Một sổ giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ trung cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An - Pdf 33

21

MỞ ĐẦU
đại của thế giới đòi hỏi nhanh chóng xây dựng đội ngũ nhân lực có tri thức và
1. LÝ DO CHỌN ĐÈ TÀI
kỹ năng cao
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, đã và đang đặt ra
Hiện nay công tác đào tạo nghề trên phạm vi toàn quốc cũng như ở các
những yêu cầu mới về nguồn nhân lực từ quy mô, cơ cấu ngành nghề, đến
địa phương vẫn còn nhiều bất cập. Có nhiều nguyên nhân trong đó nối bật là
trình độ đào tạo...Vì vậy, đòi hỏi phải có những nhận thức, giải pháp mới về
do công tác phát triển đào tạo nghề chưa được các ngành, các địa phương
đào tạo và sử dụng nhân lực trong điều kiện phát triên nhanh chóng của khoa
quan tâm đúng mức, đội ngũ giáo viên dạy nghề còn thiếu và yếu, cơ sở vật
học - công nghệ.
chất nghèo nàn, chất lượng đào tạo còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát
Đối với các nước đang phát triển phải chuẩn bị nguồn nhân lực chất
triển nguồn nhân lực nghề trong phạm vi cả nước cũng như ở từng địa
lượng cao đê chủ động tiếp cận tri thức, tiếp nhận chuyên giao công nghệ,
phương. Để giải quyết thực trạng trên mỗi địa phương cần phải căn cứ vào
nắm bắt và làm chủ công nghệ. Với tốc độ phát triển nhanh của khoa học và
các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội và đặc điểm địa lý, dân cư, dựa trên
công nghệ, thúc đẩy hình thành nền kinh tế tri thức trên phạm vi toàn cầu. Các
chiến lược phát triển đào tạo nghề quốc gia đê xây dựng các giải pháp quản lý
ngành nghề cũng biến đổi liên tục, nhiều ngành nghề cũ mất đi, nhiều ngành
hoạt động đào tạo nghề cho địa phương mình nhằm chuyển dịch cơ cấu lao
nghề mới nhanh chóng xuất hiện, yêu cầu kỹ năng tổng hợp thay cho kỹ năng
động, phát triển kinh tế - xã hội.
hẹp... Tất cả những điều đó đòi hỏi trình độ và kỹ năng của đội ngũ nhân lực
Nghệ An là tỉnh có quy mô dân số và nguồn lao động lớn, ước tính đến
không ngừng nâng lên và thường xuyên cập nhật để phù hợp và kịp bắt nhịp

- Phạm vi không gian: Khảo sát thực tiễn các trường Cao đẳng, trung

cấp nghề (trung ương, địa phương) trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
7. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
7.1.
7.1.1.

Các cách tiếp cận cơ bản trong nghiên cứu
Tiếp cận hệ thống

Xem xét hệ thống dạy nghề là một phân hệ của hệ thống giáo dục quốc
dân đồng thời là một thành phần của hệ thống kinh tế - xã hội của địa phương
nói riêng và của cả nước nói chung.
7.1.2.

Tiếp cận phát triển

Hệ thống dạy nghề của địa phương luôn vận động và phát triển trong
quá trình phát triển KT-XH theo định hướng CNH-HĐH.
7.2.

Các phương pháp nghiên cúu

7.2.1.

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các tài liệu, văn kiện của Đảng và Nhà nước về các chủ



- Làm rõ sự cần thiết và mối quan hệ biện chứng giữa phát triển đào

tạo
nghề với phát triển kinh tế - xã hội, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nhân lực
địa phương trong quá trình CNH - HĐH.
8.2. về thực tiễn


6

- Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể vận dụng vào việc xây dựng
Ke hoạch quản lý đào tạo nghề hàng năm cho tỉnh Nghệ An đến năm 2020.
9.

CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận kiến nghị, phụ lục Luận văn gồm 3
chương chính:
Chương 1: Lý luận chung về đào tạo nghề.
Chương 2: Thực trạng đào tạo nghề tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 2011.
Chương 3: Giải pháp quản lý hoạt động đào tạo nghề trình độ Trung


7

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VÈ DÀO TẠO NGHÈ
1.1. sơ Lược CÁC NGHIÊN cứu LIÊN QUAN ĐÉN ĐÀO TẠO
NGHÈ.
Đào tạo nghề và nâng cao chất lượng ĐTN là những vấn đề được đặt ra

nguồn lực hàng đầu.
- Tiếp tục chiến lược “Khoa học và Giáo dục tiếp sức cho Trung

Quốc”,
“Giáo dục kiến lập Trung Quốc” và xây dựng một xã hội học tập .
- Mở rộng đầu tư và làm nhiều biện pháp đê phát triên nguồn nhân lực.
- Cải thiện cơ cấu thông qua phát triển nguồn nhân lực.
- Cải tiến những hệ thống bất hợp lý, hoàn thiện hệ thống thị trường lao

động, tạo ra một môi trường phát triển và sử dụng nguồn nhân lực tốt hơn.
- Thành lập tố chức phát triển nguồn nhân lực, tăng cường sự ủng hộ và

bảo đảm của Chính phủ trong phát triến nguồn nhân lực.
Tổ chức lao động thế giới (ILO) cũng đã biên soạn và phát hành nhiều
tài liệu về đào tạo và quản lý ĐTN để hỗ trợ cho các nước đang phát triển.
Trong đó có đưa ra hệ thống các quan điểm tổ chức và quản lý ĐTN, quản lý
chiến lược và xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển hệ thống dạy nghề
cùng kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực quản lý và phát triển giáo dục nghề
nghiệp.
Ngoài những công trình đã nêu trên, còn rất nhiều các công trình khác
trên thế giới đề cập đến các nội dung khác nhau về mặt lý luận cũng như thực
tiễn phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng ĐTN, đáp
ứng nhu cầu phát triển KT-XH của các quốc gia.
1.1.2. ơ trong nước


9

lĩnh vực khoa học dạy nghề, có một số đề tài liên quan đến luận văn như:
"Nghiên cứu chiến lược về dạy nghề đến năm 2000"\ 10]. “Trong những năm


11

đảm bảo về các điều kiện, nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu và cuối
cùng là quyết định xem hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đặt ra.
Sơ đồ 1. Các chức năng cơ bản của quản ìỷ [9]
MÒI TRƯỚNG BÈN NGOÀI

- TỔ chức
Là quá trình tạo lập các thành phần, cấu trúc, các quan hệ giữa các
thành
viên, giữa các bộ phận trong một tố chức nhằm làm cho họ thực hiện thành
công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Thành công của
một tố chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý và sử dụng
các
nguồn lực của tổ chức. Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây
dựng
các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng đế thực hiện.
- Lãnh đạo - Chỉ đạo
Bao hàm việc định hướng và lôi cuốn mọi thành viên của tổ chức


12

lãnh đạo, mà là quá trình đan xen. Thấm vào và ảnh hưởng quyết định đến các
chức năng kia, điều hòa, điều chỉ các hoạt động của tổ chức trong quá trình
quản lý.
- Kiểm tra, đánh giá
Là chức năng cơ bản của quản lý. Thông qua đó, một cá nhân, một
nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến

có những định nghĩa khác nhau như sau:
“Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới
khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới
kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất”[13]
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức điều khiển và quản lý
hoạt động giáo dục của những người làm công tác giáo dục nhằm thực hiện
mục tiêu kế hoạch giáo dục đặt ra”.[19]
Trong quản lý giáo dục, mục tiêu quản lý giáo dục là trạng thái được
xác định trong tưcmg lai của đối tượng quản lý hoặc của một số yếu tố cấu
thành nó.
Khi nghiên cứu về mục tiêu quản lý giáo dục cũng cần phải hiểu rõ về
đối tượng quản lý giáo dục hoặc các yếu tố cấu thành nó. Lý luận và thực tế
quản lý cho thấy có thể xác định đối tượng ở hai cấp: ở cấp quản lý cơ sở và ở
cấp quản lý vĩ mô (quản lý hệ thống giáo dục). Trong giáo dục, trường học là
cấp cơ sở, mỗi trường học là một tế bào của hệ thống giáo dục, nên trường
học là đối tượng quản lý ở cấp cơ sở. Tập họp các trường học ở các cấp học,
ngành học khác nhau tạo thành hệ thống các trường học, hệ thống các trường
học lại được quản lý về mặt hành chính, do đó sự nghiệp giáo dục trên mỗi
địa bàn là đối tượng quản lý đối với các cơ quan quản lý giáo dục các cấp.


14

chung và dạy nghề nói riêng là xây dựng chính sách, quy hoạch, chiến lược
phát triển dạy nghề trong phạm vi cả nước và từng ngành, địa phương trong
các giai đoạn nhất định.
Các ngĩtyên tắc quản lý giáo dục:
Các nguyên tắc quản lý giáo dục là những tiêu chuẩn, quy tắc cơ bản,
nền tảng, những yêu cầu, những luận điểm cơ bản cần phải tuân theo trong

trong toàn đơn vị.
Giáo dục, nhà trường không đứng ngoài chính trị, mà phục vụ chính trị,
nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng CSVN đã và đang là nguyên tắc cơ
bản để giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn trong công cuộc đối mới quản lý
giáo dục nước ta hiện nay.
Để thực hiện nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý
giáo dục đòi hỏi mọi chủ thể quản lý phải nghiên cứu nắm vững các chỉ thị,
nghị quyết của Đảng về giáo dục và có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm
túc trong phạm vi từng đơn vị. Phải làm cho đường lối, chính sách giáo dục
của Đảng trở thành hệ tư tưởng chỉ đạo duy nhất toàn công tác giáo dục.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ:
Tập trung dân chủ nguyên tắc bắt nguồn từ bản chất của chế độ XHCN
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, là nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ hoạt động
quản lý ở nước ta. Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan khác
của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phải thường xuyên
kết hợp sự lãnh đạo tập trung với sự tham gia của quảng đại quần chúng lao
động vào công việc tố chức quản lý giáo dục.
Nguyên tắc này đòi hỏi thống nhất hai mặt quản lý theo ngành và quản


16

vấn đề trọng yếu) thống nhất (phục tùng lý trí) của nhà nước trung ương (Bộ)
trên qui mô toàn quốc về những vấn đề cơ bản. Mặt khác, phải phát huy mở
rộng tối đa quyền chủ động của các địa phương, các cơ sở giáo dục, của quần
chúng lao động trong việc giải quyết các vấn đề trọng yếu, bằng các phương
pháp, phương tiện đa dạng sáng tạo.
Nguyên tắc tập trung dân chủ với vấn đề phân cấp quản lý trong giáo
dục là: một đặc trưng quan trọng của nguyên tắc này là sự phân cấp quản lý
thích họp, vấn đề phân cấp quản lý còn liên quan tới nguyên tắc kết hợp giữa

căn cứ vào việc thực hiện luật pháp và các chuẩn mực nhà nước pháp quyền
trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ giáo dục và chủ thể quản lý là cơ quan
quản lý nhà nước về giáo dục các cấp.
Quản lý có tính chất xã hội là hoạt động của các đoàn thê quần chúng
nhân dân, các tổ chức xã hội thực hiện các chức năng xã hội nhất định, độc
lập hoặc cộng tác với các cơ quan nhà nước, dựa vào các chuấn mực, điều lệ
của các tố chức xã hội và sức mạnh tác động về sự đồng thuận trong xã hội
công dân.
Quản lý giáo dục có chức năng dự báo, luôn có sự thích ứng với nền
kinh tế - xã hội, thực hiện xã hội hóa giáo dục, đa dạng hóa nền giáo dục quốc
dân là đòi hỏi của nguyên tắc này trong giai đoạn hiện nay.
- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương,
vùng, lãnh thổ.
Thực tiễn hoạt động của hệ thống giáo dục quốc dân đòi hỏi sự quản lý
nhà nước trong lĩnh vực giáo dục phải tuân theo nguyên tắc kết hợp quản lý
theo địa phương, vùng, lãnh thổ.
Đặc trưng quản lý theo ngành là dựa trên cơ sở quá trình tích tụ và tập
trung các nguồn lực, đặc biệt là vốn tài chính và trí tuệ. Nhờ điều kiện này,
các đơn vị cơ sở của ngành có điều kiện tích tụ, tập trung chuyên môn hóa,


18

lượng giáo dục, tay nghề, quản lý vươn lên đạt trình độ cao. Quản lý theo
ngành có điều kiện tuyển chọn, đào tạo và sử dụng hợp lý, hiệu quả đội ngũ
cán bộ giáo viên và các nhà quản lý có trình độ cao. Đồng thời nhờ vào quá
trình tích tụ và tập trung theo ngành mà mỗi đơn vị của ngành có thể tận dụng
khai thác tốt nhất mọi tiềm năng của ngành đê phát triển, nâng cao trình độ,
sớm hội nhập với khu vực và quốc tế. Mặt khác, chính nhừ quản lý theo
ngành mới tạo điều kiện phân bố hợp lý để khai thác và phát huy thế mạnh

phố biến những kinh nghiêm giáo dục tiên tiến là những nhu cầu chủ yếu của
tính cụ thể và thiết thực trong công tác quản lý.
- Nguyên tắc tính kế hoạch:
Hoạt động quản lý nói chung luôn đòi hỏi phải đảm bảo tính kế hoạch,
kế hoạch là chức năng đầu tiên của quản lý, trong mọi hoạt động quản lý đều
vạch ra kế hoạch.
Ke hoạch cụ thể hoá chiến lược, sách lược phát triển giáo dục, biến
chúng bằng hành động. Nó định rõ, các hoạt động thời gian đạt được các mục
tiêu cần đạt, và cả các biện pháp thực hiện.
Nguyên tắc này đòi hỏi quản lý giáo dục phải có một hệ thống kế hoạch
chính xác, phù hợp với trình độ, yêu cầu quản lý hiện đại.
Nguyên tắc kế hoạch trong tố chức và hoạt động của quản lý giáo dục
có ý nghĩa rất lớn, vỉ nó đảm bảo phát triển nền giáo dục theo những mục tiêu
mà Đảng và nhà nước đã vạch ra, cho phép sử dụng các nguồn lực của đất
nước một cách có hiệu quả nhất vào quá trình phát triển giáo dục. Quản lý mà
không đảm bảo tính kế hoạch là quản lý không khoa học, quản lý thiếu định
hướng rõ ràng, cụ thê và như vậy hiệu quả quản lý sẽ rất hạn chế.
1.2.3. Quản lý đào tạo nghề

Quản lý đào tạo nghề là hệ thống những tác động có mục đích, có kế


20

Dựa vào phạm vi quản lý có thể chia ra hai loại hình quản lý:
- Quản lý hệ thống dạy nghề: quản lý diễn ra ở tầm vĩ mô, trong phạm

vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương và các ngành( còn hiểu là quản
lý Nhà nước)
- Quản lý cơ sở dạy nghề: quản lý ở tầm vi mô, trong phạm vi một

đoàn thể xã hội của trường.
Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ và có tác động qua lại lẫn
nhau. Đé thực hiện có hiệu quả công tác quản lý ĐTN cần tiến hành các bước
theo quy trình như quản lý giáo dục: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra,
đánh giá.
Trong quá trình quản lý, các yếu tố trên luôn luôn vận động và tác động
qua lại lẫn nhau làm nảy sinh những tình huống quản lý. Nhà quản lý phải
thường xuyên theo dõi, đánh giá, xử lý các sai lệch để kịp thời điều chỉnh
nhằm làm cho công tác giáo dục - đào tạo phát triển hên tục.
Nhiệm vụ của quản lý ĐTN chính là ốn định, duy trì công tác đào tạo
đáp ứng nhu cầu của nền KT-XH trong từng giai đoạn phát triển của đất nước
và đổi mới phát triển quá trình đào tạo đón đầu những tiến bộ khoa học kỹ
thuật đem lại hiệu quả kinh tế - chính trị - xã hội.
1.2.4. Đào tạo nghề

Đào tạo nghề: Là quá trình phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng,
kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp cho người học. ĐTN nhằm hướng vào hoạt
động nghề nghiệp và hoạt động xã hội. Mục tiêu ĐTN là động thái phát triển
nhân cách được dự kiến trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh - tế xã hội và được
hiểu là chất lượng cần đạt tói đối với người học sau quá trình đào tạo[19].
Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là:
Dạy nghề. Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý
thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự
khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp[ 19].


22

ĐTN cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao
động đế họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn. Đào tạo nghề bao gồm: Đào

Đào tạo ngắn hạn là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo dưới một năm
chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề.
Đào tạo dài hạn là loại hình ĐTN có thời gian đào tạo từ một năm trở
lên, áp dụng đào tạo đối với cao đẳng và trung cấp nghề.
Đào tạo mới là loại hình ĐTN áp dụng cho những người chưa có nghề,
để đáp ímg yêu cầu tăng thêm lao động có nghề.
Đào tạo lại là quá trình ĐTN áp dụng với những người đã có nghề
song nghề hoặc chuyên môn của họ không còn phù hợp nữa.
Đào tạo nâng cao Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh
nghiệm làm việc đế người lao động có thể đảm nhận được những công việc
phức tạp hơn.
1.2.5. Trình độ đào tạo nghề

Theo UNESCO, nghề là những công việc trí óc hoặc tay chân mà người
lao động có thể thực hiện để kiếm sống. Người lao động có thể tự sử dụng
mình hoặc được người khác sử dụng trong khi hành nghề.
Quan niệm về ĐTN ngày nay phải được hiểu rộng hơn do những biến
động của khoa học và công nghệ. “Cách mạng khoa học kỹ thuật đã tạo ra
bước ngoặt cơ bản biến đôi toàn bộ những yếu tố của lực lượng sản xuất, đề
ra những yêu cầu ngày càng cao đổi với thành phần và phẩm chất lực lượng
lao động, quy định tỉnh tất yếu phải đào tạo những công nhân phát triến toàn
diện, có tay nghề cao” [14]
Người công nhân, nhân viên nghiệp vụ không chỉ biết thực hiện nhiệm


24

học phải có năng lực thích ứng với những thay đổi, sáng tạo và có khả năng
nắm bắt thông tin, năng lực sáng tạo thể hiện ở tính thích ứng với thay đổi,
khả năng nắm bắt và xử lý thông tin. Lĩnh vực sáng tạo luôn là sự kết hợp


Phân loại trình độ chuyên môn trên cơ sở mức độ phức tạp của lao
động chân tay và trí óc. Phạm vi các kiến thức, các khả năng và kỹ năng có
thể thực hiện các loại lao động và các mức độ phức tạp khác nhau được phân
loại thành 4 trình độ chuyên môn như sau:
+ Trình độ I: Công nhân tiếp thu hiểu biết qua người trực tiếp chỉ đạo
mình. Công nhân này gọi là công nhân qua kèm cặp hoặc công nhân không
qua
đào tạo.
+ Trình độ II: Công nhân đã tốt nghiệp một khoá đào tạo của trường
dạy nghề, đã qua một kỳ kiểm tra chuyên môn được gọi là công nhân được
đào tạo ít.
+ Trình độ III: Công nhân đã đỗ kỳ thi tốt nghiệp khoá đào tạo công
nhân (kỳ thi đế trở thành công nhân chuyên nghiệp) là công nhân đã được đào
tạo hoặc công nhân có trình độ chuyên môn.
+ Trình độ IV: Công nhân đã có chuyên môn, đã qua một khoá đào tạo,
nâng cao trình độ được gọi là công nhân có trình độ chuyên môn cao.
- Đổi với các nuửc phát triển: phân loại cấp độ đào tạo như sau:

+ Công nhân bán lành nghề: Công nhân tại cấp độ này có một số kỹ
năng cơ bản nhất định. Nhiệm vụ của họ là thực hiện hoạt động có tính lặp lại
và thực hiện công việc được phân công khi có người giám sát.
I Công nhân lành nghề: Công nhân tại cấp độ này có thê làm việc trong
những điều kiện phù hợp với tiêu chuẩn nhất quán. Nhiệm vụ của họ là biết sử


26

+ Công nhân lành nghề trình độ cao: Công nhân có thể thực hiện một
phạm vi kỹ năng rộng với năng lực ở cấp độ cao. Họ có kỹ năng và trí tuệ giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status