MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
NGHỀ Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP
1.1. Quan niệm về quản lý hoạt động đào tạo nghề ở các
trường Trung cấp chuyên nghiệp
1.2. Nội dung quản lý hoạt động đào tạo nghề ở các Trường
Trung cấp chuyên nghiệp
1.3. Nhân tố tác động đến quản lý hoạt động đào tạo nghề ở
Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh
Nam Định
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO
TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP THƯƠNG MẠIDU LỊCH - DỊCH VỤ TỈNH NAM ĐỊNH
2.1. Khái quát chung về Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch
- Dịch vụ tỉnh Nam Định
2.2. Thực trạng hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp
Thương mại - Du lịch -Dịch vụ tỉnh Nam Định
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường
Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định
Chương 3: YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO
TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP THƯƠNG MẠI - DU
LỊCH - DỊCH VỤ TỈNH NAM ĐỊNH
3.1. Yêu cầu quản lý đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương
mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định
3.2. Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp
Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới
chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ
lao động có chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mũi nhọn, công
nghệ cao. Gắn với việc hình thành các khu công nghiệp, khu công nghệ cao với
hệ thống các trường đào tạo nghề. Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống
trường dạy nghề trên địa bàn cả nước, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa
dạng, linh hoạt, năng động”.
Nguồn nhân lực có chất lượng cao đang thực sự trở thành yếu tố cơ bản
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đảm bảo cho sự tăng trưởng
kinh tế và phát triển bền vững đất nước. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng
khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao là một đột phá chiến lược” đồng thời xác định “phát triển giáo
dục là quốc sách hàng đầu” và coi đó là khâu quan trọng để tạo ra nguồn lực
phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Việc nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực đã thực sự trở thành nhiệm vụ then chốt trong
chiến lược phát triển của nước ta, đó cũng chính là nhiệm vụ quan trọng nhất
của quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo ở nước ta.
Thực hiện chủ trương của Đảng, trong những năm qua công tác đào tạo
nghề ở nước ta đã có những bước phát triển đạt được những kết quả đáng
khích lệ. Mạng lưới cơ sở dạy nghề phát triển khắp toàn quốc, quy mô tuyển
sinh tăng, chất lượng được cải thiện, tỷ lệ học sinh sau tốt nghiệp tìm được
việc làm tăng góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao
động. Bên cạnh những kết quả đạt được, đào tạo nghề vẫn còn nhiều bất cập
so với nhu cầu xã hội, mạng lưới cơ sở dạy nghề tăng nhưng còn mất cân đối
2
giữa các vùng miền, chất lượng đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội, đây là nguyên nhân dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực ở
“điểm nóng” được Đảng, Nhà nước, Chính phủ cũng như toàn xã hội quan tâm.
Trên thực tế Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh
Nam Định đã và đang đặt ra cho công tác đào tạo nghề trong tình hình mới đó
là không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo nghề. Nâng
cao chất lượng đào tạo nghề như là một tất yếu khách quan và là yêu cầu cấp
thiết. Nó có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực phục
vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nâng cao chất lượng đào
tạo nghề tức là phải nâng cao chất lượng các yếu tố đảm bảo chất lượng đào
tạo đáp ứng nhu cầu ngày càng cao thị trường lao động của địa phương, đào
tạo nghề cần được phát triển trên cơ sở đổi mới căn bản, toàn diện theo hướng
tiếp cận với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, sự thay đổi nhanh
chóng của kỹ thuật, công nghệ và hội nhập. Trên thực tế chưa có công trình,
đề tài nào nghiên cứu vấn đề này. Nhận thức được vai trò quan trọng của việc
nâng cao chất lượng đào tạo nghề của nhà trường xuất phát từ những lý do ở
trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường
Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định" làm đề tài luận
văn tốt nghiệp cao học.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nước ta đang thực hiện công
cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để dạy nghề chuyển đổi nhanh chóng theo hướng chất lượng, tiên tiến và hiện
đại, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 20112020 với mục tiêu là bước đột phá về chất lượng theo hướng tiếp cận trình độ
của khu vực và trên thế giới, đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng
cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xuất khẩu lao
động và hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần giải quyết việc làm và cải thiện đời
4
sống người lao động là giai đoạn lấy nâng cao chất lượng là khâu then chốt để đổi
Đề tài (2002): “Nghiên cứu phát triển hệ thống dạy nghề và đào tạo
CNKT TPHCM giai đoạn 2001 - 2005” do Sở Khoa học - Công nghệ và Sở
LĐ-TB&XH và Xã hội TPHCM phối hợp tổ chức.
Tác giả Nguyễn Duy Bắc (2002) quan tâm đến “Đào tạo nghề phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn" (Tạp chí
Giáo dục, số 22/2002). Trong đó, tác giả đã nêu lên một số vấn đề lý luận và
thực trạng chỉ ra những khó khăn của dạy nghề ở nông thôn và đề xuất một số
biện pháp bảo đảm chất lượng dạy nghề phù hợp với đặc thù nông thôn.
Tác giả Phạm Minh Hạc (2008) với nghiên cứu về “Đào tạo nghề góp
phần phát triển nguồn nhân lực của đất nước thế kỷ XXI” (Tạp chí Khoa học
Giáo dục, số 5/2008). Từ sự phân tích nhu cầu đào tạo nghề để phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, tác giả đã tập trung làm rõ những hạn chế,
khuyết điểm trong đào tạo nghề ở nước ta hiện nay như: đào tạo nghề chưa
gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, sự phân bố các trường dạy nghề
không hợp lý, nội dung chương trình, phương pháp dạy nghề lạc hậu, bộ máy
quản lý nhà nước về dạy nghề không ổn định, trang thiết bị cho dạy nghề cần
chi phí lớn. Đây là công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều nội dung, trong đó
có vấn đề quản lý nhà nước về đào tạo nghề.
Tác giả Nguyễn Đức Trí (2008) đi sâu nghiên cứu về “Giáo dục nghề
nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường lao động” (Tạp chí Khoa học Giáo dục, số
5/2008). Trên cơ sở luận chứng nhu cầu của thị trường lao động, thực trạng
giáo dục nghề nghiệp, tác giả đề xuất một số giải pháp về xác định nhu cầu số
lượng, cơ cấu lao động, qui hoạch lại mạng lưới hệ thống các cơ sở giáo dục
nghề nghiệp, xây dựng một số loại tiêu chuẩn cần thiết cho giáo dục nghề
nghiệp, xây dựng hệ thống quản lý chất lượng đào tạo nghề, đa dạng hóa và
gắn kết giữa đào tạo và sử dụng.
6
Đi từ nghiên cứu “Thực trạng quản lý đào tạo nghề các trường dạy
nghề theo hướng đáp ứng nhu cầu xã hội” (Tạp chí Giáo dục, số 297/2012);
tác giả Nguyễn Thị Hằng đã chỉ ra thực trạng đào tạo nghề hiện nay như: Mức
độ phù hợp của chương trình đào tạo, thông tin về đào tạo và tư vấn cho học
sinh, quan hệ hợp tác giữa trường nghề và doanh nghiệp, đào tạo bồi dưỡng
cán bộ,... từ đó rút ra những điểm mạnh, điểm yếu từ thực trạng đã khảo sát.
Công trình nghiên cứu: “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề bằng biện
pháp tăng cường sự liên kết giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp” của tác
giả Vũ Thị Phương Oanh (2008), đã hệ thống hóa được khung lý thuyết về
chất lượng và chất lượng đào tạo nghề, làm cơ sở để tiếp cận phân tích thực
trạng và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo nghề. Tác giả
đã đánh giá thực trạng đào tạo nghề dựa trên các tiêu chí cụ thể; phân tích các
nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề, từ đó đưa ra các giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề thông qua mối liên kết giữa trường
dạy nghề với doanh nghiệp. Đây là hướng nghiên cứu thiết thực phù hợp với
hướng nghiên cứu cơ bản kết hợp với nghiên cứu ứng dụng có ý nghĩa về thực
tiễn hiện nay. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp về mặt lý luận thì luận
văn chưa có sự đi sâu phân tích tác động của các nhân tố bên ngoài có ảnh
hưởng đến chất lượng đào tạo nghề.
Cũng đề cập đến quản lý nhà nước về dạy nghề, tác giả Nguyễn Minh
Đường (2008) đã nghiên cứu, đề xuất “Hoàn thiện cơ cấu giáo dục quốc dân
và tổ chức quản lý giáo dục nghề” (Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 38/2008).
Chỉ ra một số bất cập về quản lý hệ thống giáo dục nghề nghiệp hiện nay, kiến
nghị một số giải pháp như tổ chức lại hệ thống dạy nghề, hoàn thiện hệ thống
quản lý dạy nghề.
Từ sự khái quát tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây có thể rút ra
một số nhận xét sau đây:
8
quản lý đào tạo nghề nói chung của cả nước, chất lượng hiệu quả đào tạo
nghề, công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề còn nhiều bất cập, là vấn đề
cấp thiết cần được nghiên cứu trên phương diện lý luận và thực tiễn. Đề tài
“Quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại - Du lịchDịch vụ tỉnh Nam Định” nghiên cứu thành công có ý nghĩa quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, góp phần thực hiện tốt mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động đào tạo nghề ở các
trường Trung cấp nghề. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào
tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định,
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh trong giai
đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động đào tạo nghề ở
Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định.
Khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường
Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định.
Đề xuất hệ thống biện pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường
Trung cấp Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh Nam Định.
4. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu
Đào tạo nghề ở Trường Trung cấp Thương mại - Du lịch -Dịch vụ tỉnh
Nam Định.
* Đối tượng nghiên cứu
10
Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học
chuyên ngành, bao gồm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu
thực tiễn,... để luận giải các nhiệm vụ của đề tài. Cụ thể là:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết, như: Phương pháp giả
thuyết; phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết, phân loại, hệ thống hoá,
mô hình hoá lý thuyết và tổng kết kinh nghiệm lịch sử để thu thập thông tin
khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao
tác tư duy lôgic để làm rõ những cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên
cứu và rút ra các kết luận khoa học cần thiết.
- Phương pháp quan sát khoa học
Quan sát cách thức tổ chức quản lý của Ban giám hiệu và cán bộ quản
lý các cấp.
Quan sát tình hình tuyển sinh, tình hình triển khai thực hiện nội dung
chương trình, đội ngũ giáo viên, tình hình cơ sở vật chất, tài chính để nắm
bắt thực tế tình hình đang diễn ra ở nhà trường.
- Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến để điều tra xã hội học với cán bộ, giáo
viên nhà trường; học viên đang học nghề tại nhà trường; học sinh đã tốt
nghiệp và cán bộ quản lý các doanh nghiệp.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Phân tích, xem xét những kết quả đào tạo của Trường về quản lý đào tạo
nghề nhằm rút ra những kết luận, bài học kinh nghiệm tìm ra giải pháp phù
hợp với thực tiễn.
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
Xin ý kiến một số nhà khoa học về các vấn đề của đề tài nghiên cứu.
Người nghiên cứu trực tiếp gửi bài, trực tiếp xin ý kiến và nêu những vấn đề
* Khái niệm nghề
Mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định về quan niệm nghề. Cho
đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Chẳng hạn: Ở một số nước, nghề được hiểu là một loại hoạt động lao động đòi
hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn. Ở Tây Âu,
nghề là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ
đó tìm được phương tiện sống... Ở Việt Nam hiện nay, nghề được hiểu là một
tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó
trao đổi được.
Mặc dù quan niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, song
chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng chung nhất định sau:
Nghề là hoạt động, là công việc của con người được lặp đi lặp lại. nói
cách khác, đây là công việc thường xuyên của con người, mỗi người, tùy theo
trình độ, sức khỏe, môi trường sống, nhu cầu xã hội... mà có thể chọn cho
mình một nghề phù hợp. Nghề là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với
yêu cầu xã hội. Mỗi một xã hội, tùy vào trình độ phát triển mà sẽ có những
yêu cầu về ngành nghề khác nhau. Nghề là phương tiện để sinh sống; là lao
động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội và đòi hỏi
phải có một quá trình đào tạo nhất định.
Như vậy, nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, phổ biến gắn
chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học và văn minh nhân loại,
và chừng nào con người, xã hội con người còn tồn tại thì vẫn còn có nhu cầu
về nghề và học nghề.
14
* Hoạt động đào tạo nghề
Hoạt động đào tạo nghề ở nhà trường bao gồm hoạt động dạy nghề
(GV) và học nghề (HV), nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề
nghiệp, đáp ứng mục tiêu yêu cầu đào tạo của nhà trường và mục đích sử
hiện này chỉ có thể có được thông qua giáo dục đào tạo và tích lũy kinh
nghiệm trong quá trình làm việc. Như vậy, có thể thấy, vai trò quyết định của
đào tạo nghề nghiệp đối với việc hình thành và phát triển năng lực thực tiễn
nghề nghiệp của con người.
Hoạt động đào tạo nghề ở các trường Trung cấp chuyên nghiệp thực
chất là việc lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, kiểm tra hoạt động đào tạo của
nhà trường nhằm đạt mục tiêu ban đầu đã đề ra.
Từ quan niệm trên tác giả cho rằng:
Hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung cấp chuyên nghiệp là sự cụ
thể hóa mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức đào tạo nghề,
nhằm truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đến người học, qua đó biến đổi
năng lực người học, tạo ra năng lực cần thiết thực hiện thành thạo một loại
công việc nào đó đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội trong những giai đoạn
nhất định.
Mục tiêu đào tạo nghề ở các trường TCCN là trang bị cho người học
(người lao động) những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp nhằm thực
hiện thành thạo một công việc nào đó trong thực tiễn. Đây là quá trình giải
quyết đồng thời hai mối quan hệ của một quá trình đào tạo: GV - HV và HV GV, trong đó GV là người giữ vai trò quan trọng không thể thiếu trong tổ
chức, hướng dẫn, định hướng ngời học. Học viên học nghề là người quyết
định cuối cùng đến chất lượng học tập của bản thân mình.
Nội dung đào tạo nghề là hệ thống những kiến thức trên tất cả các lĩnh
vực liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp của HV và nhu cầu của xã hội sau khi
ra trường. Do đó, vấn đề đặt ra trong quá trình đào tạo của các nhà trường
không phải ở chỗ đào tạo cái mà nhà trường đang có, mà đào tạo cái xã hội
16
đang cần. Bởi vậy, để khẳng định được năng lực đào tạo với xã hội, khẳng
định uy tín, thương hiệu, chất lượng của nhà trường với xã hội, mỗi nhà
trường cần phải chứng minh cho xã hội thấy chất lượng sản phẩm đào tạo
lý người Pháp, “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức,
điều khiển, phối hợp và kiểm tra”. Theo Từ điển tiếng Việt, “Quản lý là tổ
chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Theo tác
giả Trần Văn Bình, “Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đề ra
thông qua việc điều khiển phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của
những người khác”.
Mặc dù vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề này, nhưng
các định nghĩa trên đều có những điểm chung, thống nhất đó là: coi quản lý là
hành động thống nhất, có tổ chức, có mục đích của các chủ thể quản lý (cá
nhân, tổ chức) tác động đến khách thể quản lý (con người, tổ chức, quy
trình...) thông qua các hành động như lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo,
kiểm tra nhằm hướng đến những mục tiêu xác định.
Là một bộ phận cấu thành của công tác quản lý nói chung, quản lý đào
tạo nghề trong Nhà trường được hiểu là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tác động vào các
thành tố của quá trình đào tạo, qua đó làm cho hệ thống các thành tố đó phát
triển, vận hành ổn định theo mục đích đề ra, đảm bảo cho sản phẩm đào tạo
đạt được các chuẩn mực xác định đáp ứng yêu cầu của xã hội và sự phát triển
kinh tế, xã hội.
Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã
hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra. Sự
tác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người chịu quản lý luôn luôn
hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ sáng tạo, bởi vậy, quản lý là một
môn khoa học sử dụng trí thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội
nhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lí và xã hội học… Nó còn
là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt tới mục đích.
18
Từ cách tiếp cận trên, tác giả cho rằng: Quản lý hoạt động đào tạo
giáo dục – đào tạo của nhà trường.
1.1.3. Khái niệm quản lý hoạt động đào tạo nghề ở Trường Trung
cấp nghề Thương mại – Du lịch – Dịch vụ tỉnh Nam Định
Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về đào tạo nghề được nêu
trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010” và Quyết định số 48/2002
ngày 14/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch mạng
lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002 - 2010; Quyết định số 07/2007/QĐBLĐTBXH ngày 02/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã
hội về “Quy hoạch phát triển mạng lưới trường Cao đẳng nghề, trường
Trung cấp nghề, Trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020”, trên cơ sở quán triệt sâu sắc các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; các
văn bản, hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, với mục đích
tham gia đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho các đối tượng, góp phần cùng
với hệ thống chính trị tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, tạo sự ổn định để
phát triển đất nước, tham gia xoá đói giảm nghèo cho địa phương.
Quản lý là sự công tác liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể
(người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt
chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính
sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra
môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Đối tượng quản lý có
thể trên qui mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con
người, sự vật cụ thể. Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người,
công cụ, phương tiện tài chính,… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt
mục tiêu định trước. Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng
theo một định hướng quản lý đặt ra phải tạo ra được “quyền uy” buộc đối
tượng phải tuân thủ. Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn
các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục
20
đích đã đề ra. Sự tác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người chịu
văn hóa xã hội, quản lý đào tạo, đáp ứng được nhu cầu trước mắt cũng như sự
phát triển bền vững lâu dài của Nhà trường.
Khách thể quản lý là toàn bộ con người, quy trình đào tạo, cơ sở vật
chất, phương tiện phục vụ nhiệm vụ nghiên cứu, tham khảo và học tập của
CB, GV, HV của Nhà trường. Trong đó đội ngũ GV, CB quản lý đào tạo giữ
vai trò quyết định. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của đội ngũ này có ý nghĩa đặc biệt trong nâng cao chất lượng đào
tạo của Nhà trường.
Đối tượng quản lý là toàn bộ các quá trình, quy trình, các hoạt động của
thầy và trò gắn liền với hoạt động giáo dục - đào tạo nghề ở Nhà trường.
Phương thức quản lý, quản lý hoạt động đào tạo ở trường Trung cấp
Thương mại - Du lịch - Dịch vụ tỉnh nam Định được thực hiện bằng những cách
thức, biện pháp tác động cụ thể khoa học. Đó là tổng hợp những cách thức tác
động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lý đến các hoạt động dạy nghề và
học nghề nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định.
Phạm vi tác động của hệ thống các của biện pháp quản lý hoạt động đào tạo
ở nhà trường mang tính toàn diện, tác động hai nhân tố trung tâm và hai hoạt động
chủ yếu đó là hoạt động dạy và hoạt động học của quá trình đào tạo nghề.
Quản lý hoạt động đào tạo nghề được tiến hành ở hai phương diện: Một
là, quản lý Nhà nước về đào tạo nghề; hai là, quản lý hành chính sự nghiệp
trong các trường Trung cấp chuyên nghiệp, cơ sở dạy nghề, ngành, lĩnh vực,
địa phương về đào tạo nghề.
Từ những phân tích trên có thể thấy, quản lý là sự kết hợp tổng hòa của
các phương pháp, biện pháp nhằm đạt tới: Thông qua quản lý để thúc đẩy tính
tích cực, tự giác của mỗi cá nhân, tổ chức trong thực hiện nhiệm vụ; góp phần
tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau giữa mọi người, cá nhân và tập thể, qua đó
giảm thiểu tối đa khoảng cách giữa người với người, cá nhân với tập thể, giữa
các chủ thể quản lý và đối tượng quản lý; tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau,
23
Là quản lý việc xây dựng nội dung đào tạo nghề, kế hoạch đào tạo nghề
và nội dung chương trình đào tạo nghề, quản lý hoạt động đào tạo nghề thực
tế của giáo viên và học viên sao cho kế hoạch, nội dung, chương trình giảng
dạy được thực hiện đầy đủ và đảm bảo về thời gian, quán triệt được các yêu
cầu của mục tiêu đào tạo.
Khi xác định nội dung đào tạo nghề phải lựa chọn nội dung phù hợp
với mục tiêu đề ra, phát huy được tài nguyên, tiềm năng mà con người đang
cần khai thác, phù hợp với phương hướng và chính sách phát triển kinh tế - xã
hội của quốc gia, của địa phương, phản ánh và tiếp thu được tiến bộ khoa học
kỹ thuật. Để thích ứng với nền kinh tế thị trường, nội dung chương trình đào
tạo cần xây dựng theo hướng đào tạo công nhân kỹ thuật có diện nghề rộng,
kiến thức hiện đại, sáng tạo và linh hoạt trong công việc sản xuất và kinh
doanh, dịch vụ.
Quản lý nội dung, chương trình đào tạo nghề cũng được thực hiện theo
chu trình: chuẩn bị, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra.
Chuẩn bị: Thu thập thông tin, phân tích ngành nghề, chú trọng cập nhật bổ
sung kiến thức mới, quán triệt kế hoạch, nội dung, chương trình đào tạo, chuẩn bị
tài liệu, chuẩn bị cơ sở vật chất trang thiết bị, chuẩn bị đội ngũ giáo viên.
Lập kế hoạch: kế hoạch về nhân lực, điều kiện, lịch trình tiến độ quy
trình, kế hoạch dự giờ kiểm tra, kế hoạch tài chính vật tư, phương tiện.
Tổ chức thực hiện: Xem xét nội dung chương trình các môn học, tiến
độ thực hiện, triển khai các kế hoạch đào tạo nghề.
Chỉ đạo: Đôn đốc, giám sát phối hợp các đơn vị, giữa giáo viên với
phòng ban, bộ môn, phối hợp nhà trường với đơn vị sử dụng lao động.
Kiểm tra: Kiểm tra từng phần, từng bộ phận, tổng thể, kiểm tra kết quả,
chất lượng, hiệu quả thực hiện chương trình đào tạo.
* Quản lý đội ngũ giáo viên dạy nghề
25