững và không hiệu quả. Phương pháp GMM sai phân
được phát triển bởi Arellano và Bond (1991) có thể xử lý tốt các vấn đề trên hơn so
với các phương pháp ước lượng OLS, FE, RE. Đồng thời, phương pháp GMM sai
phân cũng cho phép khai thác được tính động của dữ liệu bảng. Bên cạnh đó, để
kiểm tra tính vững của mô hình, luận án sử dụng thêm phương pháp hồi quy hai giai
đoạn trên nền tảng hiệu ứng cố định (FE-2SLS). Quy trình nghiên cứu như sau:
mới trong vấn đề nghiên cứu.
Ý nghĩa thực tiễn: Trong bối cảnh các nền kinh tế thế giới đối mặt với sự sụt giảm
về tốc độ tăng trưởng, khiến cho các nước đang phát triển khó có cơ hội để đuổi kịp
các nước phát triển. Để tạo ra một động lực mới cho tăng trưởng kinh tế, thời gian
gần đây vấn đề về thể chế và năng suất tổng hợp được các nhà nghiên cứu cũng như
các nhà xây dựng chính sách tại các quốc gia đặc biệt quan tâm. Kết quả nghiên cứu
của luận án có ý nghĩa về mặt thực tiễn cho các quốc gia đang phát triển nói chung
trong quá trình phát triển kinh tế của mình. Từ các phát hiện về tác động của chất
lượng thể chế đến tăng trưởng TFP, tác động của chất lượng thể chế và TFP đến
tăng trưởng kinh tế, cũng như các mối quan hệ của chi tiêu công, đầu tư, độ mở
thương mại, lạm phát đến TFP và tăng trưởng. Luận án đưa ra những hàm ý chính
sách phù hợp trong việc nâng cao chất lượng thể chế, gia tăng năng suất và một số
hàm ý khác cho các quốc gia này. Các gợi ý này có thể được sử dụng cho các nhà
hoạch định chính sách, các nhà quản lý quản lý kinh tế vĩ mô tham khảo trong quản
lý điều hành nền kinh tế của quốc gia.
13
1.7 Một số điểm mới và đóng góp của luận án
Thứ nhất: Trên cơ sở lý thuyết kinh tế học thể chế mới và các mô hình phân tích
tác động của chất lượng thể chế tới sự thay đổi về năng suất hay sự đổi mới về
công nghệ với tăng trưởng kinh tế của Huang & Xu (1999), Tebaldi & Mohan
(2009), Gimenez & Sanau (2007). Luận án trước hết xem xét tác động của chất
lượng thể chế tới tăng trưởng TFP, sau đó đưa hai yếu tố thể chế và TFP vào một
khung phân tích chung để kiểm định tác động đồng thời của chúng tới tăng trưởng
kinh tế. Việc kết nối giữa thể chế với TFP và tăng trưởng kinh tế đã cung cấp thêm
những minh chứng về cả vai trò trực tiếp, gián tiếp của thể chế trong việc thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế. Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy, yếu tố TFP (hay còn được
xem là biến phản ánh sự tiến bộ công nghệ) có vai trò trung gian quan trọng mà
cứu của Omoteso & Ishola Mobolaji (2014) lại phát hiện ổn định chính trị và chất
lượng luật pháp có tác động dương tới tăng trưởng, còn hiệu quả chính phủ thì có
tác động âm. Nghiên cứu của Gimenez & Sanau (2007), Fayissa & Gill (2015)
cũng sử dụng sáu chỉ số nhưng quy đổi thành một chỉ số tổng hợp chung nên kết
quả chưa đi tới nhận định cụ thể về chất lượng thể chế qua từng chỉ số đo lường,
dẫn tới các khuyến nghị để cải thiện thể chế cũng mang tính tổng quát chung.
Do đó, trước hết luận án sử dụng cả sáu chỉ số đánh giá chất lượng quản trị công
này dẫn xuất cho chất lượng thể chế, bằng cách ước lượng lần lượt từng chỉ số qua
hai mô hình nhằm tìm kiếm một kết quả tổng hợp và nhất quán về vai trò của thể
chế tới tăng trưởng TFP và tăng trưởng kinh tế. Tiếp theo, để kiểm tra tính vững
của mô hình nghiên cứu, luận án sử dụng chỉ số trung bình của sáu biến thể chế để
kiểm định tác động của nó cho mẫu gộp thông qua phương pháp ước lượng GMM
sai phân và phương pháp FE-2SLS. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở cả hai phương
pháp kiểm tra này các biến giải thích chính có sự nhất quán cao với kết quả ước
lượng trước đó, trong khi các biến giải thích còn lại cũng có sự tương đồng với tỷ lệ
thấp nhất là 66.6% và cao nhất là 85,7% so với kết quả ước lượng chính của luận án.
Thứ tư: Sau khi kiểm định tại mẫu gộp, luận án thực hiện phân tách thành ba nhóm
mẫu để kiểm định gồm nhóm quốc gia có thu nhập trung bình, nhóm quốc gia có
thu nhập trung bình khá và nhóm quốc gia có thu nhập cao. Để có cơ sở rõ ràng
hơn trong việc phân mẫu, luận án thực hiện kiểm định “T test” dựa trên dữ liệu về
15
chất lượng thể chế. Kiểm định “T test” cho thấy ba nhóm mẫu là có sự khác biệt về
chất lượng thể chế với nhau. Việc ước lượng tại các nhóm mẫu này nhằm so sánh
với mẫu gộp xem có sự nhất quán hay khác biệt gì về các tác động tại hai mô hình
nghiên cứu không, từ đó có các khuyến nghị chính sách phù hợp hơn cho mỗi
nhóm quốc gia. Kết quả so sánh cũng chỉ ra một số khác biệt, ví dụ như tác động
của chất lượng thể chế tới tăng trưởng TFP và tăng trưởng kinh tế tại mẫu quốc gia
TFP để duy trì tăng trưởng kinh tế trong dài hạn của các quốc gia đang phát triển.
17
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ TFP,
THỂ CHẾ VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG VỚI
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.1 Lý thuyết về TFP và thể chế
2.1.1 Lý thuyết về TFP
2.1.1.1 Khái niệm về TFP
Nhà kinh tế học Adam Smith là người đầu tiên đề cập tới thuật ngữ năng suất trong
nghiên cứu về kinh tế khi bàn về hiệu quả của sản xuất phụ thuộc vào lao động, ông
cho rằng năng suất có thể tăng lên nhờ sự phân công lao động. Bằng việc chuyên
môn hoá công nhân, mỗi người làm một công việc khác nhau với các chức năng
khác nhau trong một đầu mối công việc tổng thể sẽ đem lại hiệu quả hơn là việc để
một người làm toàn bộ các công đoạn từ đầu đến cuối. Adam Smith nhận thấy rằng
cách này có thể khiến cho người công nhân trở nên thành thạo hơn trong công việc
của mình, dẫn đến hiệu quả làm việc cao hơn. Có thể hiểu năng suất là thước đo
lượng đầu ra được tạo thành từ các yếu tố đầu vào. Trong đó các yếu tố đầu ra là tập
hợp các kết quả như số lượng sản phẩm, hàng hóa, tổng giá trị sản xuất kinh doanh,
tổng giá trị sản phẩm của nền kinh tế…, đầu vào bao gồm các yếu tố như lao động,
máy móc, vốn, công nghệ, trình độ quản lý... Quan hệ giữa đầu ra và đầu vào chính
là năng suất, trong giai đoạn đầu của nền kinh tế hàng hóa, các nhà nghiên cứu
thường nhấn mạnh yếu tố đầu vào là lao động và năng suất cũng thường được hiểu là
năng suất lao động. Tuy nhiên, thực tế năng suất mang tính toàn diện hơn nhiều.
Năm 1958, Cơ quan Năng suất Châu Âu (EPA) đã đưa ra định nghĩa về năng suất:
Năng suất là một hình thái tư duy, đó là thái độ luôn tìm kiếm để cải thiện những gì