MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1 XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VỀ KINH TẾ Ở
HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
1.1. Tổng quan về nông thôn, nông thôn mới và xây dựng
nông thôn mới về kinh tế
1.2. Sự cần thiết, mục tiêu, nội dung tiêu chí và các nhân tố
ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới về kinh tế tại
huyện Chương Mỹ
1.3. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở một
số huyện trong nước và bài học rút ra cho huyện Chương
Mỹ thành phố Hà Nội
Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VỀ
KINH TẾ Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH
PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN QUA
2.1. Thành tựu, hạn chế trong xây dựng nông thôn mới về kinh tế
ở huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội
2.2. Nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra từ thực trạng xây dựng
nông thôn mới về kinh tế ở huyện Chương Mỹ thành phố Hà
Nội cần phải giải quyết trong thời gian tới
Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
VỀ KINH TẾ Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH
PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI
3.1. Quan điểm cơ bản xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở
huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội trong thời gian tới
3.2. Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xây dựng nông thôn
mới về kinh tế ở huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội
thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
đã có sự phát triển trên nhiều lĩnh vực, đời sống của đại đa số các tầng lớp
nhân dân đã được nâng lên một bước. Tuy nhiên, hiện nay đời sống của nông
dân Việt Nam còn `gặp nhiều khó khăn. Không ít những nông dân ở vùng quê
đã và đang bỏ những vùng quê lên các đô thị để kiếm sống. Điều đó ảnh
hưởng tới mong muốn của Đảng ta “ly nông nhưng không ly hương”. Tiềm
năng đất đai, rừng biển ở nhiều vùng quê chưa được khai thác có hiệu quả.
Nguyên nhân của tình trạng đó là do ruộng đất còn manh mún, kết cấu hạ tầng
trong nông nghiệp và nông thôn còn nhiều hạn chế.
Để khắc phục những hạn chế đó, Đảng ta đã chủ chương xây dựng
Nông thôn mới với mong muốn tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nông
nghiệp, nông thôn, không ngừng cải thiện đời sống nông dân. Tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X đã xác định để tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản
xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn
đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan
trọng. Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa
dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng
cạnh tranh cao; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực và tạo điều kiện từng
bước hình thành nền nông nghiệp sạch; phấn đấu giá trị tăng thêm trong
ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng 3 - 3,2%/năm. Tốc độ phát triển công
nghiệp và dịch vụ ở nông thôn không thấp hơn tốc độ bình quân cả nước. Gắn
phát triển kinh tế với xây dựng Nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan
hệ giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn
định chính trị xã hội”. Đó là vấn đề chiến lược trong quá trình phát triển kinh
2
tế - xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quán triệt Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy
văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu có liên quan đến đề tài
dưới nhiều góc độ khác nhau, được công bố dưới dạng chuyên đề, luận văn
thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các kỷ yếu hội thảo; đề tài cấp bộ, các bài viết đăng
trên các báo, Tạp chí. Tiêu biểu có các công trình sau:
- GS Phạm Xuân Nam (chủ biên) (1997), “Phát triển nông thôn”, NXB
Khoa học Xã hội. Trong Công trình, tác giả đã phân tích sâu sắc về một số nội
dung phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn ở nước ta; phân tích những mặt
đạt được và chỉ ra các tồn tại, yếu kém trong việc phát triển nông thôn ở nước
ta, từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp về hệ thống chính sách và cách chỉ đạo
thực hiện của Nhà nước để phát triển nông thôn Việt Nam.
- Công trình nghiên cứu “Nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn
công nghiệp hóa hiện đại hóa” do PTS Đặng Thọ Xương (chủ biên), Nxb
CTQG Hà Nội, 1997.
- PGS,TSKH Lê Đình Thắng và cộng sự (1998) trong công trình nghiên
cứu khoa học: “Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị quyết X của Bộ
Chính trị”, NXB Chính trị Quốc gia. Tác giả đã phân tích các nội dung quan
trọng liên quan và tác động đến quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn ở
nước ta như hệ thống chính sách về đất đai, hệ thống chính sách về phân phối.
- “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn - một số
vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Hồng Vinh, Nxb.CTQG Hà Nội 1998.
Công trình này đã nêu lên sự cần thiết của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông thôn Việt Nam hiện nay, những kết quả đạt và hạn chế, những vấn đề
đang đặt ra.
4
- “Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị quyết X của Bộ chính
trị” do PGS.TSKH Lê Đình Thắng (chủ biên), NXb Chính trị Quốc Gia,
Ninh Thuận; vùng ĐNB: Khảo sát 4 xã NTM và 4 xã kế cận để so sánh tại
Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai.
- Phạm Khắc Sáu (2012), “Thực trạng, giải pháp xây dựng NTM tại xã
Đồng Hóa-huyện Kim Bảng giai đoạn 2010 –2015”, Luận văn, Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân. Tác giả đã trình bày các cơ sở khoa học về xây dựng
NTM, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng và những thuận lợi và khó
khăn trong quá trình xây dựng NTM tại xã Đồng Hóa-huyện Kim Bảng, trên
cơ sở lý thuyết và thực tiễn, tác giả đã đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm
xây dựng và phát triển NTM tại xã Đồng Hóa-huyện Kim Bảng.
- Phạm Khắc Dũng (2012), “Giải pháp xây dựng và phát triển NTM của
huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Cạn”, Luận văn, Trường Đại học Thái Nguyên,
công bố năm 2012. Tác giả phân tích các cơ sở khoa học về xây dựng NTM;
đánh giá thực trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, những thuận lợi và
khó khăn trong quá trình xây dựng NTM tại huyện và đã đưa ra những giải
pháp chủ yếu xây dựng và phát triển NTM tại huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Cạn.
Bên cạnh đó còn có một số công trình luận văn, luận án nghiên cứu về
vấn đề này như:
- Hà Thị Giang (2011), “Một số giải pháp xây dựng NTM huyện Gia
Lâm-thành phố Hà Nội theo hướng đô thị hóa”, Luận văn, Trường Đại học
Kinh Tế Quốc dân. Đề tài được tác giả nghiên cứu, làm rõ các vấn đề liên
quan đến NTM, đô thị hóa nông thôn và bộ tiêu chí NTM. Tác giả đánh giá
thực trạng, đưa ra những giải pháp xây dựng NTM tại huyện Gia Lâm.
- Phan Đình Hà (2011),“Giải pháp đẩy mạng xây dựng NTM trên địa bàn
huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An”, Luận văn, Trường Đại học Nông nghiệp
Hà nội. Tác giả nghiên cứu, làm rõ các vấn đề liên quan đến NTM, thực trạng
xây dựng NTM ở huyện Thanh Chương, từ đó tác giả đưa ra những phương
6
thực tiễn về vấn đề kinh tế trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
3.Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn
về xây dựng nông thôn mới về kinh tế tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà
Nội hiện nay; trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm xây dựng nông
thôn mới về kinh tế tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện
Chương Mỹ thành phố Hà Nội; khảo sát kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới về
kinh tế ở một số huyện và rút ra bài học cho huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới về kinh tế tại
các xã của huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất quan điểm và các giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình xây
dựng nông thôn mới về kinh tế trên địa bàn huyện Chương Mỹ thành phố Hà
Nội trong thời gian tới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của luận văn là xây
dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội dưới
góc độ kinh tế chính trị.
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: tập trung nghiên cứu việc xây dựng nông thôn
mới về kinh tế nhằm hoàn thành các tiêu chí: thu nhập, hộ nghèo, tỷ lệ lao
động việc làm thường xuyên, hình thức tổ chức sản xuất.
- Phạm vi về không gian: luận văn nghiên cứu xây dựng nông thôn mới
ở 30 xã của huyện Chương Mỹ.
8
10
Chương 1
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VỀ KINH TẾ Ở HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM
1.1. Tổng quan về nông thôn, nông thôn mới và xây dựng nông
thôn mới về kinh tế
1.1.1 Tổng quan về nông thôn
* Khải niệm nông thôn
Nông thôn theo nghĩa truyền thống, là một khái niệm chỉ một bộ phận
của đất nước dùng để phân biệt với khái niệm thành thị. Đó là một địa bàn
không gian rộng lớn mà đại bộ phận dân cư là những người nông dân, sản
xuất nông nghiệp là chủ yếu; quan hệ xã hội chủ yếu trong lũy tre làng với
cây đa, giếng nước, sân đình, trên cơ sở huyết thống, dòng họ… Tuy nhiên
ngày nay cùng với quá trình phát triển của xã hội những yếu tố truyền thống
có sự biến động. Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản
xuất về nông thôn cũng có sự thay đổi.
Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học và
Bách khoa Việt Nam: “nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay một đơn
vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh
kinh tế - xã hội, điều kiện sống khác biệt với đô thị và dân cư chủ yếu làm
nghề nông”.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Nông thôn là một địa bàn mà ở đó sản
xuất nông nghiệp là chủ yếu, thu nhập của dân cư từ sản xuất nông nghiệp
chiếm tỷ trọng lớn. Tên gọi của địa bàn nông thôn thường là xã, thôn, làng,
ấp, bản... Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ: Kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội… Về mặt kinh tế - xã hội, dân cư nông thôn có mức sống,
trình độ dân trí, điều kiện tiếp cận với tiến bộ khoa học - công nghệ trên thế
* Vai trò của nông thôn:
Nông thôn có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế, cụ thể là:
12
- Nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội, do
đó nông thôn là cơ sở góp phần ổn định kinh tế - xã hội;
- Nông thôn là nơi cung cấp sức lao động cho thành thị và các ngành sản
xuất, kinh doanh khác;
- Nông thôn là nơi cung cấp nguyên vật liệu cho ngành công nghiệp,
dịch vụ;
- Nông thôn là nơi cung cấp hàng hóa, nguyên vật liệu cho xuất khẩu, tạo
điều kiện tích lũy một phần vốn cho đất nước;
- Nông thôn là nơi tiếp nhận và là thị trường rộng lớn tiêu thụ các sản
phẩm của ngành công nghiệp và dịch vụ
1.1.2. Tổng quan về nông thôn mới
*Khái niệm nông thôn mới
Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức về Nông thôn mới. Tuy
nhiên, theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW của Trung ương, Nông thôn
mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện
đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn
với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc
văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ
vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng
cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Theo tác giả, nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn
hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách
biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ
kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông
các điều kiện SX nông nghiệp hiện đại hóa, ứng dụng phổ biến khoa học kỹ
thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện đại. Cần phân tách rõ
nông thôn với thành thị; các đặc điểm riêng của thành thị và làng xã; phân công
hợp lý thành thị với nông thôn, tức là nhấn mạnh nông thôn phục vụ thành thị,
14
ngược lại thành thị hỗ trợ nông thôn. Đó chính là cơ sở quan trọng để thực hiện
thành thị và nông thôn phát triển hài hòa. Trong quá trình hình thành nên đô thị
đã xuất hiện 2 loại hiệu ứng là hiệu ứng kinh tế khu vực và hiệu ứng tập hợp, 2
hiệu ứng này quyết định thành thị thích hợp để phát triển công nghiệp, do vậy
mà chức năng của thành thị cũng được thực hiện xuất phát trên cơ sở 2 loại
hiệu ứng này. Còn với nông thôn thì có thể nói nông nghiệp là chức năng tự
nhiên của nông thôn. Xây dựng NTM không có nghĩa là biến nông thôn trở
thành thành thị. Hướng tư duy áp dụng mô hình phát triển của thành thị vào
xây dựng nông thôn phần nào đã phủ nhận những giá trị tự có của nông thôn và
khả năng phát triển trên cơ sở giữ vững bản sắc riêng nông thôn.
- Chức năng giữ gìn văn hóa truyền thống: kho tàng văn hóa truyền thống
được cấu thành từ bởi rất nhiều thành phần quan trọng khác nhau. Các thành
phần này không chỉ đóng vai trò không thể thay thế trong sự nghiệp hiện đại
hóa và phát triển xã hội hài hoà của riêng một quốc gia, mà còn là một bộ phận
cấu thành quan trọng trong kho tàng văn hóa của toàn nhân loại. Nền văn hóa
truyền thống mang đậm màu sắc thôn quê này đã được sản sinh trong một hoàn
cảnh đặc biệt.
Các phương thức SX, sinh sống cũng như cơ cấu tổ chức mang tính đặc
thù của xã hội nông thôn chính là nhân tố quyết định nền văn hóa mang đậm
màu sắc của một quốc gia. Quy tắc hành vi của xã hội gồm những người quen
này là những phong tục tập quán đã được hình thành từ lâu đời, ở đó con người
đối xử tin cậy lẫn nhau trên quy phạm phong tục tập quán đó. Ở đó quan hệ
huyết thống là mối quan hệ quan trọng nhất. Chính các tập thể nông dân cùng
Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hòa
với nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiện, bảo vệ tự nhiên và hình thành
nên thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên. Thành thị là hệ thống sinh thái
nhân tạo phản tự nhiên ở mức độ cao nhất. Quá trình mưu cầu cuộc sống đầy
đủ về vật chất đã khiến người thành thị càng ngày càng xa rời tự nhiên. Nền
16
văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hòa vốn có giữa con người
với thiên nhiên, dẫn đến phá vỡ môi trường một cách nghiêm trọng.
Ở thành thị, con người không tránh khỏi phải đối mặt với những căn bệnh
do ô nhiễm không khí, nước uống, thức phẩm mang lại. Các căn bệnh của xã
hội văn minh hiện đại như ung thư, bệnh tâm não huyết quản.v.v...ngày càng
gia tăng. Số lượng các ca tử vong do mắc các căn bệnh từ hệ thống hô hấp,
bệnh nghề nghiệp và bệnh do ô nhiễm môi trường gây nên chiếm đến hơn 90%
tổng số ca tử vong.
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa khiến con người ngày càng xa
rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước và không khí. Nếu
so sánh với hệ thống sinh thái đô thị, thì hệ thống sinh thái nông nghiệp một
mặt có thể đáp ứng nhu cầu cung cấp các sản phẩm lương thực hoa quả cho con
người, mặt khác cũng đáp ứng được các yêu cầu về môi trường tự nhiên. Thuộc
tính SX nông nghiệp đã quyết định hệ thống sinh thái nông nghiệp mang chức
năng phục vụ hệ thống sinh thái. Đất đai canh tác nông nghiệp, hệ thống thủy
lợi, các khu rừng, thảo nguyên.vv… phát huy các tác dụng sinh thái như điều
hòa khí hậu, giảm ô nhiễm tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm
thực đất đai, làm sạch đất.v.v... Thông qua sự tuần hoàn của tự nhiên và năng
lượng, cuối cùng, thành thị cũng là nơi thu được lợi ích từ chức năng sinh thái
của nông thôn.
* Tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục
tiêu xây dựng NTM đến năm 2020 là:
- Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thủy sản đạt 3,5 - 4%/năm; sử dụng đất
nông nghiệp tiết kiệm và hiệu quả; duy trì diện tích đất lúa đảm bảo vững
chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài. Phát triển nông nghiệp
18
kết hợp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn, giải
quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5
lần so với hiện nay.
- Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động
nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn NTM khoảng 50%.
- Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết
là hệ thống thủy lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa 2
vụ, mở rộng diện tích tưới cho rau màu, cây công nghiệp, cấp thoát nước chủ
động cho diện tích nuôi trồng thủy sản, làm muối; đảm bảo giao thông thông
suốt 4 mùa tới hầu hết các xã và cơ bản có đường ô tô tới các thôn, bản; xây
dựng cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và hạ tầng nghề cá; cấp điện sinh hoạt
cho hầu hết dân cư, các cơ sở công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; đảm bảo
cơ bản điều kiện học tập chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao ở hầu
hết các vùng nông thôn tiến gần tới mức các đô thị trung bình.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có
hiệu quả, bền vững công cuộc xoá đói, giảm nghèo; nâng cao trình độ giác
ngộ và vị thế chính trị của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham
gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình CNH-HĐH đất nước.
- Nâng cao năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, hoàn chỉnh hệ
thống đê sông, đê biển và rừng phòng hộ ven biển, hệ thống cơ sở hạ tầng
giao thông, thủy lợi, cụm dân cư đáp ứng yêu cầu phòng chống bão, lũ, ngăn
cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và
lâu dài.
- Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức SX hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển
nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định,
giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái
20
được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được
tăng cường.
- Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực hiện Nghị quyết trên, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương khóa X
đã ban hành các Kết luận về một số nội dung trong Nghị quyết, bao gồm:
- Đề án An ninh lương thực quốc gia;
- Đề án Chương trình Xây dựng thí điểm mô hình NTM cấp xã;
- Đề án về Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam
trong phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM và xây dựng giai cấp nông dân.
- Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP, ngày 28 tháng
10 năm 2008, xác định "Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM".
- Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 4/6/2010
phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 20102020 gồm 11 nội dung, với 19 tiêu chí.Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về
NTM và ngày 20/02/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 về việc sửa đổi một số tiêu chí của bộ tiêu chí
quốc gia về NTM.
Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng NTM là:
“Quy hoạch phát triển nông thôn gắn với đô thị và bố trí các điểm dân cư.
mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng NTM.
1.1.3. Xây dựng nông thôn mới về kinh tế
Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), kinh tế
là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội
liên quan trực tiếp đến việc SX, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con
người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn.Nguồn lực ở đây có thể
22
là tiền, thời gian, chất xám v.v... và những thứ này không phải là vô hạn. Do
đó ta cần biết sử dụng chúng một cách hợp lý, sao cho có lợi nhất.
Ở góc độ một quốc gia, “nguồn lực” là tài nguyên thiên nhiên, trình độ
dân trí, máy móc, quan hệ với các nước khác… Nền kinh tế của một quốc gia
chỉ đơn giản là tập hợp các nguồn lực đó, cùng với các quyết định sử dụng
chúng ra sao để phát triển đất nước, tạo ra các giá trị vật chất - tinh thần mới.
Trong thực tế, sử dụng nguồn lực thế nào cho hợp lý là một câu hỏi khó, đặc
biệt nếu đứng từ góc độ quốc gia.
Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan
đến SX, phân phối, trao đổi, và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Nói đơn giản kinh
tế có nghĩa là: Dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và hạn hẹp, con người và xã
hội loài người tìm cách trả lời 3 câu hỏi: “SX cái gì? SX như thế nào? và SX
cho ai?”.
Theo nghĩa hẹp, kinh tế chỉ “hoạt động SX và làm ăn của cá nhân hay hộ
gia đình”. Theo nghĩa rộng, kinh tế chỉ “toàn bộ các hoạt động SX, trao đổi,
phân phối, lưu thông” của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia trong một
khoảng thời gian, thường là một năm.
Để đánh giá về kinh tế của một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, thông
thường các tiêu chí sau đây được sử dụng: (1) Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên
địa bàn; (2) Cơ cấu ngành trong GDP; (3) Tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển
Tóm lại, xây dựng NTM về kinh tế là một trong những nội dung cơ bản
nhất của chủ trương và chính sách xây NTM của Đảng và nhà nước. Như trên
đã trình bày, mục tiêu tổng quát nhấtcủa xây dựng NTM là: không ngừng
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, xã hội nông thôn
ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh
thái được bảo vệ.v.v... Vì vậy, mặc dù chỉ chiếm 4/19 tiêu chí trong Bộ tiêu
24
chí Quốc gia về NTM, nhưng các tiêu chí này có vị trí và vai trò quan trọng
có tác động ảnh hưởng đến các tiêu chí còn lại.
Trên quan điểm kinh tế chính trị, có thể thấy giữa các tiêu chí về kinh tế
với các tiêu chí còn lại trong Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM có mối quan hệ
biện chứng với nhau. Mối quan hệ biện chứng này thể hiện ở chỗ: Xây dựng
thành công 4 tiêu chí xây dựng NTM về kinh tế là cơ sở là cơ sở kinh tế để
thực hiện thành công các tiêu chí còn lại, đến lượt nó, các tiêu chí còn lại có
tác động tương hỗ mạnh mẽ đến kết quả thực hiện các tiêu chí về kinh tế.
Chương trình xây dựng NTM chỉ có hiệu quả thực sự và đạt đúng mục tiêu đã
đề ra khi và chỉ khi tất cả các tiêu chí của đề án được thực hiện đúng yêu cầu.
Xây dựng NTM về kinh tế chính là xây dựng NTM đạt các chỉ tiêu đánh
giá về kinh tế và đồng thời phù hợp với các tiêu chí kinh tế trong Bộ tiêu chí
Quốc gia về NTM.
Từ quan niệm xây dựng nông thôn mới về kinh tế như trên, tác giả
cho rằng: Xây dựng nông thôn mới về kinh tế ở huyện Chương Mỹ thành phố
Hà Nội là tổng thể nội dung, biện pháp mà Đảng bộ, chính quyền các cấp, các
tổ chức chính trị xã hội và toàn thể người dân nông thôn trên địa bàn huyện tiến
hành nhằm thực hiện được 04 tiêu chí trong nhóm tiêu chí về kinh tế tạo ra sự
phát triển mới về kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tình thần của dân cư.
Quan niệm này chỉ ra: