BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
VŨ NGỌC LINH
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỐNG KÊ THÀNH PHỐ BẮC NINH
THEO TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
HÀ NỘI - 2017
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
VŨ NGỌC LINH
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THỐNG KÊ THÀNH PHỐ BẮC NINH
THEO TIẾP CẬN CỘNG ĐỒNG
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hồng Thuận
viên của nhà trường sau khi tốt nghiệp. Bên cạnh việc học tập tại trường, sinh
viên còn tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động nghề nghiệp tại cộng đồng
trong quá trình thực hành, thực tập nghề nghiệp. Đặc biệt, sau khi ra trường, họ
3
được tiếp nhận vào các cơ quan, doanh nghiệp, chính là nơi tiếp tục giáo dục,
nâng cao giá trị nghề nghiệp cho các cựu sinh viên. Do đó, trước hết phải xác
định được cách thức thực hiện để tối ưu hóa quá trình giáo dục giá trị nghề
nghiệp theo hướng tiếp cận cộng đồng.
Trước đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục giá trị nhằm
làm rõ bản chất, mục đích, nội dung và các con đường giáo dục giá trị cho thế hệ
trẻ,… cũng như giáo dục giá trị văn hóa, giáo dục giá trị đạo đức, giáo dục giá
trị sống, giáo dục giá trị nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên,… Tuy nhiên, cho
đến nay việc giáo dục giá trị nghề thống kê còn rất hiếm và riêng giáo dục giá trị
nghề nghiệp theo hướng tiếp cận cộng đồng thì dường như chưa có nghiên cứu
nào. Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn vấn đề: “Giáo dục
giá trị nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng Thống kê Thành phố Bắc
Ninh theo tiếp cận cộng đồng” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giáo dục giá trị nghề nghiệp
cho sinh viên theo tiếp cận cộng đồng, tìm ra các biện pháp giáo dục giá trị nghề
nghiệp cho sinh viên Cao đẳng Thống kê Thành phố Bắc Ninh dựa vào cộng
đồng địa phương, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng
Thống kê Thành phố Bắc Ninh Tỉnh Bắc Ninh.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng
giá trị nghề nghiệp, giáo dục giá trị nghề nghiệp, tiếp cận cộng đồng,… Từ đó
xây dựng cơ sở lý luận về giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao
đẳng Thống kê Thành phố Bắc Ninh theo tiếp cận cộng đồng.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Xây dựng hệ thống câu hỏi dành cho CBQL, GV và sinh viên nhằm tìm
hiểu thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục giá trị nghề nghiệp cho
5
sinh viên trường Cao đẳng Thống kê theo tiếp cận cộng đồng trên địa bàn Thành
phố Bắc Ninh.
7.2.2. Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát hoạt động giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao
đẳng Thống kê theo tiếp cận cộng đồng nhằm bổ sung thông tin về thực trạng.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn sâu, trao đổi với một số CBQL, giảng viên, sinh
viên nhằm làm rõ hơn những kết quả thu được qua phiếu hỏi, đồng thời bổ sung
thêm những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài.
7.2.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu sản phẩm hoạt động dạy của GV như nội dung, chương trình
giảng dạy, tài liệu học tập,…và sản phẩm hoạt động học của sinh viên như kết
quả học tập, tính tích cực tham gia các hoạt động giáo dục liên quan đến giáo
dục giá trị nghề nghiệp.
7.2.2.5. Phương pháp chuyên gia
Thu thập các thông tin và xin ý kiến của chuyên gia về những vấn đề có
liên quan và biện pháp giáo dục giá trị nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao
đẳng Thống kê theo tiếp cận cộng đồng.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê toán học và, phần mềm xử lý
sinh thành những con người năng động, hạnh phúc, phát triển toàn diện và biết
tạo ra giá trị. Để thực hiện được nền giáo dục tam phương, T.Makiguchi đề nghị
phải chuyển đổi các chức năng của người giáo viên từ chỗ là người truyền thụ tri
thức thành người hướng dẫn hữu ích cho tiến trình tìm tòi và học tập của học
sinh [33].
Trong hoạt động điều tra nghiên cứu về định hướng giá trị của thanh niên,
có các công trình đáng chú ý như: Chương trình nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo
đức cho thanh niên do Trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niên của
Bungari thực hiện vào những năm 1977 – 1978; các cuộc điều tra do Phòng
nghiên cứu thanh niên thuộc viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản thực hiện
đối với lứa tuổi từ 18 – 24 tuổi ở 11 nước trên thế giới và cuộc điều tra do Viện
khảo sát xã hội Châu Âu thực hiện đối với lứa tuổi 15 – 24 tuổi ở mức 10 nước
7
Châu Âu được tiến hành vào năm 1985; Cuộc điều tra quốc tế về giá trị đạo đức
của con người chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI, so The Club of Rome thực hiện
theo đề nghị của UNESCO, được tiến hành vào năm 1986… [36]
Bên cạnh các cuộc điều tra nghiên cứu định hướng giá trị của thanh niên,
nhiều hội nghị khoa học về giáo dục giá trị cũng đã được tổ chức. Điển hình là:
Hội nghị khoa học với chủ đề “Đẩy mạnh giáo dục giá trị đạo đức nhân
văn, văn hóa quốc tế” được tổ chức tại Tokyo, Nhật Bản vào tháng 2 năm 1994.
Hội nghị đã tổng kết kinh nghiệm giáo dục giá trị đạo đức nhân văn và thống
nhất đưa ra 8 nhóm giá trị được xác định trên cơ sở có liên quan đến 8 chủ đề:
Quyền con người; Dân chủ; Hợp tác và Hòa bình; Bảo vệ môi trường; Bảo vệ di
sản văn hóa; Bản thân và những người khác; Tính dân tộc; Tâm linh [31];
Tháng 8 năm 1996, một cuộc hội thảo của 20 nhà giáo dục đến từ khắp
nơi trên thế giới diễn ra tại trụ sở của UNICEF ở thành phố New York. Hội thảo
bàn về nhu cầu cảu trẻ em và những trải nghiệm khi tiếp xúc với các giá trị, về
Giáo dục Giá trị sống. Đặc biệt, đáng chú ý là bài Giáo dục giá trị trong nhà
Tóm lại, hiện nay giáo dục giá trị đã trở thành một xu thế chung trên thế
giới, hầu hết các nước đều rất quan tâm đến việc nghiên cứu và tổ chức giáo dục
giá trị trong nhà trường. Quan niệm chung của các nước khi nghiên cứu và triển
khai giáo dục giá trị đều hướng đến hình thành cho học sinh, sinh viên các giá trị
cốt lõi, mang tính thời đại nhằm giúp họ có thể thích ứng và hoạt động có hiệu
quả trong một thế giới đang biến đổi hết sức nhanh chóng. Tuy nhiên, do phần
lớn các nước đều mới bước đầu tiên triển khai giáo dục giá trị, nên những
nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song vẫn chưa thật toàn
diện và sâu sắc. Việc nghiên cứu và triển khai chương trình giáo dục giá trị mới
chỉ tập trung vào các giá trị sống, giá trị đạo đức – nhân văn. Trong khi đó, vấn
đề giáo dục GTNN cho người học nghề, bao gồm cả nghề thống kê, còn ít được
quan tâm.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta, vấn đề giáo dục giá trị cũng được các nhà khoa học bàn đến từ
khá sớm. Năm 1986, qua bài viết “Một số vấn đề phương pháp giáo dục về
giảng dạy đạo đức cho học sinh phổ thông” đăng trên tạp chí Thông tin khoa học
giáo dục, Hà Thế Ngữ đã chỉ ra nhân lõi của phương pháp giáo dục đạo đức là
9
phải chuyển hóa được những giá trị xã hội vào trong ý thức của người học, và do
đó, giáo dục giá trị phải là một phần hữu cơ của quá trình giáo dục đạo đức [29].
Bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX, giáo dục giá trị cùng với giá trị và
định hướng giá trị đã trở thành những vấn đề rất được quan tâm ở nước ta và
được bàn đến trong nhiều công trình nghiên cứu về con người, đặc biệt là trong
một số đề tài thuộc hai chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước: Chương
trình KX-07 “Con người là mục tiêu và động lực phát triển kinh tế xã hội” (1991
– 1995) và Chương trình KHXH-04 “Phát triển văn hóa, xây dựng con người
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (1996 – 2000).
Ngoài các đề tài nằm trong khuôn khổ hai chương trình khoa học công
1.2.1.1. Giá trị
Từ thời cổ đại, những hiểu biết đầu tiên về giá trị đã có trong các tư tưởng
triết học. Đến cuối thế kỉ XIX, với sự xuất hiện của giá trị học, thuật ngữ giá trị
được dùng để chỉ về một khái niệm khoa học và được nghiên cứu ngày càng sâu
rộng trong triết học, đạo đức học, văn hóa học, xã hội học, tâm lý học… Với
mỗi ngành học đều có những hướng tiếp cận riêng đối với khái niệm “giá trị”.
Vì thế, xung quanh khái niệm “giá trị” có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Theo một số từ điển Việt Nam và từ điển nước ngoài, khái niệm “giá trị”
được định nghĩa “là phẩm chất tốt hay xấu, tác dụng lớn hay nhỏ của sự vật hay
của con người, là cái làm cho vật có ích lợi, đáng quý, là tính ý nghĩa tích cực
hay tiêu cực của khách thể đối với con người, giai cấp, nhóm, xã hội nói chung,
được phản ánh vào các nguyên tắc và chuẩn mực đạo lý, lý tưởng, tâm thế, mục
đích. Có giá trị vật chất và giá trị tinh thần” [7. tr. 123]
Nhà xã hội học J. H. Ficher (Hoa Kỳ) coi: “Tất cả những gì có ích lợi,
đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc nhóm xã hội đều có một
giá trị” [24].
Nhà văn hóa học C. Kluckholn (Hoa Kỳ) cho rằng: “Người ta nhận thấy ở
giá trị những quan niệm thầm kín hoặc bộc lộ cái ao ước riêng của một cá nhân
hay của một nhóm. Những quan niệm ấy chi phối sự lựa chọn các phương thức,
phương tiện và mục đích khả thi của hành động” 4. tr. 31].
Còn theo quan niệm của nhà giáo dục học T. Makiguchi (Nhật Bản) thì:
“Giá trị là sự thể hiện có tính định lượng của mối quan hệ giữa chủ thể đánh
giá và đối tượng của việc đánh giá” [33. tr. 104].
11
Trong những thập kỷ gần đây, ở nước ta cũng đã có nhiều công trình
nghiên cứu về giá trị. Nhìn chung, tác giả của các công trình này đều quan niệm
giá trị là tính có ý nghĩa tích cực, tốt đẹp, đáng quy, có ích của các đối tượng đối
với chủ thể. Chẳng hạn, theo tác giả Thái Duy Tuyên thì giá trị là: “Cái đáng
tiễn trong đó họ sống và hoạt động. Do vậy, trong mỗi thời đại lịch sử, mỗi chế
độ xã hội, mỗi cộng đồng dân tộc, tôn giáo, giai cấp,… đều có những giá trị
riêng của mình. Nói khác đi, giá trị là một phạm trù mang tính xã hội, tính xã
hội, tính lịch sự - cụ thể, luôn biến đổi theo không gian và thời gian.
Thứ ba, Giá trị được hình thành trong hoạt động thực tiễn, gắn liền với
hoạt động của con người. Khi đã hình thành, giá trị có vai trò là chỗ dựa để con
người xác định mục đích, phương hướng cho hoạt động của mình. Mọi cách
thức và hành động của con người trong hoạt động đều được chỉ đạo bởi các giá
trị. Vì thế, giá trị là cái chi phối con người trong việc lựa chọn các phương thức,
phương tiện và mục đích hoạt động.
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu một cách khái quát: Giá trị là tính
ích lợi, tính có ý nghĩa tích cực của sự vật, hiện tượng đối với sự thỏa mãn nhu
cầu của con người, có tác dụng chi phối con người trong việc lựa chọn mục
đích, phương thức và phương tiện hoạt động.
Trong xã hội loài người có vô số các giá trị khác nhau. Thông thường, các
giá trị được phân chia thành hai loại tương ứng với hai lĩnh vực cơ bản trong đời
sống con người, đó là giá trị vật chất (thỏa mãn các nhu cầu vật chất) và giá trị
tinh thần (thỏa mãn các nhu cầu tinh thần). Người ta cũng thường phân biệt các
giá trị xã hội với các giá trị cá nhân. Giá trị cá nhân là giá trị mà một con người,
với tư cách là một chủ thể của hoạt động, đã tiếp thu hoặc tạo ra được cho chính
bản thân mình. Còn giá trị xã hội là giá trị được đa số người trong cộng đồng
thừa nhận và cần đến nó như một nhu cầu thực sự. Các giá trị xã hội là các giá
trị căn bản của con người, là cơ sở của giá trị cá nhân. Do đó, việc giáo dục giá
trị cho cá nhân phải dựa trên nền tảng của các giá trị xã hội.
Các giá trị, dù là giá trị cá nhân hay giá trị xã hội, bao giờ cũng tồn tại và
vận đọng trong mối liên hệ chặt chẽ với các giá trị khác. Khi một tổ hợp các giá
trị khác nhau được cấu trúc theo những vị trí thứ bậc khác nhau, tạo thành một
chỉnh thể thống nhất, phù hợp với việc thực hiện các chức năng đặc thù của xã
hội thì được gọi là hệ giá trị (hệ thống giá trị). Mỗi hệ giá trị đều có một cấu trúc
13
mới. Vì thế, nói đến thước đo giá trị là nói đến mặt thực tiễn của thang giá trị.
14
Thang giá trị, thước đo giá trị được dùng để đánh giá về các giá trị. Trên
thực tế, mỗi cá nhân hay cộng đồng xã hội đều có những thước đo giá trị riêng.
Tuy nhiên, dù là thước đo giá trị nào thì trong nó cũng có những giá trị giữ vị trí
là giá trị cốt lõi, chuẩn mực chung cho nhiều người, chiếm vị trí ở bậc cao hoặc
vị trí then chốt. Những giá trị đó được coi là giá trị chuẩn hay chuẩn giá trị.
Chuẩn giá trị là một giá trị cụ thể, được cộng đồng xã hội lựa chọn, đánh
giá trong quá trình họ tham gia vào các loại hình hoạt động và giao lưu. Khi giá
trị được chọn lọc lên đến cấp độ chung cho mọi người thì nó trở thành chuẩn giá
trị nằm trong hệ giá trị xã hội, giữ vị trí là giá trị cốt lõi, thực hiện vai trò của
một giá trị hạt nhân để điều chỉnh các giá trị khác, đảm bảo cho mối quan hệ
tương tác trong nhóm giá trị cũng như trong cả hệ thống giá trị luôn đa dạng và
ổn định. Vai trò hạt nhân của chuẩn giá trị được thể hiện rõ nét nhát khi nó nằm
trong cấu trúc của thang giá trị. Ở đây, chuẩn giá trị được lấy làm căn cứ, làm
tiêu chuẩn để phân định các giá trị vào từng tang bậc phù hợp. Bởi thế, chuẩn
giá trị chính là thang bậc chuẩn trong thước đo giá trị.
Chuẩn giá trị có vị trí độc lập tương đối. Tuy nhiên, trong đời sống của
mỗi cộng đồng xã hội, các giá trị chuẩn không tách rời nhau, mà liên hệ mật
thiết với nhau tạo thành hệ chuẩn giá trị của cộng đồng. Hệ chuẩn giá trị giữ vị
trí là nhân lõi của hệ giá trị xã hội. Nội dung của hệ giá trị xã hội được biểu hiện
một cách cô đọng nhất ỏ hệ chuẩn giá trị. Vì vậy, qua hệ chuẩn giá trị của một
cộng đồng có thể xác định được những đặc trưng cơ bản trong hệ giá trị của
cộng đồng đó. Đây là vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng đối với
việc xây dựng nội dung giáo dục giá trị cho học sinh, sinh viên hiện nay.
Giá trị luôn gắn liền với sự thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần
của con người. Do đó, nó có vai trò hết sức to lớn trong đời sống cá nhân và
cộng đồng. Giá trị là nguồn động lực thôi thúc con người hành động và nỗ lực
được những nhu cầu cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của bản thân.
Trong đời sống xã hội luôn tồn tại nhiều nghề khác nhau. Bất cứ nghề nào
cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị nghề nghiệp. Các GTNN nằm
trong khái niệm “giá trị” nên nó cũng mang đầy đủ các dấu hiệu bản chất của giá
trị. Nghĩa là, GTNN cũng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với nhu cầu của con
người và chỉ được hình thành thông qua sự đánh giá của chủ thể. Tuy nhiên, bên
16
cạnh những dấu hiệu chung ấy, ở GTNN còn có những đặc điểm riêng biệt sau
đây:
- Giá trị nghề nghiệp là cái có khả năng giúp con người thỏa mãn những
nhu cầu liên quan đến việc thực hiện các chức năng chuyên môn trong một lĩnh
vực hoạt động nhất định. Với các nghề khác nhau thì GTNN cũng khác nhau.
Song, nhìn chung, các GTNN trong mỗi nghề đều bao gồm: các phẩm chất nghề
nghiệp, truyền thống của nghề, các tri thức lý thuyết của nghề, các kỹ năng, kỹ
xảo, hiệu quả lao động… Các GTNN đóng vai trò định hướng và điều chỉnh
hoạt động chuyên môn của nghề, chi phối người lao động trong việc lựa chọn
mục đích, phương thức và phương tiện khi tiến hành các hoạt động chuyên môn.
Tổng thể các GTNN trong một nghề tạo nên văn hóa của nghề đó. Việc lĩnh hội
các GTNN từ nền văn hóa nghề sẽ giúp con người hình thành được nhân cách
nghề nghiệp ở bản thân. Nhờ vậy, họ có thể tham gia lao động trong nghề và
khẳng định được giá trị của mình trong hoạt động nghề nghiệp cũng như trong
cộng đồng xã hội. Vì thế, GTNN chính là giá trị nhân cách nghề nghiệp của
người lao động, là giá trị của con người.
- Nguồn gốc của GTNN nằm trong thực tiễn của nghề, nó vốn là đặc tính
của những đối tượng nhất định. Đặc tính này trở thành GTNN khi nó được
người lao động nhận thức, đánh giá là có ý nghĩa tích cực cho hoạt động nghề
nghiệp của bản thân và mong ước chiếm lĩnh lấy nó. Như vậy, GTNN chỉ được
hình thành trong thực tiễn nghề và thông qua sự đánh giá của chủ thể hoạt động
xét đầy đủ thì GTNN và chuẩn nghề nghiệp có nhiều điểm khác biệt. GTNN là
biểu tượng tinh thần có tác dụng thúc đẩy người lao động tích cực thực hiện các
chức năng của nghề, còn chuẩn nghề nghiệp là quy ước chung về những điều mà
người lao động trong nghề nên làm, phải làm và những điều không nên làm,
không được làm, nó nhắc nhở mỗi người cần phải ứng xử như thế nào trong
từng tình huống cụ thể. GTNN là cái quy định mục đích hoạt động của người lao
động, còn chuẩn nghề nghiệp là sự vận dụng cụ thể GTNN vào việc định hướng
các khuôn mẫu ứng xử và quy tắc hành động để đạt đến mục đích ấy. Giá trị và
chuẩn nghề nghiệp có quan hệ mật thiết với nhau. GTNN là nền tảng tạo nên
chuẩn nghề nghiệp, còn chuẩn nghề nghiệp lại là sự hiện thực hóa của các
GTNN. Vì thế, trên cơ sở khái quát các chuẩn nghề nghiệp có thể rút ra các
GTNN tương ứng.
18
Trong thực tiễn nghề nghiệp luôn hàm chứa vô số các GTNN khác nhau.
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà có thể đưa ra những tiêu chí khác nhau để
phân loại các GTNN. Chẳng hạn:
+ Dựa vào hiệu quả của GTNN về phương diện lợi ích có thể phân thành
giá trị vật chất và giá trị tinh thần.
+ Căn cứ vào thời điểm hình thành GTNN và thời gian tồn tại của nó
trong lịch sử phát triển nghề có thể phân thành giá trị truyền thống và giá trị hiện
đại.
+ Phân loại các GTNN theo chức năng của nó trong hoạt động nghề, ta có
giá trị mục đích và giá trị công cụ.
Sự phân loại GTNN chính là sự sắp xếp các giá trị theo những quan hệ
nhất định. Căn cứ vào sự phân loại GTNN cũng như căn cứ vào chức năng, mức
độ phổ biến hoặc mức độ tác dụng của giá trị, có thể xác địn được các hệ thống
GTNN và thang GTNN.
Hệ giá trị nghề nghiệp là một tổ hợp các GTNN khác nhau được sắp xếp,
nhau giữa các GTNN và các nhóm GTNN. Bởi vậy, trong một hệ GTNN luôn
bao gồm cả những giá trị có tính truyền thống và tính thời đại, cả những giá trị
mang tính nhân loại, tính dân tộc và tính cộng đồng…
Thang giá trị nghề nghiệp là một hệ thống GTNN được sắp xếp theo một
trật tự ưu tiên nhất định. Trong thực tế, tùy theo đặc điểm phát triển của nghề ở
từng thời điểm lịch sử nhất định, mà giá trị này được ưu tiên hơn giá trị khác,
giá trị này được cần đến hơn giá trị kia. Bởi vậy, thang GTNN cũng thay đổi
cùng với sự thay đổi của xã hội cả về thời gian và không gian. Khi thang GTNN
được một chủ thể nào đó (người lao động hoặc người quản lý lao động trong
nghề…) vận dụng vào quá trình thực hiện hay đánh giá các hoạt động trong mối
quan hệ với công việc, với đồng nghiệp, với tập thể, với xã hội và với chính bản
thân mình, hoặc để sáng tạo, nhận thức đánh giá, lựa chọn và chấp nhận các giá
trị cần cho nghề nghiệp của mình thì được gọi là thước đo giá trị nghề nghiệp.
Vấn đề thang GTNN và thước đo GTNN là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với
sự tồn tại và phát triển của nghề, nó định hướng và thúc đẩy sự phát triển nhân
cách của người lao động, giúp họ hình thành được các phẩm chất và năng lực
nghề nghiệp cần thiết. Do đó, việc chuyển hóa thang GTNN, thước đo GTNN
thành thang giá trị, thước đo giá trị của từng người lao động sẽ tạo nền tảng
20
vững chắc để họ gắn bó với nghề, hoàn thành tốt các chức năng nghề nghiệp của
mình.
Trong một hệ GTNN nói chung, một thang GTNN nói riêng bao giờ cũng
có các giá trị chuẩn (hay chuẩn GTNN). Đó là những giá trị cốt lõi, giữ vị trí
then chốt và có thứ tự ưu tiên cao trong hệ thống GTNN. Các chuẩn GTNN
được hình thành, xác định trong quá trình cá nhân hoặc cộng đồng những người
lao động tham gia vào các hoạt động và các mối quan hệ nghề nghiệp với tư
cách là chủ thể của các hoạt động và các mối quan hệ đó. Vì vậy, các chuẩn
GTNN luôn đóng vai trò là cơ sở định hướng cho đạo đức, lối sống nghề nghiệp
- Thứ nhất, định hướng giá trị là thái độ lựa chọn giá trị của con người, là
một dạng hoạt động tinh thần giúp con người phân biệt được cái có ý nghĩa, có
giá trị với những cái vô nghĩa, vô giá trị đối với họ. Nội dung cơ bản của định
hướng giá trị là niềm tin mang tính chất thế giới quan, niềm tin đạo đức của con
người, là những khát vọng sâu xa và liên tục, những nguyên tắc chân, thiện, mỹ
của hoạt động xã hội và hành vi ứng xử. Nghĩa là định hướng giá trị có liên hệ
mất thiết với các quy trình nhận thức, ý chí và cảm xúc của con người.
- Thứ hai, định hướng giá trị diễn ra trên cái nền của tâm thế, thái độ,
niềm tin và sở thích của con người. Bởi vậy, định hướng giá trị có quan hệ hữu
cơ với các yếu tố này. Trong định hướng giá trị có sự thể hiện thái độ, đó là thái
độ đánh giá, thái độ cảm xúc, thái độ lựa chọn giá trị mà chủ thể chấp nhận.
Cũng vậy, tâm thế, niềm tin và sở thích là một bộ phận tố thành của định hướng
giá trị. Nhờ các thành tố này mà chủ thể thực hiện sự lựa chọn giá trị một cách
có chủ đích và luôn sẵn sàng hành động, ứng xử phù hợp với các giá trị đã lựa
chọn.
- Thứ ba, định hướng giá trị là thành tố cốt lõi trong cấu trúc nhân cách.
Tập hợp những định hướng giá trị ổn định và không mâu thuẫn tạo nên những
nét đặc trưng của ý thức, đảm bảo tính mục đích, tính tích cực và kiên định của
nhân cách khi hoạt động theo phương hướng nhất định. Chúng cũng biểu thị nhu
cầu, hứng thú cá nhân là những yếu tố quyết định và điều chỉnh hệ động cơ của
nhân cách. Định hướng giá trị gắn liền với việc giải quyết những mâu thuẫn,
những xung đột trong hệ động cơ, trong cuộc đấu tranh giữa hành vi đạo đức và
những kích thích thực dụng. Sự phát triển các định hướng giá trị là dấu hiệu
trưởng thành của nhân cách, là chỉ tiêu đo đạc tính xã hội của nhân cách.
22
Tóm lại, định hướng giá trị là một dạng hoạt động tinh thần, thực hiện
việc lựa chọn và sắp xếp các giá trị trên cơ sở hệ thống thái độ, niềm tin, sở
thích và tâm thế của con người, nhằm phân biệt ý nghĩa của các đối tượng đối
ràng giữa giáo dục giá trị với hoạt động định hướng giá trị của nhân cách. Riêng
trong đề tài này, khái niệm định hướng giá trị được dùng với hàm nghĩa là một
thành tố cốt lõi trong cấu trúc nhân cách để phân biệt với hàm nghĩa là một quá
trìn xã hội hình thành địn hướng giá trị cho cá nhân (nghĩa là giáo dục chính trị).
Định hướng giá trị là một thành phần cấu tạo nên nhân cách, là hoạt động
tâm lý diễn ra trong ý thức của chủ thể theo các quá trình với những giai đoạn
khác nhau. Việc phân chia các giai đoạn này được dựa trên cơ sở những tiêu
chuẩn xác định giá trị cụ thể. Theo các tác giả Paths, Harmin và Simon [36], có
bảy tiêu chuẩn để xác định giá trị. Do đó, một hoạt động định hướng giá trị
thường trải qua bảy giai đoạn dựa trên cái nền của ba quá trình cơ bản là: lựa
chọn, cân nhắc và hành động. Trong đó, quá trình lựa chọn gồm có các giai
đoạn: lựa chọn tự do, lựa chọn từ các khả năng khác nhau, lựa chọn sau khi cân
nhắc; Quá trình cân nhắc bao gồm: giai đoạn cân nhắc và tâm niệm, giai đoạn
khẳng định; Quá trình hành động có các giai đoạn: hành động theo lựa chọn và
lặp lại hành động. Kết quả của hoạt động định hướng giá trị là con người khẳng
định được một giá trị nào đó, lấy nó làm cái để bản thân hướng tới trong cuộc
sống.
1.2.2.2. Định hướng giá trị nghề nghiệp
Cho đến nay, vẫn chưa có ai đưa ra định nghĩa cụ thể về “định hướng giá
trị nghề nghiệp”. Tuy nhiên, dựa vào khái niệm “định hướng giá trị” và khái
niệm “giá trị nghề nghiệp” ở trên, tác giả luận án quan niệm định hướng GTNN
là sự lựa chọn, sắp xếp các giá trị nghề nghiệp trên cơ sở tâm thế, thái độ, niềm
tin và sở thích của người lao động, nhằm phân biệt ý nghĩa của chúng đối với
việc thực hiện các chức năng nghề nghiệp, từ đó hình thành nên nội dung cơ
bản của xu hướng và động cơ trong nhân cách nghề nghiệp của bản thân.
Khái niệm “định hướng GTNN”, với quan niệm như vậy, hoàn toàn khác
với khái niệm “định hướng giá trị của nghề”. Sự khác biệt này thể hiện ở chỗ,
“định hướng GTNN” là sự lựa chọn, sắp xếp các phẩm chất, tri thức, kỹ năng và
kỹ xảo theo ý nghĩa của chúng đối với việc thực hiện một hoạt động nghề nghiệp
nào đó, còn “định hướng giá trị của nghề” lại là sự lựa chọn, sắp xếp của con
nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt, bởi nó tạo nền tảng vững chắc cho sự hình
thành hệ thống định hướng GTNN của người lao động.
1.2.3. Giáo dục giá trị nghề nghiệp
25