Bài 58: Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên - Pdf 42

Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên
Bài 58: Sử dụng hợp lí
tài nguyên thiên nhiên
I. Khái niệm tài nguyên thiên nhiên, phân
loại:
Tài nguyên thiên nhiên là toàn bộ giá trị vật chất sẵn có trong tự
nhiên (nguyên liệu, vật liệu do tự nhiên tạo ra mà loài người có thể
khai thác và sử dụng trong sản xuất và đời sống), là những điều kiện
cần thiết cho sự tồn tại của xã hội loài người.
Tài nguyên thiên nhiên gồm những loại sau:
Tài nguyên tái tạo (renewable resources) còn được gọi là các
nguồn tài nguyên có khả năng cạn kiệt (exhaustible resources)
(nước ngọt, đất, sinh vật v.v...) là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự
bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý. Tuy
nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy
thoái không thể tái tạo được. Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô
nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v...
Tài nguyên không tái tạo (nonrenewable resources) (dầu mỏ, khí
đốt…) là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến đổi sau
quá trình sử dụng. Loại này gồm những nhiêu liệu hoá thạch và
những tài nguyên khoáng sản, đôi khi gồm cả nước dưới đất, mặc dù
nước và khoáng vật có thể được tái tạo. Sự phân biệt có thể được
vạch rõ tuỳ theo tỉ lệ thời gian. Nếu một tài nguyên chỉ được phục hồi
qua một khoảng thời gian địa chất thì người ta coi như là không phục
hồi. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản của một mỏ có thể cạn kiệt sau
khi khai thác. Tài nguyên gen di truyền có thể mất đi cùng với sự tiêu
diệt của các loài sinh vật quý hiếm.
Tài nguyên năng lượng vĩnh cửu (eternal resources) là những
nguồn năng lượng sạch, khi sử dụng không gây ô nhiễm môi trường.
Ví dụ: Năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thuỷ triều,…
Thực hiện: Tổ 2, lớp 9A7, trường Thực Nghiệm Sư Phạm

nhiên nên nguồn tài nguyên không tái tạo này đang bị cạn kiệt một
cách nhanh chóng. Người ta dự đoán rằng trữ lượng dầu mỏ sẽ đủ
dùng cho khoảng 50 năm nữa. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã lên
tiếng cảnh báo cộng đồng quốc tế rằng thời điểm khủng hoảng năng
Thực hiện: Tổ 2, lớp 9A7, trường Thực Nghiệm Sư Phạm
2
Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên
lượng thế giới đang đến gần khi mà các nguồn cung cấp dầu mỏ và
khí đốt trên thế giới đang cạn kiệt nhanh với tốc độ 4-5% hàng năm,
bởi vì tốc độ tiêu thụ dầu mỏ hiện nay là quá lớn.
c) Nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên:
Dầu mỏ là một trong những nhiên liệu quan trọng nhất của xã hội
hiện đại dùng để sản xuất điện và cũng là nhiên liệu của tất cả các
phương tiện giao thông vận tải. Hơn nữa, dầu cũng được sử dụng
trong công nghiệp hóa dầu để sản xuất các chất dẻo (plastic) và
nhiều sản phẩm khác. Vì thế dầu thường được ví như là "vàng đen".
Khí thiên nhiên là nguồn nhiên liệu quan trọng trong đời sống và
công nghiệp.
Vì vậy, các nguồn tài nguyên này bị cả thế giới đua nhau khai thác vô
tội vạ.
d) Biện pháp:
Ta có thể thay thế dầu mỏ bằng các nguồn năng lượng mới, sạch và
có thể tái tạo như những nguồn năng lượng sau:
NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ
Quá trình này đã từng diễn ra trên Mặt trời gần 5 tỉ năm về trước. Từ
đồng vị của nguyên tử hydro kết hợp với nhau tạo thành phân tử heli
và tỏa ra một khối năng lượng khổng lồ. Chúng ta hoàn toàn có khả
năng tạo ra mini Mặt Trời trên Trái Đất vì trong số 7.000 phân tử
nước có một phân tử chứa đồng vị của hydro có thể tinh chế bằng
phản ứng điện phân. Hàm lượng đồng vị của hydro trong một cốc

cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công
nghiệp và văn hóa của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý
giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông
nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩm cho con
người.
Rừng là một hệ sinh thái, nơi dự trữ nhiều loài sinh vật và cung cấp
nhiều loại tài nguyên cho con người như gỗ, sinh vật quý hiếm. Rừng
làm cho không khí thêm trong lành (mỗi ha rừng hằng năm tạo ra
khoảng 16 tấn oxy), điều hoà khí hậu, điều hòa nước, ngăn chặn gió
bão, giảm xói mòn đất.
Thực hiện: Tổ 2, lớp 9A7, trường Thực Nghiệm Sư Phạm
4
Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên
b) Hiện trạng:
Với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt
động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị
thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình
quân đầu người giảm. Riêng chỉ với ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài
nguyên đất là rất đáng lo ngại. Ngoài ra đất còn bị ô nhiễm, xói mòn,
bạc màu.
Tốc độ phá rừng nhiệt đới hàng năm giai đoạn 1981-1990 là 0,8%
hay 15,4 triệu hecta/năm, trong đó châu Á có tỷ lệ mất rừng cao nhất
(1,2%). Riêng đối với Việt nam, trong vòng nửa thế kỷ từ 1943 đến
1993 có khoảng 5 triệu hecta rừng tự nhiên bị mất, nghĩa là tốc độ
phá rừng hàng năm ở Việt nam vào khoảng 100.000 hecta. Ngày nay
diện tích rừng Việt Nam chỉ còn 7,8 triệu ha, chiếm 23,6% diện tích,
tức là dưới mức báo động cân bằng 3%. Rừng bị tàn phá, bị khai
thác quá mức đã trở nghèo kiệt, các hệ sinh thái rừng bị phá hủy.
Nhiều loại thực vật rừng quý đang bị chặt hạ, thu hái không có kế
hoạch nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status