LUẬN văn THẠC sĩ KINH tế CHÍNH TRỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN lực TRONG PHÁT TRIỂN KINH tế xã hội ở QUẬN hà ĐÔNG, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 42

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Ban Chấp hành Trung ương
BCHTW
Chính trị quốc gia
CTQG
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH
Đảng Cộng sản Việt Nam
ĐCSVN
Giáo dục - đào tạo
GD - ĐT
Khoa học – công nghệ
KH - CN
Kinh tế - xã hội
KT - XH
Nguồn nhân lực
NNL
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
Ủy ban nhân dân
UBND
Tổ chức Hợp tác và phát triển của Liên Hiệp Quốc
OECD


MỤC LỤC
Trang

lực trong phát triển kinh tế xã hội ở quận Hà Đông trong
thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

3

14

14
27
37

37
47

57

66

66

71
90
92
97


MỞ ĐẦU

kinh tế và toàn xã hội cần phải quan tâm. Cũng như các địa phương khác,
Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội là một địa bàn có số lượng lao động
tương đối dồi dào nhưng chất lượng lao động chưa đáp ứng được yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của Quận. Mặt khác, Hà Đông là một Quận của
Thủ đô Hà Nội trung tâm kinh tế xã hội của cả nước, đòi hỏi chất lượng
nguồn nhân lực phải cao hơn các khu vực khác mới tương xứng với yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
Trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế đất nước gặp nhiều khó
khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới. Tuy nhiên, với những lợi thế
riêng có của mình, Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội vẫn giữ được sự ổn
định và phát triển về mọi mặt. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự
thành công đó là Quận Hà Đông đã chú trọng nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực nhằm phát huy tốt vai trò của nó trong phát triển kinh tế xã hội trên
địa bàn Quận. Tuy nhiên, với yêu cầu phát triển của Thành phố Hà Nội nói
chung và của Quận Hà Đông nói riêng trong thời gian tới thì nguồn nhân lực
của Quận Hà Đông cần phải có chất lượng cả về trí lực, tâm lực và thể lực,
đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa,
hội nhập kinh tế quốc tế nảy sinh nhiều vấn đề mới cần được giải quyết kịp
thời. Do vậy, nguồn nhân lực của Quận còn nhiều bất cập chưa theo kịp với
yêu cầu phát triển của Thành phố, chưa phát huy hết vai trò của nó để kích
thích phát triển kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp và các thành phần kinh tế trên địa bàn.
Vì vậy, việc tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận
Hà Đông, Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay là vấn đề có ý nghĩa
cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề "Nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận Hà
Đông, Thành phố Hà Nội" làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
4



Luận án tiến sĩ kinh tế: “Phát triển nguồn nhân lực của Tập đoàn Điện
lực Việt Nam”, tác giả Đinh Văn Toàn [41]. Luận án đi sâu nghiên cứu về nguồn
nhân lực của một tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam. Phần lý luận của đề tài
đã tiến hành cung cấp nhiều kinh nghiệm quý của các quốc gia về phát triển
nguồn nhân lực trong ngành điện lực. Công trình cũng đã đi sâu nghiên cứu khảo
sát thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở các công ty, các đơn vị thành viên của
Tập đoàn điện lực Việt Nam trong những năm qua và đề xuất một số giải pháp
chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực, tạo sức bật mới trong quá trình tái cơ
cấu ngành điện lực theo sự phát triển của tình hình thực tiễn đặt ra.
Đề tài khoa học B2006 - 37 - 02TĐ. HN (2010), “Những vấn đề lý
luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam” , tác giả Nguyễn Lộc
[26]. Đã cung cấp hệ thống lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và phát triển
nguồn nhân lực ở cấp độ quốc gia. Với cách tiếp cận tổng thể, có sự so
sánh và tổng kết kinh nghiệm quốc tế phong phú về phát triển nguồn nhân
lực, đề tài đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học về lý luận và thực tiễn về
phát triển nguồn nhân lực ở nước ta.
Luận án tiến sĩ kinh tế: “Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta”, tác giả Trần Kim Hải [18] .
Luận án đã phân tích về thực trạng, chỉ ra yêu cầu và những vấn đề đang
đặt ra trong sử dụng nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở nước ta. Đồng thời
luận án đã chỉ ra nguồn nhân lực hiện có chưa đáp ứng được những yêu cầu
và đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta. Vì vậy quá trình khai thác
sử dụng cần phải được đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với việc nâng
cao chất lượng của nguồn nhân lực. Coi nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực là một nội dung, một tiền đề cơ bản để nâng cao hiệu quả sử dụng các
nguồn lực cho CNH, HĐH. Luận án khẳng định: Những vấn đề bức xúc
nhất của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta là mở rộng
quy mô đào tạo trên cơ sở đa dạng hoá các nguồn vốn, điều chỉnh cơ cấu
6

7


lực ở nước ta, tác giả đã đưa ra những quan điểm về nguồn nhân lực và phát
triển nguồn nhân lực; vai trò của nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế
và sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam. Đồng thời, đưa ra định hướng và
những giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện nay.
Luận văn thạc sĩ kinh tế: “Phát triển thị trường sức lao động và tác
động của nó đến đảm bảo nguồn nhân lực cho Quân đội nhân dân Việt nam
hiện nay” tác giả Trần Văn Ban [2] . Đã phân tích sự phát triển của thị trường
sức lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và tác động của nó
đến đảm bảo nguồn nhân lực cho QĐNDVN. Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm,
giải pháp thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động gắn với bảo đảm nguồn
nhân lực cho quân đội trong giai đoạn hiện nay.
Cuốn sách: Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, của Tiến sĩ Nguyễn Thanh [36]. Tác giả đã luận giải rõ:
phát triển nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp
CNH,HĐH, đồng thời nêu lên một số thực trạng về phát triển nguồn nhân lực
có chất lượng, trên cơ sở đó đưa ra một số định hướng chủ yếu trong phát
triển nguồn nhân lực cho CNH,HĐH ở nước ta hiện nay.
Cuốn sách: Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, tác giả Tô Chí Thành [37] . Đã khảo sát
những kinh nghiệm trong phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực công nghệ thông
tin của một số nước thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Tác giả cho
rằng, đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đang rất cần học hỏi những
kinh nghiệm quốc tế về phát triển nguồn nhân lực nói chung, đặc biệt là
nguồn nhân lực trong ngành công nghệ thông tin trong đó có lĩnh vực truyền
hình. Đối với một số nước ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Việt Nam
đã và đang có điều kiện để hợp tác mạnh mẽ trong quá trình phát triển nguồn
nhân lực công nghệ thông tin. Do vậy, những bài học về phát triển nguồn

vực quản lýnhà nước để thấy rõ những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại của
NNL này, đồng thời tìm ra những nguyên nhân có được các ưu điểm cũng
9


như những tồn đọng trong iệc sử dụng đội ngũ viên chức công chức, viên
chức quản lý Nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH) đất nước.
- Đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước
tỉnh Hải Dương”, luận án tiến sỹ kinh tế, tác giả Nguyễn Kim Diện (2008).
Luận án đề cập đến CLNNL trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp. Những
phân tích đánh giá thực trạng NNL thực hiện công tác hành chính với những
thành công và hạn chế trong nhất định thuộc tỉnh Hải Dương, những phân tích
đánh giá này có thể là điển hình đại diện cho đội ngũ công chức hành chính
nói chung nhưng không đại diện cho NNL trong lĩnh vực hoạt động kinh tế.
- Đề tài khoa học cấp Nhà nước KHXH 05-03 (GS-TS. Nguyễn Phú
Trọng làm chủ nhiệm đề tài): “Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất
lượng đội ngũ viên chức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”. Đề
tài đã đúc kết và đưa ra những quan điểm, sự định hướng trong việc sử dụng
các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức nói chung và
trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống KTXH. Do đó, đề tài là một tài liệu
được tham khảo hữu ích nhất trong trường hợp liên quan đến viên chức là
công chức trong các khoa, phòng hành chính sự nghiệp.
Bên cạnh những công trình được phân tích ở trên, trong quá trình
triển khai đề tài luận văn tác giả đã nghiên cứu, kế thừa từ một số tài liệu
như: Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi
vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb CTQG, Hà Nội; Đặng Bá Lãm,
Trần Khánh Đức (2002), Phát triển nhân lực công nghệ ưu tiên ở nước ta
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Giáo dục Hà Nội; Đỗ
Minh Cương (2002), Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực ở nước

nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận Hà Đông, Thành phố
Hà Nội. Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn Quận
trong thời gian tới.
11


* Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong
phát triển kinh tế - xã hội ở Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Phân
tích làm rõ những nhân tố tác động đến nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
trong phát triển kinh tế - xã hội ở Quận Hà Đông.
- Đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và những vấn đề đặt
ra cần giải quyết từ thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong
phát triển kinh tế xã hội ở địa bàn Quận trong thời gian qua.
- Đề xuất những quan điểm cơ bản và một số giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã
hội ở Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên địa
bàn Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực trên địa bàn Quận Hà Đông, số liệu khảo sát thực tế từ năm 2009 đến nay.
- Về không gian: Trên địa bàn quận Hà Đông
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù

1.1.1. Nguồn nhân lực và vai trò nguồn nhân lực
*Khái niệm nguồn nhân lực
Những thành tựu trong nhận thức về con người mà loài người đạt được ở
thời đại ngày nay là kết quả của sự tích luỹ những giá trị tinh hoa của nhân
loại qua hàng nghìn năm lịch sử. Trong đó, những cống hiến của các nhà sáng
lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin có tính chất quyết định, tạo ra bước ngoặt cách
mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Triết học mácxit đã quan niệm con
người là một thực thể trong sự thống nhất biện chứng giữa cái tự nhiên và cái
xã hội. Con người là một thực thể thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố
xã hội, nhưng yếu tố xã hội mới là bản chất đích thực của con người. Ở đây,
cá nhân được hiểu với tư cách là những cá nhân sống, là người sáng tạo các
quan hệ xã hội; sự phong phú của mỗi cá nhân tuỳ thuộc vào sự phong phú
của những mối liên hệ xã hội của nó. Hơn thế, mỗi cá thể là sự tổng hợp
không chỉ của các quan hệ hiện có, mà còn là lịch sử của các quan hệ đó.
Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi tự nhiên, xã hội, biến
đổi chính bản thân mình và đã làm nên lịch sử của xã hội loài người.
Kế thừa những tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tri thức triết học
phương Đông và vốn văn hoá dân tộc, luôn chú ý đến con người. Theo Hồ
Chí Minh ″chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn.
Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người". Với ý nghĩa
đó, khái niệm con người mang trong nó bản chất xã hội, là con người xã
hội, phản ánh các quan hệ xã hội từ hẹp đến rộng trong đó con người hoạt
14


động và sinh sống. Hồ Chí Minh thường đặt mỗi cá nhân con người trong
mối quan hệ ba chiều: quan hệ với một cộng đồng xã hội nhất định trong
đó mỗi con người là một thành viên; quan hệ với một chế độ xã hội nhất
định trong đó con người được làm chủ hay bị áp bức bóc lột; quan hệ với tự
nhiên trong đó con người là một bộ phận không thể tách rời. Con người

nhân sở hữu. ở đây nguồn nhân lực được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các
loại vốn vật chất khác như vốn tiền, vốn công nghệ, tài nguyên thiên nhiên…
Trong đó đầu tư cho con người giữ một vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và
được coi là cơ sở không thể thiếu cho sự phát triển bền vững[17, tr.50].
Cũng dựa trên cơ sở tiếp cận như trên, Tổ chức Hợp tác và phát triển của
Liên Hiệp Quốc (OECD) đã đưa ra khái niệm về nguồn nhân lực, cho rằng
nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có
quan hệ tới sự phát triển của đất nước. nguồn nhân lực được coi như một yếu tố
quan trọng bậc nhất trong việc tạo ra, khai thác và không ngừng phát triển kết
cấu hạ tầng kinh tế xã hội[17, tr.51].
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì “Nguồn nhân lực của một quốc
gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn
nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn
cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự
phát triển”. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển
bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là
một nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong
độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, là tổng thể các yếu tố về
thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Theo một số nhà khoa học Việt Nam trong đề tài“Con người Việt Nammục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội” mang mã số KX-07 thì
nguồn nhân lực được hiểu là dân số và chất lượng con người, bao gồm cả thể
chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong
cách làm việc[19, tr.328].
16


Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của Đại học kinh tế Quốc dân,
nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Với tư cách là một nguồn lực của
quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng
sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số

Con người không những là yếu tố hàng đầu, quyết định sự phát triển
của lực lượng sản xuất mà còn là chủ thể sáng tạo, đổi mới quan hệ sản xuất,
bởi lẽ, trong quá trình lao động, con người luôn sáng tạo vươn tới cái hoàn
thiện hơn và trăn trở, tìm tòi kỹ thuật mới nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống
ngày càng cao. Đến khi, khoa học - công nghệ mới ra đời lại tiếp tục đòi hỏi
con người tự nâng cao trình độ để đáp ứng và kích thích sáng tạo mới hơn.
Kết quả của sự tác động qua lại mang tính biện chứng này là con người ngày
càng tự cải biến mình, quan hệ sản xuất ngày càng hoàn thiện, xã hội loài
người ngày càng tiến bộ.
Trong quá trình này sự phân công và hợp tác lao động đã xuất hiện và
diễn ra ngày càng sâu sắc, các lao động cá thể liên kết lại với nhau nhằm huy
động sức mạnh tập thể, người quản lý, điều khiển hoạt động chung cũng ra đời
và đóng vai trò ngày càng cao. “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần
đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những
chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với
sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự
điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”[25, tr.480]. Tính
chất xã hội hóa nền sản xuất ngày càng cao không những trong phạm vi quốc
gia mà lan tỏa ra cả khu vực và thế giới, lao động quản lý phát triển, đạo đức
quản lý ngày càng cần được nâng cao và không thể thiếu trong mọi hoạt động
sản xuất. Chính vì thế, quan hệ sản xuất ngày càng được hoàn thiện.
- Người lao động vừa là động lực, vừa là mục tiêu thúc đẩy mọi sự phát triển.
Mọi hoạt động lao động của con người đều nhằm đạt được những lợi ích
nhất định. Người lao động làm việc gì, ở đâu, dưới hình thức nào cũng đều nhằm
đạt đến nhu cầu lợi ích của mình, lợi ích càng cao càng hấp dẫn con người, thúc
đẩy con người hoạt động có hiệu quả hơn.Về điều này, C.Mác cho rằng: “Một
20




nghĩa gì nữa nếu như không có sự tác động và tham gia của con người. Nói
một cách đơn giản, dễ hiểu: hoạt động kinh tế - xã hội là hoạt động của con
người, do con người quản lý, điều hành và thực hiện - nó xuất phát từ ý chí
của con người, do con người hành động và nhằm thỏa mãn mục đích của con
người (đó là mục đích tồn tại và phát triển). Hoạt động kinh tế - xã hội là hoạt
động của con người, do con người và vì con người.
Xét rộng hơn, chúng ta có thể dễ dàng thấy đựơc quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của một địa phương hay một quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào vai trò
của con người tham gia trong các quá trình đó. Nói cách khác, hiệu quả của mọi
hoạt động kinh tế, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương hay quốc
gia là do nguồn nhân lực quyết định- chính nguồn nhân lực là nhân tố quyết định
hàng đầu và không thể thay thế được hoàn toàn bởi một nguồn lực nào khác.
Chất lượng nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng đối với qúa trình
phát triển kinh tế - xã hội, bởi các lẽ sau đây:
Thứ nhất, cùng một lượng lao động như nhau nhưng với chất lượng
khác nhau hiển nhiên sẽ cho ra các kết quả lao động khác nhau rất nhiều.
Đồng thời, sự đầu tư về chất cho nguồn nhân lực cũng sẽ mang lại kết quả cao
hơn nhiều so với sự đầu tư về lượng cho nguồn nhân lực. Thực tế đã cho
chúng ta thấy rất rõ về điều này.
Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực được tăng lên sẽ là điều kiện hàng
đầu cho khoa học phát triển, trí tuệ của con người được chuyển hóa thành
công nghệ, vốn và tài nguyên thiên nhiên được sử dụng tiết kiệm hơn, hiệu
quả hơn. Như vậy, chất lượng lao động là nguồn lực có sức mạnh to lớn thúc
đẩy nhanh chóng quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực là chất lượng của con người nên nó
có khả năng phát triển vượt trội và năng lực ấy hầu như không có giới hạn.
Điều này đã, đang và sẽ làm cho xã hội loài người đạt được vô số những
thành tựu quý báu và kỳ diệu.
22



lượng nguồn nhân lực là chỉ số phát triển con người - HDI (Human
Development Index). Chỉ số này là tỷ lệ so sánh, định lượng về mức thu nhập,
tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một vài nhân tố khác. Chỉ số HDI là một thước đo
về phát triển con người. Thông thường chỉ số HDI đo thành tựu trung bình
của một quốc gia theo ba tiêu chí:
- Về sức khỏe: Được tính dựa trên cuộc sống khỏe mạnh, sống thọ. Có
thể sử dụng tuổi thọ trung bình làm căn cứ đánh giá. Tuy nhiên, tuổi thọ chỉ
phản ánh được số năm sống của một con người, không thể hiện được chất
lượng cuộc sống của con người.
- Tri thức: Tiêu chí này sử dụng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ người
nhập học các cấp từ tiểu học đến đại học. Với tiêu chí này, có thể tìm thấy các
con số về biết chữ và nhập học, nhưng trên thực tế số người lớn biết chữ và có
hiện tượng quên chữ hay còn gọi là tái mù chữ vẫn xảy ra nguyên nhân do ít
tiếp xúc với chữ. Điều đó cho thấy việc sử dụng tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệ
người nhập học các cấp là căn cứ đánh giá tri thức của con người cũng chưa
hoàn toàn chính xác.
- Mức sống trung bình của dân cư: Tiêu chí này dựa trên thu nhập của
dân cư và được đo bằng GDP bình quân đầu người.
Như vậy, có thể nói chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những đặc
tính biểu hiện ở từng người lao động và trên phạm vi từng vùng, từng đơn vị
sản xuất kinh doanh về các mặt: sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên
môn nghề nghiệp, trình độ tổ chức, phẩm chất, đạo đức, ý thức pháp luật, các
yếu tố về tâm lý, tập quán... Chất lượng nguồn nhân lực được xem là một chỉ
tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương hay quốc gia;
bởi chất lượng nguồn nhân lực với tư cách là một nguồn lực thì nó là động lực
của sự phát triển, còn với tư cách là con người thì nó là trình độ sống của xã
hội. Vì vậy, chất lượng nguồn nhân lực được hiểu một cách chung nhất là tổng
hợp các yếu tố về thể lực, phẩm chất và trình độ năng lực của người lao động,

tinh thần, khả năng chịu áp lực…). Đánh giá được thái độ trong công việc
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status