TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KỸ THUẬT – CÔNG NGHỆ – MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG XỬ LÝ
NITƠ VÀ PHOSPHO
TRONG NƯỚC THẢI SINH HOẠT BẰNG VI TẢO CHLORELLA SP.
SVTH: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG
KHÓA HỌC: 2012 - 2016
AN GIANG, 05/2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KỸ THUẬT – CÔNG NGHỆ – MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG XỬ LÝ
NITƠ VÀ PHOSPHO
TRONG NƯỚC THẢI SINH HOẠT
BẰNG VI TẢO CHLORELLA SP.
SVTH: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG
KHÓA HỌC: 2012 - 2016
GVHD: TS. NGUYỄN TRẦN THIỆN KHÁNH
AN GIANG, 05/2016
LỜI CẢM TẠ
Trong suốt khoảng thời gian bốn năm, từ khi bắt đầu học tập tại trường
cũng như trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình, em rất
vui và rất biết ơn vì đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy
Cô, gia đình và bạn bè. Em xin chân thành cảm ơn:
− Ban Giám Hiệu trường Đại học An Giang, Ban chủ nhiệm Khoa Kỹ
thuật – Công nghệ − Môi trường đã tạo những điều kiện tốt nhất để em có thể
hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.
− Quý thầy cô trong Bộ môn Môi trường và Phát triển Bền vững, Khoa
Kỹ thuật – Công nghệ − Môi trường, Trường Đại học An Giang đã tận tình
giúp đỡ, giảng dạy, giải đáp những thắc mắc, giúp em củng cố, bổ sung, tổng
hợp kiến thức trong quá trình thực hiện luận văn.
− Quý thầy cô đang công tác, làm việc tại phòng thí nghiệm trường
Đại học An Giang đã giúp đỡ, hướng dẫn em trong thời gian triển khai thí
nghiệm. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Lê Trí Thích và thầy Trần
Ngọc Hăng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong thời gian em làm việc tại
phòng thí nghiệm.
− Cô Võ Thị Dao Chi và cô Ngô Thúy An đã tận tình góp ý để em có thể
nhận ra những khuyết điểm, sửa chữa và hoàn thành bài Luận văn tốt hơn.
− Tập thể các bạn lớp DH13MT đã giúp đỡ, chia sẽ kiến thức trong suốt
quá trình thực hiện luận văn.
− Cuối cùng, em xin gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy
Nguyễn Trần Thiện Khánh. Thầy đã đồng hành cùng em, truyền đạt kiến thức,
góp ý và tận tình giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian thực hiện luận
văn tốt nghiệp.
Trong quá trình hoàn thành bài luận văn không tránh khỏi những thiếu
sót. Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dạy của quý thầy cô để luận văn có
thể hoàn thiện và thiết thực hơn. Cuối cùng chúng em xin chúc quý thầy cô và
các bạn thật nhiều sức khỏe và thành công trong công việc.
Xin chân thành cám ơn!
NTSH
Nước thải sinh hoạt
HUFA (Highly Unsaturated Fatty Acids)
Axit béo cao phân tử không no
Cs
Cộng sự
DIP
Phosphate vô cơ
DOP
Phospho hữu cơ hòa tan
UASB
Quá trình xử lý sinh học kỵ khí
BOD (Bio Oxygen Demand)
Nhu cầu oxy sinh học
COD (Chemical Oxygen Demand)
VACNE (Vietnam Association for
Conservation of Nature and
Environment)
Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi
trường Việt Nam
WHO (World Health Organization)
Tổ chức Y tế thế giới
NT
Nghiệm thức
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
KLTN
Khóa luận tốt nghiệp
BM MT&PTBV
Bộ môn Môi trường và Phát
triển Bền vững
9
nguồn năng lượng này đang ngày một rõ rệt hơn. Một giải pháp cho vấn đề
này là thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng nhiên liệu tái tạo, mặc dù không
hoàn toàn, nhưng cũng sẽ góp phần giảm ảnh hưởng từ việc sử dụng nhiên liệu
hóa thạch. Có nhiều nguồn nguyên liệu để sản xuất nhiên liệu tái tạo, tuy
nhiên vi tảo là một nguồn nguyên liệu có tính cạnh tranh hơn các nguồn
nguyên liệu khác vì nó không can thiệp tới nguồn cung cấp thực phẩm. Vi tảo
có thể phát triển trong nước và hấp thu ánh sáng mặt trời thông qua quang hợp
hiệu quả hơn so với thực vật trên cạn do cấu trúc tế bào đơn giản của chúng.
Tuy nhiên, sinh khối tảo cho sản xuất nhiên liệu tái tạo được coi là không kinh
tế nếu nuôi tảo trong nguồn nước đang được sử dụng cho các mục đích khác.
Trong số các loài vi tảo, Chlorella sp. được biết đến rộng rãi trong nhiều lĩnh
vực đặc biệt là xử lý nước thải. Năm 2010, các nhà nghiên cứu ở Thụy Điển
cũng chỉ ra các loài vi tảo có khả năng xử lý nitơ và phospho có trong nước
10
thải rất tốt, hiệu quả xử lý nitơ đạt 60% − 80% và phospho đạt 60% − 100%
trong các tháng của mùa hè (Nguyễn Minh Phương, 2011).
Từ những vấn đê trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng xử
lý Nitơ và Phospho trong nước thải sinh hoạt bằng vi tảo Chlorella sp.” là
thật sự cần thiết.
11
CHƯƠNG 2
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1.
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI SINH HOẠT
Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học,
ngoài ra còn có các thành phần chất vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất
nguy hiểm. Chất hữu cơ chứa trong nước thải sinh hoạt bao gồm các hợp chất
như protein 40% − 50% ; hydratcarbon 40% − 50%; gồm tinh bột, đường,
cenlulose và các chất béo 5% − 100%. Nồng độ chất hữu cơ trong nước thải
sinh hoạt dao động khoảng (150 – 450) mg/l theo trọng lượng khô. Có khoảng
20% − 40% chất hữu cơ khó bị phân huỷ sinh học (Lâm Minh Triết, 2008).
Một số thành phần, tính chất và đặc trưng của nước thải sinh hoạt được
thể hiện trong bảng 2.1, bảng 2.2 và bảng 2.3.
Bảng 2.1: Tải trọng chất bẩn tính cho một người trong ngày đêm
Tải trọng chất bẩn (g/người.ngày.đêm)
Các Quốc gia đang phát triển
gần gủi với Việt Nam
Theo tiêu chuẩn
TCXD−51−84 của
Việt Nam
Chất rắn lơ lửng (SS)
70 − 145
50 – 55
BOD5
45 − 54
Chỉ tiêu
COD (Bicromate)
+
Nitơ Amonia (N−NH4 )
Nitơ tổng cộng (N)
Dầu mỡ phí khoáng
Nguồn: Lâm Minh Triết, 2008
Bảng 2.2: Đặc tính của bùn tự hoại trong nước thải sinh hoạt
Các chỉ tiêu
Nồng độ, mg/L
Khoảng dao động
Giá trị đặc trưng
Chất rắn tổng hợp
5.000 − 100.000
40.000
Chất rắn lơ lửng
4.000 − 100.000
15.000
50 − 800
250
100 − 1.000
300
Nitơ tổng cộng (Kjedhal)
Kim loại nặng (Fe, Zn, Al)
Nguồn: Lâm Minh Triết, 2008
13
Bảng 2.3: Thành phần tính chất nước thải sinh hoạt
Các chỉ tiêu
Nồng độ
Nhẹ
Trung Bình
Nặng
Chất rắn tổng cộng, mg/l
200
325
Chất rắn lơ lửng, mg/l
100
220
350
Cố định, mg/l
20
55
75
Bay hơi, mg/l
80
165
1000
Tổng nitơ (theo N), mg/l
20
40
85
8
15
35
12
25
50
Chất rắn lắng được, mg/l
Hữu cơ
Amonia
Hữu cơ
1
3
5
Vô vơ
3
5
10
Clorua, mg/l
30
50
100
Sunfat, mg/l
20
150
8
100 ÷ 400
7
10 ÷ 109
> 400
Nguồn: Lâm Minh Triết, 2008
Độ pH trong nước thải sinh hoạt thường dao động trong khoảng từ
6,9 − 7,8 (Lâm Minh Triết, 2008) nằm trong khoảng pH thuận lợi phát triển
của tảo Chlorella sp.
Theo Metcals, thành phần của chất rắn trong nước thải sinh hoạt được
mô tả một cách tương đối như ở hình 2.2.
14
Tổng cộng
(720 mg/l)
Lơ lửng (220 mg/l)
Lọc được (500 mg/l)
Lắng được (160 mg/l)
Không lắng (60 mg/l)
kg/người/năm. Sau khi hạn chế hoặc cấm sử dụng phospho trong thành phần
chất tẩy rửa, lượng phospho trên giảm xuống, còn khoảng 0,1 kg/người/năm.
Tiêu chuẩn thải đối với chất dinh dưỡng của EU được thể hiện trong
bảng 2.4:
Bảng 2.4: Tiêu chuẩn thải đối với chất dinh dưỡng của EU theo mức độ giảm thiểu
(% ) hay nồng độ chất thải.
15
Chất ô nhiễm
Nồng độ thải
Mức giảm thiểu ít
nhất
P – tổng
2 mg/l cho hệ < 10.000 người 1 mg/l
cho hệ > 10.000 người
80%
N – tổng
15 mg/l cho hệ < 10.000 người 10
mg/l cho hệ > 10.000 người
thiếu oxy cho các sinh vật thủy sinh. Hiện tượng cá chết nhiều ở hồ Dianchi và
Thái Hồ ở Trung Quốc là một minh chứng cho hiện tượng này. Hiện tượng
phú dưỡng có thể gây ra cạnh tranh giữa các loài trong hệ sinh thái, gây ra sự
thay đổi trong thành phần loài của hệ sinh thái. Ngoài ra, một số tảo nở hoa có
chứa các hợp chất độc hại, tác động lên chuỗi thức ăn, dẫn đến tử vong ở động
vật. Đối với con người, nhiều vùng sử dụng nước ao hồ để cung cấp cho sinh
hoạt hàng ngày. Nhưng do nước chứa nhiều thực vật trôi nổi làm cản trở việc
làm sạch, gây ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn cung cấp nước cho người dân.
Đồng thời hiện tượng tảo phân hủy gây mùi khó chịu làm các hoạt động bơi
thuyền, câu cá giảm đáng kể, ảnh hưởng tới du lịch và giải trí. Gần đây, lượng
16
khách du lịch đến với hồ Xuân Hương, trái tim của Đà Lạt giảm nhanh mà
nguyên nhân là hồ đang bị rơi vào tình trạng này (Kim Liên, 2013).
Vi khuẩn, virus và các động vật ký sinh có thể lan truyền trong nước và
gây bệnh. Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã kết luận rằng chất lượng nước
và dung lượng nước sinh hoạt có ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ con người.
Nhiều dịch bệnh liên quan đến nước bị ô nhiễm như bệnh tả, thương hàn, lỵ,
tiêu chảy,… đã và đang xảy ra ở những nước phát triển và đang phát triển.
Thiếu nước cũng gây ảnh hưởng trầm trọng đến sức khoẻ, đặc biệt là sự phát
sinh và lây nhiễm các bệnh về da, mắt và các bệnh truyền qua đường miệng.
Ước tính trên thế giới có khoảng 6 triệu người bị mù do bệnh đau mắt hột và
khoảng 500 triệu người có nguy cơ bị mắc bệnh này. Theo thống kê sức khoẻ
toàn cầu của trường Đại học Harvard, của Tổ chức Y tế Thế giới và Ngân hàng
Thế giới thì hàng năm có khoảng 4 tỷ trường hợp bị tiêu chảy, làm 2,2 triệu
người chết mà chủ yếu là trẻ em dưới 5 tuổi (tương đương cứ 15 giây thì có
một trẻ em bị chết). Con số này chiếm khoảng 15% số trẻ em chết vì tất cả
các nguyên nhân ở những nước đang phát triển (Nguyễn Thị Bích Thủy, 2014).
2.2.
Căn cứ vào màu sắc, sự có mặt của các chất dự trữ, thành phần vỏ, cấu
tạo nhân tế bào người ta có thể chia tảo thành những ngành khác nhau. Vi tảo
chủ yếu thuộc về các chi trong các ngành sau:
+ Ngành Chlorophyta (Tảo lục): Các chi Closterium, Coelastrum,
Dyctyosphaerium, Scenedesmus, Pediastrum, Staurastrum, Dunaliella,
Chlamydomonas, Haematococcus, Tetraselmis, Chlorella...
+ Ngành Heterokontophyta (Tảo lông roi lệch): Các chi Melosira,
Asterionella, Cymatopleurra, Somphonema, Fragilaria, Stephanodiscus,
Navicula, Malomonas, Dinobryon, Peridinium, Isochrysis, Chaetoceros,
Phaeodactylum, Skeletonema, Nitzschia...
+ Ngành Euglenophyta (Tảo mắt): Các chi Phacus, Trachelomonas,
Ceratium...
+ Ngành Rhodophyta (Tảo đỏ): Các chi Porphyridium, Rhodella…
2.2.3. Giá trị dinh dưỡng của vi tảo
Ưu điểm của vi tảo là kích thước nhỏ phù hợp, dễ tiêu hoá, ít gây ô
nhiễm môi trường, nhiều loài không có độc tố, có thể chuyển hoá trong chuỗi
thức ăn, tỷ lệ phát triển nhanh, có khả năng nuôi sinh khối lớn, cung cấp đầy
đủ các dưỡng chất cần thiết cho động vật nuôi. Do đó đây là thức ăn sống đặc
biệt quan trọng cho tất cả các giai đoạn phát triển của động vật thân mềm hai
vỏ (Bivalvia) như: hàu, điệp, sò…; ấu trùng của hầu hết các loài tôm, cá, ốc và
cho các động vật phù du. Nhìn chung hàm lượng protein của vi tảo dùng trong
nuôi trồng thuỷ sản thay đổi từ 6% − 52% , carbohydrate: 5% − 23% , lipit:
7% − 23% .
2.2.4. Giai đoạn phát triển của quần thể
Theo Trần Thị Thanh Hiền và cs (2000), cho biết sinh trưởng của tảo đặc
trưng bởi 5 pha:
+ Pha thích nghi (Lag phase): mật độ tảo tăng lên ít và thường kéo dài
2.2.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của tảo
a. Ánh sáng
Vi tảo là loài quang tự dưỡng, chúng sử dụng năng lượng ánh sáng mặt
trời, dưỡng chất và các khoáng vi lượng để tự tổng hợp chất hữu cơ cho cơ thể
nên thời gian chiếu sáng và cường độ ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát
triển của tảo nuôi.
Ánh sáng phù hợp cho sự phát triển của tảo là 4000 lux − 30.000 lux.
Tảo cần sử dụng ánh sáng để tổng hợp carbon vô cơ thành các chất hữu cơ.
Đèn huỳnh quang được ưa chuộng vì phổ ánh sáng xanh và đỏ phù hợp cho
quang hợp. Thời gian chiếu sáng cần ít hơn 18h/ngày (Trần Thị Thanh Hiền
và cs, 2000; Trần Văn Vỹ, 1995).
b. pH
Hầu hết các loài tảo nuôi có thể sống trong khoảng pH = 7 − 9. Nếu pH
thay đổi lớn sẽ ức chế sự sinh trưởng, có thể làm cho tảo bị tàn lụi. pH ở
8,5 − 9,5 tảo vẫn có khả năng phát triển nhưng rất chậm, pH = 10 − 12 ức chế
sinh trưởng của tảo. Trong trường hợp nuôi mật độ cao cần cung cấp CO 2 để
hạn chế tăng pH (Trần Thị Thanh Hiền và cs, 2000; Trần Văn Vỹ, 1995).
19
c. Nhiệt độ
Mỗi loài tảo có khoảng nhiệt độ thích hợp khác nhau. Nhưng nhìn chung nhiệt
độ tối ưu để nuôi tảo dao động trong khoảng 23 oC – 30 oC tùy theo loài
(Trương Sĩ Kỳ, 2004)
d. Sục khí
theo nghiên cứu của Ojeda (1986), về sự phát triển và thành phần hóa học của
3 loại tảo sử dụng 4 nguồn nitơ khác nhau. Ông nhận thấy khi sử dụng nguồn
nitrat là urea trong khi Chlorella sp. có tốc độ phát triển cao ở giai đoạn tăng
trưởng khi sử dụng amonium.
20
• Lân
Lân là một trong những nguyên tố chính trong thành phần của tảo. Lân
có vai trò chính trong đa số các quá trình xảy ra trong tế bào tảo đặc biệt là
quá trình chuyển hóa năng lượng và tổng hợp axit nucleic. Giống như đạm, lân
cũng là yếu tố giới hạn sinh trưởng của tảo. Tảo sử dụng chủ yếu là phospho
vô cơ, phospho hữu cơ thường được thủy phân bởi các enzyme ngoại bào như
phosphoesterase, phosphate để chuyển sang dạng phospho vô cơ dễ tiêu. Việc
hấp thu lân ở tảo được kích thích bởi ánh sáng.
Lân thường tồn tại ở hai dạng phosphate vô cơ (DIP) hoặc phospho hữu
cơ hòa tan (DOP). Hầu hết phospho hòa tan là DOP. DIP thường ở dạng
orthophosphate (PO43−) một ít monophosphate (HPO42−) và dihydrogen
phosphate (H2PO4−). Tảo chỉ có thể sử dụng phosphate hữu cơ hòa tan. Khi
môi trường thiếu phosphate hữu cơ hòa tan, tảo có thể tiết ra enzyme alkaline
phosphate, đây là một enzyme ngoại bào có khả năng giải phóng phosphate
trong phạm vi chất hữu cơ. Hơn nữa, khi hàm lượng phosphate hữu cơ hòa tan
biến động trong khoảng thời gian ngắn thì tảo có thể hấp thu và dư trữ
phosphate dưới dạng polyphosphate trong tế bào. Trong thời gian biến động,
một tế bào tảo có thể dự trữ phosphate đủ cho sự phân chia 20 tế bào (Graham
và Wilcox, 2000).
• Môi trường dinh dưỡng
Chlorella sp. là một loại tảo đơn bào, không có tiêm mao, không có khả
năng di động. Tế bào có dạng hình cầu, hình bán cầu hoặc dạng kích cỡ tế bào
từ 3 – 5 μm tùy loài và tùy điều kiện môi trường và giai đoạn phát triển. Màng
tế bào có vách cellulose bao bọc, chịu được những tác động cơ học nhẹ.
Độ mặn: 0 ppt − 35 ppt (thích hợp 10 ppt − 20 ppt);
Nhiệt độ: 10 oC − 35 oC (thích hợp 25 oC − 35 oC);
Ánh sáng: 4.000 lux − 30.000 lux.
Trong tế bào có chứa hạt diệp lục (lục lạp) hình chuông hoặc hình cốc có
hoặc không có hạt pyrenoid. Có thể có một vùng trong suốt ở một bên của lục
lạp và trong vùng này hay trong vùng tế bào chất ở giữa, không màu có chứa
một nhân đơn mitochondria và thể Golgi. Phiến thylakoid quang hợp không có
tổ chức dạng hạt. Cuối pha sinh trưởng và đầu pha sinh sản, tế bào trở lên có
nhiều nhân. Sự thay đổi các điều kiện môi trường sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
hình thái của tế bào (Trần Thị Thanh Hiền và cs, 2000).
2.3.3. Sinh sản
Chlorella sp. sinh sản vô tính bằng cách hình thành bất động bào tử, sự
hình thành bào tử có màng dày do tế bào mẹ dày lên hay bào tử nghỉ, không
chuyển động được
2.3.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển
Độ pH thích hợp đối với tảo Chlorella sp. từ 6,0 − 8,5 (Nguyễn Thanh
Phương và cs., 2003).
Tảo Chlorella sp. sinh trưởng kém ở nhiệt độ dưới 15 oC và trên 35 oC.
Ở nhiệt độ 25 oC – 30 oC với điều kiện dinh dưỡng tốt, cường độ ánh sáng và
sự khuấy đảo thích hợp Chlorella sp. sẽ phát triển nhanh (Trần Thị Thúy
Phương, 2012).
22
25 − 35
3
Gluxit
%
10 − 15
4
Lipit
%
0,1 − 0,2
5
Sterol
%
0,1 − 0,5
6
Sterin
Tro
%
10 − 34
11
Xanthophyll
%
3,6 − 6,6
12
Vitamin B1
mg/g
18
13
Vitamin C
mg/g
0,3 − 0,6
25
18
Axit nicotinic
mg/100 g
145
19
Vitamin B6
mg/100 g
2,3
Nguồn: Trần Đình Toại và Châu Văn Minh, 2005
Chlorella sp. có hàm lượng protein cao và các chất dinh dưỡng thiết yếu
khác; khi sấy khô nó chứa khoảng 45% protein, 20% chất béo, 20%
carbohydrate, 5% chất xơ, 10% chất khoáng và vitamin (Phạm Thành Hổ,
2008).
23
2.3.6. Các nghiên cứu khả năng xử lý nước thải của vi tảo
quả nghiên cứu cho thấy Tảo Chlorella phát triển tốt trong 100% nước thải ao
cá tra và hấp thu lượng dinh dưỡng tốt nhất vào ngày 3 (với hiệu suất hấp thu
N−NO3− giảm 95,27%, N−NH4+ giảm 43,48% và P−PO43− giảm 88,66%) ở
nghiệm thức 100% nước thải ao cá tra. Tảo Spirulina có thể phát triển tốt
trong nước thải ao cá tra và hấp thu một lượng dinh dưỡng tốt nhất vào ngày 5
(với hiệu suất N−NO3− giảm 95,62% và P−PO43− giảm 68,02% ) ở nghiệm thức
100% nước thải ao cá tra. Riêng hàm lượng NH 4+ gia tăng, chứng tỏ Spirulina
không hấp thu tốt NH4+.
Nhóm tác giả gồm KS. Nguyễn Trung Hiệp và cs (2015), trường đại học
khoa học tự nhiên TP.HCM đã tìm ra giải pháp dùng tảo để xử lý nước thải và
chiết xuất nhiên liệu sinh học. Đây là đề tài đã đoạt giải khuyến khích tại cuộc
thi Ý tưởng sáng tạo với chủ đề: “Tiết kiệm năng lượng cho cuộc sống xanh”
năm 2015 do Trung tâm phát triển khoa học và công nghệ trẻ, Thành đoàn
TP.HCM phối hợp với Sở công thương TP.HCM tổ chức vào cuối tháng
7/2015. Nhóm tiến hành thử nghiệm nuôi vi tảo Chlorella vulgaris trong hệ
thống ống dẫn, sử dụng ống nhựa acrylic trong suốt để làm hệ thống ống nuôi.
Nhóm đã lựa chọn phương pháp sử dụng dimethyl ether (DME) trong quá
trình chiết xuất dầu, giúp tiết kiệm năng lượng so với các phương pháp trước
24
đó. KS. Nguyễn Trung Hiệp cho biết thêm, qua nghiên cứu các tài liệu trên thế
giới và trong nước, nhóm nhận thấy việc nuôi tảo xử lý nước thải và chiết xuất
nhiên liệu là hoàn toàn khả thi, có tính ứng dụng cao, phù hợp với điều kiện
Việt Nam. Dựa trên đặc tính sinh trưởng của loài tảo Chlorella vulgaris là có
thể sinh trưởng tốt trong môi trường nước thải, nhóm đã chọn nguồn nước thải
sinh hoạt để làm nguồn dinh dưỡng nuôi tảo, từ đó góp phần giải quyết vấn đề
ô
nhiễm
môi trường.
hữu cơ (TOC) và nhu cầu oxy hóa học (COD) giảm 20% nồng độ ban đầu
trong vòng một ngày. Tuy nhiên, mật độ tế bào tảo trong nghiệm thức chiếu
sáng theo chu kỳ 12 h thấp hơn mật độ tế bào tảo trong nghiệm thức chiếu liên
tục
sau
3 ngày.
25