Thực trạng và hiệu quả can thiệp nâng cao chất lượng hoạt động của trạm y tế xã tại tỉnh hòa bình - Pdf 42

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Y tế tuyến xã, phường là một cấu phần quan trọng của hệ thống y tế cơ
sở, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong hệ thống Y tế Việt Nam bởi
đây là đơn vị kỹ thuật y tế gần dân nhất, phát hiện ra sớm nhất những vấn đề
sức khỏe cộng đồng, giải quyết 80% khối lượng dịch vụ y tế, là nơi thể hiện
rõ nhất sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe, nơi trực tiếp thể hiện và kiểm
chứng các chủ trương của Đảng và Nhà nước về y tế [4], [5], [52].
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đầu tư phát
triển hệ thống y tế cơ sở, đặc biệt là y tế xã, do vậy so với trước đây, mạng
lưới y tế xã đã có những cải thiện đáng kể như: Tính đến 31/12/2015, 100%
số xã có nhân viên y tế hoạt động, trong đó 98,9% có nhà trạm; 78% TYTX
có bác sỹ làm việc; 98% có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi; 75% thôn, bản, tổ
dân phố có nhân viên y tế hoạt động, ở khu vực nông thôn, miền núi là 94,6%,
khoảng 80% TYTX thực hiện khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, thí điểm thực
hiện quản lý một số bệnh mạn tính như hen, tăng huyết áp, đái tháo đường tại
trạm y tế, góp phần giảm tải cho tuyến trên và giảm chi phí cho người dân…
[6], [7], [17], [93]. Tuy nhiên, trong thực tế, do nhiều lý do từ nguồn kinh phí
hạn hẹp, chính sách còn bất cập nên việc phát triển và nâng cao chất lượng,
hiệu quả của mạng lưới y tế xã đang gặp nhiều khó khăn, thách thức như: Mô
hình tổ chức y tế xã chưa ổn định và phù hợp; nhân viên y tế thiếu về số
lượng yếu về chất lượng; khả năng đáp ứng về chăm sóc sức khỏe cho nhân
dân còn nhiều hạn chế; tình trạng thiếu nhân lực, thiếu kinh phí và thiếu chủ
động trong việc phòng chống một số bệnh dịch diễn ra phổ biến ở nhiều địa
phương... Bên cạnh đó, kết quả điều tra mức sống và y tế hộ gia đình nhiều
năm qua cho thấy, tỷ lệ khám chữa bệnh nội, ngoại trú tại trạm y tế xã của cả
nước chưa cao [24].


2

Chương 1
TỔNG QUAN

1.1. TRẠM Y TẾ XÃ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

1.1.1. Khái niệm, chức năng, nhiệm vụ của trạm y tế xã
1.1.1.1. Khái niệm trạm y tế xã
Trạm y tế xã là cấu phần quan trọng của hệ thống YTCS. Hệ thống
YTCS là hệ thống bao gồm một tập hợp các hoạt động có mối liên quan với
nhau, góp phần vào việc CSSK tại gia đình, trường học, nơi làm việc, cộng
đồng, ngành y tế và các ban ngành kinh tế, xã hội liên quan. Tuyến YTCS có
các cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực y tế, có thể thuộc chính phủ hay phi
chính phủ, cùng với các bệnh viện tuyến quận, huyện và những dịch vụ hỗ trợ
thích hợp như chẩn đoán và hậu cần, xét nghiệm. Hệ thống này có thể phát huy
hiệu quả cao nhất nếu nó gắn với việc đào tạo một cách thích đáng đội ngũ nhân
viên y tế nhằm hướng tới một phạm vi toàn diện nhất có thể ở nhiều lĩnh vực
hoạt động CSSK như nâng cao sức khỏe, phòng ngừa, điều trị và phục hồi chức
năng [76], [109], [114], [117].
Khái niệm và vai trò quan trọng của mạng lưới này cũng đã được nêu rõ
trong Chỉ thị 06 - CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam ngày 22/01/2002: “Mạng lưới YTCS (bao gồm y tế thôn, bản, xã, phường,
quận, huyện, thị xã) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người
dân được CSSK cơ bản với chi phí thấp nhất, góp phần thực hiện công bằng xã
hội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật tự, an toàn xã hội, tạo
niềm tin cho nhân dân với chế độ XHCN” [4], [5].
Theo Quyết định số 58/TTg, ngày 03/02/1994 của Thủ tướng Chính
phủ quy định một số vấn đề về tổ chức và chế độ chính sách đối với y tế cơ sở
thì tổ chức y tế cơ sở trên địa bàn xã, phường, thị trấn được gọi là trạm y tế xã
[89].



5
7. Chịu trách nhiệm quản lý nhân lực, tài chính, tài sản của đơn vị theo
phân công, phân cấp và theo quy định của pháp luật;
8. Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật;
9. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Trung tâm Y tế huyện và
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao.
1.1.2. Tổ chức và nhân lực trạm y tế xã ở nước ta
1.1.2.1. Tổ chức trạm y tế xã
Trạm y tế xã thường tổ chức thành các bộ phận theo sơ đồ sau:
Trạm y tế xã

Dược và
quầy thuốc
- Phân phối

Vệ sinh
phòng dịch
- Vệ sinh (VS)

Khám chữa
bệnh
- Khám, chữa

Hộ sinh –
KHHGĐ
- Quản lý thai

thuốc


- Bán thuốc

Thực hiện 10 nội dung CSSKBĐ
Y tế thôn, bản, ấp, đội sản xuất và hội viên
Chữ Thập đỏ gia đình

Hình 1.1 Tổ chức trạm y tế xã [39]
Trạm y tế xã là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên, tiếp xúc với nhân dân
trong hệ thống y tế nhà nước, dưới sự quản lý của Trung tâm y tế huyện
(quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh). Hiện nay, thực hiện Nghị định số
117/2014/NĐ-CP ngày 08/12/2014 “quy định về y tế xã, phường, thị trấn”


6
của Chính phủ, trạm y tế xã thuộc quản lý của trung tâm y tế huyện [8], [33].
Thực hiện Quyết định số 370/2002/QĐ/BYT ngày 07/02/2002 của Bộ trưởng
Bộ Y tế các xã, phường trong toàn quốc đang xây dựng cơ sở y tế địa phương
theo 10 chuẩn quốc gia về y tế xã và hiện nay là Bộ Tiêu chí quốc gia về y tế
xã theo Quyết định số 4667/QĐ-BYT ngày 07/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Y
tế [9].
1.1.2.2. Nhân lực của trạm y tế xã
Nhân lực của trạm y tế được quy định theo khu vực; vùng đồng bằng,
trung du, thành phố được bố trí từ 3 đến 6 cán bộ/trạm y tế; khu vực miền núi,
Tây Nguyên được bố trí từ 4 đến 6 cán bộ/trạm y tế; ngoài quy định trên, nếu
có nhu cầu xã, phường hợp đồng thêm và trả thù lao theo công việc (Thông tư
số 08/TT-LB của liên Bộ năm 1995). Định mức biên chế đối với trạm y tế xã
được điều chỉnh tối thiểu là 5, tối đa là 10 biên chế/trạm y tế [21], [22].
NVYT xã phải có trình độ theo tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch viên chức
ngành y tế của nhà nước quy định với cơ cấu các chức danh chuyên môn như:
Bác sỹ, Y sỹ đa khoa, Y sỹ Y học dân tộc, Y sỹ sản nhi, Hộ sinh, Y tá – Điều

2010

2015

Tỷ lệ % xã, phường, thị trấn có trạm y tế

89,42% 98,80% 98,71% 99,00%

Tổng số cán bộ công tác tại trạm y tế

37.909

52.064

64.450

-

3,7

4,7

5,8

-

Bình quân cán bộ/trạm y tế
Tỷ lệ % cán bộ có trình độ đại học, cao
đẳng /tổng số cán bộ công tác tại trạm


Một thực trạng cần phải nhìn nhận là đội ngũ cán bộ YTCS hiện nay
hạn chế cả về số lượng và chất lượng, kể cả ở tuyến huyện và tuyến xã [11],
[59]. Với tuyến xã, một bộ phận NVYT xã còn rất hạn chế về kiến thức và kỹ
năng CSSK, SKSS, chẩn đoán và điều trị bệnh [41],[72], [76], [80], [84]. Một
số nghiên cứu về kiến thức, thực hành kê đơn kháng sinh của cán bộ TYTX
tại tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Nam Định cho thấy tỷ lệ NVYT được tập huấn phác
đồ điều trị và được đào tạo lại thấp dẫn đến chỉ có gần 1/3 số bác sỹ có kiến
thức đúng về điều trị một số bệnh cơ bản… tỷ lệ kê đơn thuốc đúng về chỉ
định, loại và liều cũng rất thấp (11,4%) [56]. Đội ngũ nhân viên y tế thôn bản
cũng góp phần đáng kể vào công tác CSSK ban đầu, nhờ đội ngũ này mà tình
hình sức khỏe của người dân tại các vùng nông thôn khó khăn, vùng sâu vùng
xa được cải thiện đáng kể [5], [93].


8
Sự hài lòng của NVYT tuyến cơ sở cũng được đề cập tại một số nghiên
cứu. Năm 2003, nghiên cứu về đánh giá hiệu quả hoạt động của bác sỹ
xã/phường tại một số địa phương đã cho thấy việc đưa bác sỹ về công tác tại
TYTX, phường đã đem lại nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, nghiên cứu
cũng chỉ ra một thực tế rằng chỉ có 49,1% bác sỹ hài lòng với công việc; 80%
hiện đang gặp khó khăn trong cuộc sống [27]. Kết quả trên cũng tương đồng
với kết quả nghiên cứu tìm hiểu “Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên
y tế tuyến cơ sở” khi cho thấy nhân viên YTCS chưa thực sự hài lòng với
công việc, tỷ lệ hài lòng từng khía cạnh như kinh tế, CSVC, kiến thức và kỹ
năng, các mối quan hệ… còn thấp [75].
1.1.3. Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của TYT xã
Nghiên cứu tổng quan “Đánh giá việc thực hiện chức năng nhiệm vụ
của một số TYTX khu vực miền núi”của Trần Thị Mai Oanh và cộng sự cho
thấy, trong năm 2011, có 47,2% lượt người khám chữa bệnh tại TYTX, trong
đó, 29,9% lượt KCB BHYT tại TYTX. Những bất cập về nguồn nhân lực đối

định nghĩa như sau: “Chăm sóc sức khoẻ ban đầu là chăm sóc y tế cơ bản
thiết yếu dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn cũng như những phương pháp
được xã hội chấp nhận và đến với mọi người, mọi gia đình thông qua sự tham
gia đầy đủ của cộng đồng và với mức chi phí mà cộng đồng và Nhà nước có
thể trang trải được, có thể duy trì được ở bất cứ mức phát triển nào với tinh
thần tự lo liệu, tự quyết định.” [39], [102], [125].
Ngay sau khi Tuyên ngôn Alma-Ata ra đời, nhiều nước trên thế giới đã
công nhận, ủng hộ và triển khai nhiều hoạt động theo Tuyên ngôn này nhằm
mục tiêu “sức khỏe cho mọi người” [95], [96], [97], [98]. Việt Nam tán thành
Tuyên ngôn Alma-Ata vì nội dung phù hợp với đường lối, chính sách chăm
sóc sức khỏe nhân dân của Đảng và Nhà nước ta. Ngoài 8 nội dung CSSKBĐ
được nêu trong Tuyên ngôn, trên cơ sở điều kiện thực tế đất nước, Việt Nam
bổ sung thêm 2 nội dung về “quản lý sức khỏe” và “kiện toàn mạng lưới y tế
cơ sở” thành 10 nội dung CSSKBĐ, đó là: (1) giáo dục sức khỏe, (2) cung cấp


10
thực phẩm và dinh dưỡng thích hợp, (3) cung cấp nước sạch và thanh khiết
môi trường, (4) chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hoá gia đình,
(5) tiêm chủng mở rộng, (6) khống chế các bệnh dịch lưu hành ở địa phương,
(7) chữa các bệnh, vết thương thông thường, (8) cung cấp thuốc thiết yếu, (9)
quản lý sức khỏe, (10) kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở [10], [16], [29], [94],
[102], [121], [124].
Trải qua gần 40 năm, thế giới cũng như nước ta đã đạt được những
thành tựu nhất định trong CSSKBĐ, tình trạng sức khỏe trên thế giới đã có
nhiều thay đổi [99], [114], [115]. Các chỉ số về tình trạng sức khỏe và y tế của
các nước trên thế giới đã được cải thiện một cách rõ rệt. Có một bước tiến dài
trong nhận thức về chăm sóc sức khỏe nói chung và chăm sóc sức khỏe ban
đầu, sức khỏe cho mọi người với quan điểm con người là trung tâm, sự tham
gia của cộng đồng và tự quyết chấp nhận CSSKBĐ là quyết định. Những biến

khỏe ban đầu và mô hình bệnh của nhân dân.
Có khá nhiều nghiên cứu về nhu cầu CSSK của nhân dân. Trương Việt
Dũng và cộng sự nghiên cứu tại Quảng Ninh cho thấy, nhu cầu khám chữa
bệnh được thể hiện gián tiếp qua tần số ốm đau tự khai báo của người dân.
Tại 28 xã của Quảng Ninh trong 2 năm 2001-2002, tần suất ốm đau của 1
người là 1,02 lần/năm, trong đó, nhóm người cao tuổi có tỷ lệ ốm đau cao
nhất (1,85-2,02 lần/người/năm), tiếp theo là trẻ em dưới 5 tuổi với 1,45-1,86
lần/người/năm và thấp nhất là trẻ em 6-15 tuổi [42].
Nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà và cộng sự cho thấy, trong các bệnh
về ung thư hiện nay bệnh ung thư gan chiếm 23,5%, ung thư phổi chiếm
18,3%, dạ dày là 13,5%, tiếp đến là ung thư đại trực tràng, tuyến tiền liệt, ung
thư vú, cổ tử cung, buồng trứng và gần đây nổi lên các nhóm bệnh ung thư
vùng đầu, mặt, cổ [48].
Nghiên cứu 100 hộ gia đình người Chăm tại Phước Hải, Ninh Phước,
Ninh Thuận năm 2016 cho thấy, 18% hộ gia đình có người có triệu chứng
bệnh cấp tính; 62% hộ gia đình có người có triệu chứng bệnh mạn tính [65].


12
Còn nhiều nghiên cứu khác về nhu cầu khám chữa bệnh của người dân
như: Khương Văn Duy về mô hình bệnh tật của nhân dân các xã huyện
Mường La tỉnh Sơn La [45], Hoàng Khải Lập nghiên cứu về tình hình bệnh
tật của một số đồng bào dân tộc ít người khu vực miền núi phía bắc Việt Nam
năm 1994-1996 [69], Nguyễn Thị Liên Hương, Lê Thị Thanh Hương đã đề
cập đến thực trạng tiêu chảy cấp của trẻ em dưới 5 tuổi ở các xã được hưởng
can thiệp vệ sinh tổng thể do cộng đồng làm chủ tại 5 tỉnh Điện Biên, Kon
Tum, Ninh Thuận, Đồng Tháp và An Giang [62].
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
ngày càng cao do nhiều yếu tố tác động không thuận lợi lên sức khỏe cộng
đồng như: ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thay đổi lối sống, cường độ

tác động ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân: Sự tiếp cận, chi phí, chất
lượng chung, tính cộng đồng, năng lực, thông tin được cung cấp, thủ tục hành
chính, thời gian chờ đợi, cơ sở vật chất chăm sóc sức khỏe, sự chú trọng đến
những vấn đề tâm lý xã hội của cả người cung cấp dịch vụ (thái độ, tư vấn,
thấu hiểu, đồng cảm, dễ tiếp xúc và thân thiện) và người sử dụng dịch vụ, vệ
sinh môi trường TYTX, tính liên tục của dịch vụ chăm sóc và kết quả của
dịch vụ chăm sóc, trong đó, chi phí y tế và tiếp cận TYTX là 2 biến có ảnh
hưởng rõ rệt nhất [25], [43], [106]. Nghiên cứu của Hoàng Văn Hải [49] về
cách nhận biết những yếu tố ảnh hưởng đến tần suất khám chữa bệnh bằng thẻ
bảo hiểm y tế của đồng bào dân tộc thiểu số tại các TYTX miền núi Thái
Nguyên chỉ ra rằng, khó khăn trong việc đi lại là trở ngại chính hạn chế việc
tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các TYTX của người dân ở các xã
miền núi của tỉnh Thái Nguyên. Từ những kết quả nghiên cứu trên có thể tổng
quát một số yếu tố chính có liên quan đến TYTX ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay:
1.1.5.1. Tổ chức, quản lý y tế
Hướng dẫn về tổ chức và quản lý TYTX đã được trình bày trong nhiều
tài liệu khác nhau [12], [23], [28], [31], [39], [82], song công tác tổ chức,


14
quản lý TYTX vẫn còn nhiều hạn chế. Thông tin y tế phục vụ công tác quản
lý TYT còn nhiều bất cập. Trung bình mỗi trạm y tế phải thực hiện khoảng 16
chương trình y tế trong năm (2009), nên số lượng sổ sách (trung bình là 42
quyển/1 trạm) và báo cáo nhiều gây quá tải cho NVYT của TYTX [77]. Mạng
lưới cung ứng dịch vụ y tế tuy phủ rộng nhưng thiếu cơ chế gắn kết và phối
hợp lồng ghép hoạt động giữa các tuyến, các lĩnh vực y tế và giữa y tế công
lập và ngoài công lập. Sự thay đổi liên tục mô hình tổ chức quản lý y tế cơ sở,
nhất là các đơn vị y tế tuyến huyện trong thời gian qua đã ảnh hưởng không
nhỏ tới hoạt động của TYTX, đồng thời gây trở ngại cho chỉ đạo, điều hành

thiết bị y tế cho 171 TYT khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng trọng
điểm quốc phòng an ninh; hỗ trợ kinh phí đầu tư trang thiết bị y tế cho 5 điểm
sáng kết hợp quân dân y tại đảo Lý Sơn, đảo Phú Quốc, Gia Lai, Đắk Nông,
ATK Thái Nguyên. Kinh phí từ Ngân sách trung ương cấp hỗ trợ mua thẻ
BHYT cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi được phân bổ về cho các tỉnh
thành với tổng mức kinh phí lần lượt là 5757 tỷ [5], [52].
1.1.5.4. Thuốc và trang thiết bị y tế
Để bảo đảm chất lượng hoạt động TYTX, BYT đã có nhiều hướng dẫn
về quản lý và sử dụng thuốc ở cơ sở [15], hướng dẫn sử dụng, bảo quản và
danh mục trang thiết bị của TYTX [30], [78]; nhiều nghiên cứu đã đề cập đến
thực trạng thuốc và TTBYT tại các TYTX [44], [70], [77], [79], [83].
Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Mai Oanh và CS [77] cho thấy: 29%
TYT tự nhận xét là đủ các TTB y tế và 36% đánh giá ở mức chấp nhận được;
khoảng hơn 1/3 số xã đánh giá là thiếu. Các TTBYT tại TYT hiện đang thiếu
như: giường bệnh, dụng cụ sản khoa, nẹp cứu thương, kính hiển vi, bàn tiểu
phẫu, tủ vacxin, dụng cụ sản khoa, bàn đẻ, nồi hấp, dụng cụ nhổ răng, máy
siêu âm, máy điện tim... Đáng chú ý trong số các TTB đang thiếu này có cả
những thiết bị rất quan trọng đối với hoạt động của TYT như: tủ lạnh đựng
vắc-xin, bộ dụng cụ sản khoa… Đối với các TYTX có bác sĩ, các TTB y tế
còn thiếu thường là các trang thiết bị như: TTB thuộc nhóm khám điều trị


16
chung, TTB thuộc nhóm y học cổ truyền, các TTB thuộc nhóm chuyên khoa
TMH-RHM-Mắt, các TTB thuộc nhóm xét nghiệm [5], [77], [91].
Các nghiên cứu trên [44], [70], [77], [79], [83] đã cho thấy tình hình
thiếu thuốc, TTBYT cũng như kiến thức về sử dụng, bảo quản thuốc và
TTBYT tại các TYTX.
Tại thời điểm năm 2002, hầu hết các TYTX chỉ có đủ các thiết bị KCB
thông thường (97%), CSSK dinh dưỡng cho trẻ em (86,1%). Đáng chú ý, tỷ lệ

quan trọng, khoảng 30%. Ngoài ra, nguồn vốn huy động của nhân dân chiếm
10% và còn lại là từ nguồn vốn hợp pháp khác. Nhìn chung các nguồn vốn
hỗn hợp là phổ biến [5], [19], [20], [52], [93].
1.1.5.6. Hoạt động của trạm y tế
Nghiên cứu của Trần Xuân Bách và Lê Tấn Hải [3] tại một số xã huyện
Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, năm 2015 cho thấy, trong số 372 người ốm, tỷ
lệ người dân đến TYT để KCB là 22,0%. Lý do chủ yếu người dân lựa chọn
TYT là gần nhà (90,3%), có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) đăng ký tại TYT
(82,3%), bệnh nhẹ (62,8%), thái độ phục vụ tốt (46,2%). Lý do chủ yếu người
dân không đến bao gồm: không đủ thuốc (78,8%), thiếu trang thiết bị
(67,6%), không có BHYT (60,2%). Nghiên cứu cũng cho thấy cần phải truyền
thông cho người dân về sử dụng dịch vụ tại trạm, cũng như chọn TYTX là nơi
đăng kí khám chữa KCB BHYT.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu và CS [86] tại TYTX tỉnh Thái
Nguyên cho thấy: Tỷ lệ bao phủ BHYT tại các địa bàn nghiên cứu đạt
99,26%; nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại TYTX của người dân tộc thiểu số
tăng nhưng tỷ lệ sử dụng thẻ BHYT lại có xu hướng giảm; người dân tộc
thiểu số vẫn phải bỏ tiền túi để chi trả chi phí chăm sóc sức khỏe.
Nghiên cứu của Trương Việt Dũng và cộng sự tại 4 xã tỉnh Quảng Ninh
đã khẳng định, khi bị ốm, các gia đình có 3 cách xử trí: tự chữa và không mua
thuốc (22%); mua thuốc về tự chữa không cần đi khám tại các cơ sở y tế
(35%); đến khám chữa bệnh ở một hoặc vài thầy thuốc (43%) và phụ nữ là


18
người quyết định chủ yếu về cách xử trí khi có người ốm trong gia đình [43].
Nghiên cứu cũng đã chỉ ra được các yếu tố tác động đến quyết định khám
chữa bệnh tại TYTX của người dân.
Một số các tác giả như, Phạm Quang Hòa [53], Lê Tấn Hải, Trần Xuân
Bách [50], Nguyễn Minh Hưng và cộng sự [61], Trần Thị Mai Oanh và cộng

đó là cấp 1, cấp 2 và cấp 3; hệ thống tổ chức y tế cấp 1 là những đơn vị sức
khỏe ở vùng nông thôn dưới sự điều hành của Bộ Y tế; các bệnh viện cộng
đồng, các trung tâm y tế dưới sự điều hành của Uỷ ban chăm sóc sức khỏe
Philippine; các cơ sở y tế khác hoạt động dưới sự điều hành của các tổ chức
phi chính phủ.
Ở Trung Quốc: Hệ thống y tế ở Trung Quốc đã thay đổi từ mô hình tổ
chức y tế của Liên Xô cũ từ những năm 1950, với 3 cấp: tỉnh, thành phố hoặc
quận và huyện. Năm 1954, Bộ Y tế thành lập các trạm y tế dự phòng với
nhiệm vụ dự phòng, giám sát và quản lý các bệnh nhiễm trùng. Đến cuối năm
1990, trạm y tế dự phòng của Trung Quốc được tổ chức lại thành Trung tâm
kiểm soát và phòng chống bệnh; trạm y tế có ở các thôn chủ yếu thực hiện các
hoạt động về hướng dẫn phòng bệnh. Từ những năm 2003-2008, Trung quốc
đã tiến hành cải tổ hệ thống y tế ở nông thôn bằng Đề án y tế hợp tác xã nông
thôn mới cho nông dân không hoạt động trong khu vực công lập. Đến cuối
năm 2007 đã có 86% trong tổng số 2.862 thị xã và huyện của Trung Quốc đã
thực hiện đề án này [110], [123].
Ở Nepal: Trạm y tế được thành lập ở cấp xã (Sub - Health Post), là nơi
tiếp nhận CSSK nhân dân đầu tiên trong hệ thống y tế, trung chuyển bệnh
nhân của các đội như phòng chống bệnh lao, đội chăm sóc sức khỏe phụ nữ
cũng như các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu ở cộng đồng.
Myanmar có 330 quận, huyện, trong đó, 70% là huyện. Tất cả 330 quận
huyện đều có trung tâm y tế (township health system, THS) dưới sự quản lý
của Phòng Y tế huyện và chịu sự lãnh đạo của Trưởng phòng y tế huyện. Mỗi
trung tâm y tế tuyến huyện chịu trách nhiệm CSSK cho khoảng 150.000200.000 dân. Các đơn vị trong trung tâm gồm: bệnh viện huyện (dưới bệnh


20
viện huyện có bệnh viện khu vực với 16 giường bệnh và 2 bác sỹ, 2 nữ hộ
sinh), trạm y tế xã, phường (RHC) và phân trạm y tế (sub-rural health
centres). Các trạm y tế làm nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

chính dựa vào cộng đồng có tác dụng bảo vệ tài chính cho các hộ nghèo làm
giảm rào cản về tài chính trong tiếp cận khám chữa bệnh, giảm nguy cơ rơi
vào bẫy nghèo do CSSK [103].
Ở Iran: Mạng lưới YTCS tại Iran được tổ chức khác nhau ở nông thôn
và thành thị, từ tuyến quận, huyện xuống tới các thôn, làng. Ở nông thôn, đơn
vị YTCS gần dân nhất là nhà y tế (Health house), trong khi ở các thành phố là
trạm y tế (Health post). Khu vực nông thôn: Nhà y tế là quản lý sức khỏe cho
1500 dân và có thể phục vụ cho một số làng vệ tinh, những làng này được lựa
chọn sao cho phù hợp với tình hình văn hóa xã hội cũng như khoảng cách với
cơ sở này. Nhân lực chính của nhà y tế là các NVYT cộng đồng (Behvarze),
gồm một nam giới và một phụ nữ trẻ tuổi có trình độ cấp 2 trở lên, được
người dân làng lựa chọn và được trải qua đào tạo 2 năm tại Trung tâm đào tạo
Behvarze [114]. Khu vực thành thị: Trạm y tế (TYT), là đơn vị tương đương
với nhà y tế ở khu vực nông thôn, chịu trách nhiệm đối với các dịch vụ
CSSKBĐ cho người dân thành thị. Mỗi TYT này phụ trách 12000 người dân.
Trong mỗi TYT sẽ có 3 chuyên viên kĩ thuật y tế gia đình, một chuyên viên
sức khỏe môi trường, và một cán bộ sản nhi.
Ở Nhật Bản: TTYT cộng đồng là đơn vị y tế được thành lập bởi chính
quyền xã, phường, là đơn vị cung cấp các dịch vụ KCB và thực hiện tư vấn,
truyền thông GDSK cho người dân và chương trình y tế. Phòng khám đa khoa
được xây dựng và quản lý bởi các BSGĐ được trang bị giống như một bệnh
viện thu nhỏ đủ chức năng và các TTB hiện đại. Cùng với sự phổ biến của bác
sỹ gia đình, việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CSSKBĐ tại các phòng
khám tại cộng đồng là một xu hướng tất yếu của Nhật Bản. Chúng dần trở
thành một bộ phận quan trọng nhất trong CSSKBĐ, điều này cũng diễn ra ở
nhiều quốc gia phát triển trên thế giới như Hoa Kỳ, Anh, Pháp... [114].


22
1.2.2. Mô hình tổ chức, hoạt động TYTX qua các giai đoạn ở Việt Nam

vườn, y tá. Ở thành phố, thị xã, tổ chức TYT của tiểu khu nội thành được phân
bố theo khu vực dân cư, cứ khoảng 3000 dân có một TYT.
Trong giai đoạn này, TYT do UBND xã quản lý về hành chính, TTYT
huyện quản lý về ngân sách, Đội Y tế dự phòng trực tiếp quản lý về chuyên môn
y tế. Mô hình có ưu điểm là hoạt động phân tuyến quản lý và kỹ thuật trong
KCB rõ ràng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chuyên môn, song chịu sự
quản lý của nhiều cơ quan nên dễ dẫn đến phân tán trong điều hành [11].
1.2.2.4. Thời kì đổi mới (1986 – 2004)
Theo quyết định 58/TTg năm 1998, TYT được xác định là đơn vị kỹ
thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ
kỹ thuật CSSKBĐ. Y tế thôn bản không có tổ chức, chỉ có nhân lực bán
chuyên trách là các nhân viên y tế thôn bản làm nhiệm vụ truyền thông, giáo
dục sức khoẻ, hướng dẫn nhân dân thực hiện vệ sinh phòng bệnh, CSSK bà
mẹ trẻ em và KHHGĐ, sơ cứu ban đầu, thực hiện các chương trình y tế. Mô
hình tổ chức hành chính vẫn giữ nguyên, nhưng có sự thay đổi mạnh mẽ về tổ
chức nhân sự theo hướng tăng cường số lượng và chất lượng. Đội ngũ bác sỹ
tuyến xã được tăng cường theo hai hình thức: đào tạo chính quy và chuyên tu.
Chú trọng công tác CSSKSS, đội ngũ nữ hộ sinh trung cấp và y sỹ sản nhi
cũng được tăng cường [11], [92]. Các lương y tại TYTX giảm dần, một phần
do không có định biên. Ưu điểm của mô hình này là tập trung cho hoạt động
chuyên môn với quản lý trực tiếp của phòng y tế quận/huyện và được tăng
cường về nhân lực y tế, song vẫn chịu sự quản lý hành chính của nhiều cơ
quan nên gặp những khó khăn nhất định trong quản lý, điều hành các hoạt
động của trạm, nhất là công tác tài chính y tế và KCB bảo hiểm y tế.
1.2.2.5. Giai đoạn từ 2005 đến 2008
Tuyến xã: mô hình tổ chức y tế không có gì thay đổi. TYTX cùng với y
tế thôn bản vẫn là đội ngũ nòng cốt thực hiện chức năng CSSKBĐ cho người
dân, tuy nhiên, từ năm 2005 đến năm 2008, theo quy định tại Nghị định



UBND huyện
Phòng
YT huyện
PKĐK
khu vực

TTYT huyện

Bệnh
viện

Đơn vị
YTDP

Nhà hộ sinh
khu vực

UBND xã

TYT xã

Y TẾ
THÔN BẢN
Chú thích:

Y TẾ
THÔN BẢN

Y TẾ
THÔN BẢN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status