TRIẾT HỌC
Trình bày quy luật lực
lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất. Vận dụng?
Quá trình lao
động có mục đích và
không ngừng sáng
tạo của con người
đòi hỏi con người
phải hoạt động để
SX ra của cải vật
chất. Vì thế SX vật
chất là hoạt động
đặc trưng của con
người của XH loài
người. Để tiến hành
quá trình SXVC cần
phải phụ thuộc vào
3 yếu tố đó là: điều
kiện hoàn cảnh tự
nhiên, mật độ dân
số và PTSX. Trong
đó, PTSX là yếu tố
quan trọng nhất.
PTSX là cách thức
mà con người tiến
hành SX ra của cải
vật chất trong 1 giai
đoạn lsử nhất định
của XH loài người,
bao gồm 2 yếu tố đó
năng lực thực tiễn của
con người trong quá
trình cải tạo tự nhiên
nhằm bảo đảm sự sinh
tồn và phát triển của
loài người.
Con người với tư
cách là chủ thể trong
sản xuất, với sức lao
động, kinh nghiệm, thói
quen, tri thức khoa họckỹ thuật của mình, sử
dụng tư liệu lao động,
trước hết là công cụ tác
động vào đối tượng lao
động để tạo ra của cải
vật chất. Quá trình đó
cũng là quá trình mà
con người chế tạo, cải
tiến công cụ lao động
nhằm đạt năng suất lao
động xã hội cao hơn.
Như vậy, NLĐ chính là
nhân tố chủ yếu, là
nhân tố quan trọng nhất
của LLSX như Lê nin nói
“LLSX hàng đầu của
toàn thể nhân loại là
công nhân, là NLĐ”. Tư
liệu sản xuất là những
yếu tố quan trọng vừa
đổi to lớn trong sản
xuất, quản lý, điều
hành các quá trình
công nghệ, tạo ra
những ngành sản
xuất mới, hiện đại,
những lĩnh vực kỹ
thuật
mũi
nhọn,
những phương pháp
sản xuất mới, những
nguồn năng lượng
mới với hàng loạt vật
liệu nhân tạo có tác
dụng to lớn, nhiều
mặt mà các cuộc
cách mạng khoa học,
kỹ thuật ở những thế
kỷ trước không thể có
được. Với ý nghĩa to
lớn đó, khoa học
đang trở thành lực
lượng sản xuất trực
tiếp của quá trình sản
xuất xã hội. Chưa bao
giờ tri thức khoa học
được vật hoá, kết
tinh, thâm nhập vào
các yếu tố của lực
là yếu tố khách
quan, là nền tảng
vật chất của toàn bộ
lịch sử nhân loại.
Lực lượng sản xuất
được kế thừa và
phát triển liên tục từ
thế hệ này sang thế
hệ khác. Mỗi thế hệ
sinh ra đều phải
thích ứng với một
trình độ lực lượng
sản xuất của thế hệ
trước để lại, vì “lực
lượng sản xuất là
kết quả của năng
lực thực tiễn của
con người, nhưng
bản thân năng lực
thực tiễn này bị
quyết
định
bởi
những
điều kiện
trong đó người ta
sống, bởi những lực
lượng sản xuất đã
đạt được, bởi hình
thái xã hội đã có
xuất cũng như phân
phối sản phẩm lao
động.
Như
vây,
Quan hệ sản xuất
do con người tạo ra,
song nó được hình
thành
một
cách
khách quan không
phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan, tuỳ
tiện của ai cả. QHSX
tồn tại dưới 2 chức
năng đó là chức
năng kinh tế và
chức năng xã hội.
Chức năng kinh tế
thể hiện ở hình thức
là
địa
bàn,
là
phương tiện, là động
lực để thúc đẩy
LLSX tồn tại và phát
triển. Còn chức năng
xã hội thể hiện ở
sự tác động của họ vào
giới tự nhiên tức là quá
trình SX”.
Lịch sử xã hội đã
trải qua hai kiểu sở hữu
về tư liệu sản xuất: sở
hữu tư nhân và sở hữu
công cộng. Nếu tư liệu
sản xuất nằm trong tay
một số ít người, còn
những
người
khác
không có hoặc có rất
(3)ít tư liệu sản xuất thì
quan hệ giữa người với
người trong sản xuất
vật chất và trong đời
sống xã hội nói chung là
quan hệ thống trị và bị
thống trị, là quan hệ
bóc lột và bị bóc lột.
Đây là nguồn gốc sinh
ra đối kháng giai cấp và
đấu tranh giai cấp. Nếu
tư liệu sản xuất là tài
sản chung của xã hội
thì quan hệ giữa người
trong sản xuất vật chất
và trong đời sống xã hội
phối sản phẩm lao
động có vai trò rất
quan trọng. Quan hệ
tổ chức, quản lý sản
xuất và quan hệ phân
phối sản phẩm lao
động có thể góp phần
củng cố, phát triển
quan hệ sở hữu. Tổ
chức, quản lý sản
xuất tốt thì sẽ sử
dụng hợp lý các
nguồn lực, phát huy
được thế mạnh của
các nguồn lực còn
thực hiện sự phân
phối sản phẩm lao
động một cách hợp lý
sẽ kích thích được sự
tích cực, năng động
của nguồn lực con
người thông qua việc
kích thích trực tiếp
vào lợi ích của họ.
Chính vì vậy, quan hệ
về mặt tổ chức, quản
lý sản xuất và quan
hệ phân phối sản
phẩm lao động quy
định trực tiêp tốc độ,
tính chất và trình
độ của LLSX:
Sự tác động
qua lại giữa LLSX và
QHSX là quan hệ
biện chứng. Sự tồn
tại thống nhất giữa
LLSX và QHSX tạo
nên phương thức SX
của XH và chính là
quy luật cơ bản nhất
của sự vận động của
đời sống XH. Nó
được thể hiện như
sau:
QHSX ra đời do
LLSX quyết định ứng
một trình độ của
LLSX nhất định, tất
yếu có một QHSX
của nó, QHSX phù
hợp với trình độ của
LLSX, như Mác nói:
“Những QHSX đều
gắn liền mật thiết
với LLSX; sự vận
động, phát triển của
LLSX đóng vai trò
quyết định làm thay
đổi QHSX cho phù
máy móc và tính
chất của lao động là
do nhiều người sử
dụng tư liệu sản
xuất ấy theo kiểu
phân
công
mỗi
người một bộ phận;
sản phẩm làm ra là
kết quả hiệp tác của
nhiều người. Trong
sản xuất của tư bản
chủ nghĩa, lực lượng
sản xuất mới đạt tới
tính chất xã hội hoá.
Sản xuất vật
chất không ngừng
biến đổi, phát triển.
Sự biến đổi bắt đầu
bằng sự biến đổi và
phát triển của lực
lượng sản xuất. Lực
lượng sản xuất biến
đổi dẫn đến mâu
thuẫn gay gắt với
quan hệ sản xuất
hiện và xuất hiện
một đòi hỏi khách
quan là xoá bỏ quan
của lực lượng sản xuất
ngày càng cao mâu
thuẫn với quan hệ sản
xuất dựa trên chế độ sở
hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa với tư liệu sản
xuất. Sự không phù hợp
của quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa với lực
lượng sản xuất đã xã
hội hoá cao đưa đến
xung đột xã hội gay gắt.
Mâu thuẫn này chỉ có
thể được giải quyết
thông qua một cuộc
cách mạng xã hội. Trước
mắt, chủ nghĩa tư bản
còn tiềm năng phát
triển kinh tế nhờ ứng
dụng những thành tựu
của khoa học công
nghệ, cải tiến phương
pháp quản lý, thay đổi
cơ cấu sản xuất, điều
chỉnh các hình thức sở
hữu và chính sách xã
hội. Tuy vậy, chủ nghĩa
tư bản vẫn là một chế
độ áp bức, bóc lột và
bất công.
LLSX sẽ kìm hãm,
hạn chế hoặc thậm
chí phá hoại LLSX.
Cuộc
khủng
hoảng trầm trọng ở
các nước xã hội chủ
nghĩa trước đây đã
cho thấy đó là do
nhiều
(5)nguyên
nhân, nhưng nguyên
nhân cơ bản là không
nắm vững và không
vận dụng đúng các
quy luật xã hội, đặc
biệt là quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp
với tính chất và trình
độ của lực lượng sản
xuất.
Như vậy, trong
xã hội có giai cấp đối
kháng thì mâu thuẫn
giữa lực lượng sản
xuất biểu hiện thành
mâu thuẫn giai cấp
và chỉ thông qua đấu
tranh giai cấp mới
giải quyết được mâu
Vì vậy, tránh tuyết
đối hóa QHSX, phải
xây dựng QHSX trên
sự phát triển tương
đồng của LLSX.
Nhận thức và
vận dụng trong
quá
trình
xây
dựng
CNXH
ở
nước ta.
Nước ta đi lên
từ một nền SX nhỏ
phổ biến, csở VC
còn thấp kém nên
trong quá trình cải
tạo và xây dựng chủ
nghĩa xã hội đã có
những biểu hiện vận
dụng chưa đúng quy
luật này và đã được
Đại hội lần thứ VI
của Đảng đã chỉ ra:
Đó là sai lầm
do bệnh chủ quan
duy ý chí, nóng vội
trong việc xây dựng
lầm trong đầu tư
xây dựng cơ cấu
kinh tế đã làm tăng
sự mất cân đối và
khó khăn thêm.
Việc duy trì
quá lâu và bất hợp
lý cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp
trong tổ chức và
điều tiết nền kinh
tế. Trong cải tạo và
xây dựng quan hệ
sản
xuất,
không
thấy hết những đặc
điểm của thời kỳ
quá độ, muốn nhanh
chóng xoá bỏ các
quan hệ sản xuất
phi XHCN, xây dựng
nhanh quan hệ sản
xuất XHCN bằng con
đường đẩy chế độ
công
hữu
công
Đối với LLSX:
Phải thực hiện
hiện đại hoá lực
lượng sản xuất, phải
tiến hành công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất
nước, kết hợp với củng
cố, hoàn thiện quan hệ
sản xuất nhằm đảm bảo
sự phù hợp giữa quan
hệ sản xuất với lực
lượng sản xuất để phát
triển kinh tế. Do đó,
xem công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là nhiệm
vụ trung tâm của thời
kỳ quá độ. Con đường
công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở nước ta cần
và có thể rút ngắn thời
gian so với các nước đi
trước, vừa có những
bước tuần tự, vừa có
bước nhảy vọt. Phát huy
những lợi thế của đất
nước, tận dụng mọi khả
năng để đạt được trình
độ công nghệ tiên tiến,
đặc biệt là công nghệ
nông thôn. Phát triển
mạnh và nâng cao
chất lượng các ngành
dịch vụ như: thương
mại, hàng không,
hàng hải, bưu chínhviễn thông, du lịch,
tài chính,ngân hàng,
kiểm toán, bảo hiểm.
Xây dựng đồng bộ và
từng bước hiện đại
hoá hệ thống kết cấu
hạ tầng: giao thông,
điện lực, thông tin,
thuỷ lợi, cấp thoát
nước. Tích cực phòng
chống thiên tai, bảo
vệ môi trường tự
nhiên, bảo tồn đa
dạng sinh học.
Đối với QHSX:
Thực hiện nhất
quán chính sách phát
triển nền kinh tế
nhiều thành phần.
Các thành phần kinh
tế kinh doanh theo
pháp luật đều là bộ
phận cấu thành quan
trọng của nền KTTT
định hướng XHCN.
cgiuwax kinh tế nhà
nước với kinh tế tư
bản tư nhân. Tạo
điều kiện cho kinh
tế có vốn đầu tư
nước ngoài phát
triển thuận lợi nhằm
thu hút công nghệ
hiện đại, tạo thêm
nhiều việc làm , tiêp
stucj tạo lập đồng
bộ các yếu tố thị
trường.
Đổi
mới
nâng cao hiệu lực
quản lý kinh tế của
nhà nước, phát triển
các loại thị trường
KH-CN. Đổi mới các
công cụ quản lý vĩ
mô của nhà nước
đối với nền kinh tế.
Đổi mới công tác kế
hoạch hóa, nâng
cao chất lượng công
tác xây dựng các
chiến
lược,
quy
hóa gắn với phát triển
kinh tế tri thức. Từ một
nền sản xuất nhỏ đi lên
CNXH, bỏ qua chế độ
TBCN, nhất thiết phải ưu
tiên phát triển lực lượng
sản xuất, đồng thời xây
dựng quan hệ sản xuất
phù hợp.
Muốn phát triển lực
lượng sản xuất không có
cách nào khác là phải tiến
hành công nghiệp hóa và
kết hợp ngay từ đầu công
nghiệp hóa với hiện đại
hóa, đồng thời gắn với
phát triển kinh tế tri thức.
Tranh thủ cơ hội thuận
lợi do bối cảnh quốc tế
tạo ra và lợi thế của nước
ta để rút ngắn quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước theo định
hướng XHCN, trong đó
đặc biệt coi trọng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp và nông
thôn, giải quyết đồng bộ
nuôi được chuyển dịch theo
hướng sản xuất hàng hoá; tốc
độ tăng trưởng KT ở mức khá
(13%/năm)…
Tuy nhiên, so với các
tỉnh khác trong khu vực, Gia
Lai ít thuận lợi hơn. Việc quản
lý, sử dụng, khai thác các
nguồn lực kinh tế trên địa bàn
tỉnh còn nhiều hạn chế do cơ
sở hạ tầng yếu kém, địa hình
chia cắt, xa trung tâm; nguồn
tài nguyên rừng bị chiến tranh
tàn phá; cơ cấu dân cư, đặc
điểm sinh hoạt tôn giáo phức
tạp, dân số còn quá ít (gần 1,2
triệu dân) và phân bố không
hợp lý, trình độ dân trí thấp;
nền kinh tế cơ bản vẫn là
nông nghiệp, các vùng nguyên
liệu phục vụ công nghiệp
công nghiệp chế biến đang
trong giai đoạn hình thành;
nguồn vốn đầu tư phát triển và
chất lượng nguồn nhân lực
còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ lao
động qua đào tạo còn thấp, kể
cả trong lĩnh vực thông
thường cũng như trong lĩnh
nhằm đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng và chuyển dịch
cơ cấu KT, giải quyết các
vấn đề xã hội; nâng cao
năng lực quản lý, điều
hành của các cấp chính
quyền; phát triển nhanh
gắn với đảm bảo tính hiệu
quả và bền vững trên csở
xác định vùng KT động
lực, khâu đột phá, ngành
KT mũi nhọn. Đầu tư phát
triển gắn với thực hiện tiến
bộ XH, tạo dựng tiền đề
cho bước phát triển nhanh
trong những năm tiếp theo,
cụ thể như sau:
Đầy mạnh CNH,
HĐH NNNT, phát triển
NNghiệp toàn diện theo
hướng SXHH là csở, nền
tảng của nền KT.
Tăng cường ứng
dụng rộng rãi tiến bộ
KHKT, công nghệ sinh học
vào SX. Tập trung chỉ đạo
đầu tư phát triển toàn diện,
đồng bộ trên cả 3 vùng,
trong đó đặc biệt chú trọng
đầu tư khai thác chiều sâu,
phương chuẩn bị điều
kiện thực hiện các cam
kết về TM – DV, cam kết
tự do hoá thương mại
trong khuôn khổ ASEAN.
Chú trọng phát triển thị
trường nông thôn, miền
núi.
Thực hiện tốt
công tác quy hoạch và
XD vùng KT động lực.
Quy hoạch phải đi trước
1 bước, phải hoạch định
và quản lý 1 cách khoa
học, chặt chẽ và phù hợp
với thực tế của địa
phương trong đkiện KT
thị trường mà trước hết là
tập trung phát triển vùng
KT trọng điểm Pleiku gắn
với các KCN Trà Đa, khu
tiểu thủ công nghiệp Diên
Phú, khu KT thương mại
đặc biệt cửa khẩu Lệ
Thanh.
Để phát triển nền
KT của tỉnh đòi hỏi phải
xem phát triển nguồn
nhân lực là khâu đột phá
trong hệ thống tổ chức
Lai ổn định, phát triển và
sớm thoát nghèo, phát
huy thế mạnh của các
nguồn lực,kết hợp với sự
đầu tư của Nhà nước để
phát triển kinh tế, thời
gian tới tỉnh Gia Lai tập
trung triển khai thực hiện
các giải pháp sau:
+ Thứ nhất, huy
động mọi nguồn lực đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng
kinh tế ở mức cao và bền
vững, gắn với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Trước mắt,
rà soát, điều chỉnh bổ
sung quy hoạch tổng thể
phát triển KT-XH, quy
hoạch phát triển ngành,
lĩnh vực, trước hết là quy
hoạch, kế hoạch sử dụng
đất đai, phát triển rừng,
giao thông, thuỷ lợi, thuỷ
điện. Hoàn thành việc cấp
giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Có biện
pháp khai thác sử dụng
hợp lý có hiệu quả quỹ
các dự án ODA và của các tổ
chức tài chính quốc tế.
+ Thứ ba, tiếp tục tạo
môi trường thuận lợi về cơ
chế, chính sách, thủ tục hành
chính. Đồng thời, chủ động và
tổ chức các hoạt động xúc tiến
đầu tư ở trong vùng, trong
nước và nước ngoài, tạo điều
kiện cho các nhà đầu tư mạnh
dạn bỏ vốn thực hiện các dự
án xây dựng kết cấu hạ tầng,
các khu đô thị mới và đầu tư
phát triển các vùng chuyên
canh cây công nghiệp, chăn
nuôi bò, trồng rừng nguyên
liệu, khai thác khoáng sản.
Đẩy mạnh các hoạt động liên
kết với các tỉnh, các vùng nhất
là các tỉnh lân cận và vùng
kinh tế trọng điểm. Có chính
sách ưu tiên đầu tư và khai
thác khu du lịch Đăk Pơ,
Rừng quốc gia Kon Ka King,
khu kinh tế cửa khẩu quốc
tế Lệ Thanh, lòng hồ thuỷ
điện Ya Ly, các vuờn quốc
gia…
+ Thứ tư, quan tâm
từng bước rút ngắn khoảng
cách về mức sống giữa các
vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số
với các khu vực thị trấn, thị
xã. Tiếp tục thực hiện NQ
04 của Tỉnh uỷ khoá XIII,
chủ động vực dậy các xã
đặc biệt khó khăn, kế hợp
phát huy vai trò của các cơ
quan kết nghĩa. Thực hiện
có chất lượng các chương
trình, dự án quốc gia…
6
Tóm lại, với quyết
tâm: “…phát huy sức
mạnh toàn dân tộc, đẩy
mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới, huy động
và sử dụng tốt mọi nguòn
lực cho CNH, HĐH đất
nước…sớm đưa nước ta
ra khỏi tình trạng kém
phát triển; tạo nền tảng để
đến năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng
hiện đại” như NQ X của
người tiêu dùng, giữa người
mua với người mua, giữa
người mua với người bán; thị
trường phát triển hoàn chỉnh
là một thể thống nhất, không
thể chia cắt giữa các vùng và
các khu vực kinh tế.
Trong thời kỳ quá độ
lên CNXH ở Việt Nam, sự tồn
tại của sản xuất hàng hóa là
tất yếu khách quan. Thị
trường gắn liền với quá trình
sản xuất và lưu thông hàng
hóa, vì vậy thừa nhận sản
xuất hàng hóa không thể phủ
định sự tồn tại khách quan
của thị trường. Chủ trương
phát triển nền kinh tế hàng
hóa theo cơ chế thị trường đã
được khẳng định tại Đại hội
VI của Đảng “phát triển nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà
nước theo định hướng
XHCN”. Quan điểm này tiếp
tục được Đại hội VII xác định
và được Đại hội IX phát triển
thành chủ trương xây dựng và
phát triển nền KT thị trường
hiện sự phân công lao động xã
hội và sản xuất hàng hóa thì cũng
đồng thời xuất hiện thị trường.
Dưới góc độ kinh tế - chính trị,
thị trường là tổng hòa các mối
quan hệ mua - bán trong xã hội,
được hình thành do những điều
kiện lịch sử, kinh tế, xã hội nhất
định. Ở đâu có sản xuất và lưu
7
trường cũng xuất hiện,
nhưng không có nghĩa là đã
có kinh tế thị trường. Với sự
tăng trưởng của kinh tế hàng
hóa, thị trường được mở
rộng, phong phú, đồng bộ,
các quan hệ thị trường
tương đối hoàn thiện mới có
kinh tế thị trường. Như vậy,
kinh tế thị trường không
phải là một giai đoạn khác
biệt, độc lập đứng ngoài
kinh tế hàng hóa mà là giai
đoạn cao của kinh tế hàng
hóa.
Tại Đại hội IX của
Đảng (tháng 4-2001) lần
đầu tiên nêu lên khái niệm
trạng của nền kinh tế thị
trường của nước ta thể hiện
ở những đặc điểm sau:
Trình độ phát triển
của nền kinh tế thị trường
còn ở giai đoạn sơ khai.
Phân công lao động kém
phát triển, thị trường chưa
mở rộng. Số lượng sản xuất
ra hàng hoá còn ít, chất
lượng hàng hoá chưa cao,
chủng loại và kiểu dáng
hàng hoá còn đơn điệu
nghèo nàn, sức cạnh tranh
của hàng hoá còn thấp.
Nhưng giá thành của hàng
hoá lại cao, kim ngạch xuất
khẩu của hàng hoá còn
nhiều bất cập, thiếu sự ổn
định.
Cơ sở vật chất kỹ
thuật, kết cấu hạ tầng tuy có
phát triển nhưng chưa đồng
bộ vẫn còn nhiều yếu kém.
Trình độ dân trí còn thấp
không đồng đều giữa các
vùng, các miền và ở các địa
phương. Đặc biệt là ở những
vượt quá xa cầu, nhiều
người có sức lao động
không tìm được việc làm.
Đối với vùng dân tộc thiểu
thị trường cũng đang trong
quá trình hình thành nhưng
vẫn chưa đồng bộ.
Thị trường tiền tệ, thị
trường vốn đã có nhiều tiến
bộ nhưng vẫn còn nhiều trắc
trở, như nhiều doanh
nghiệp, nhất là doanh
nghiệp tư nhân rất thiếu vốn
nhưng không vay được vì
vướng mắc thủ tục, trong
khi đó nhiều ngan hàng
thương mại huy động được tiền
gửi mà không thể cho vay để ứ
đọng lại trong két. Thị trường
chứng khoán ra đời nhưng cũng
chưa có nhiều “hàng hóa” để
mua - bán và mới có ít doanh
nghiệp đủ điều kiện tham gia thị
trường này.
Ngoài những đặc điểm
trên, nền kinh tế ở nước ta nhiều
thành phần còn đan xen các loại
hình sản xuất hàng hoá như sản
xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa,
phát triển kinh tế - kỹ thuật của
nước ta thấp xa so với hầu hết
các nước khác.
Trong xu thế toàn cầu hoá
và khu vực hoá về kinh tế đang
đặt ra cho chúng ta phải chủ
động hội nhập, tìm ra “cái mạnh
tương đối” của nước ta, thực hiện
đa phương hoá, đa dạng hoá kinh
tế đối ngoại, tận dụng ngoại lực
để phát huy nội lực, nhằm thúc
đẩy công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nền kinh tế quốc dân, định
hướng lên chủ nghĩa xã hội.
Quản lý nhà nước kinh tế xã hội còn yếu kém. Trong văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VIII của Đảng ta nhận
định về vấn đề này như sau:
Hệ thống luật pháp, cơ chế,
chính sách chưa đồng bộ và
nhất quán, thực hiện chưa
nghiêm.Trước mắt để thực
hiện dân giàu nước mạnh xã
hội công bằng dân chủ văn
minh Nhà nước ta phải thực
hiện chính sách xoá đói giảm
nghèo.
Để phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng
việc thuê mướn và sử dụng
lao động, quản lý chặt chể
việc sử dụng ruộng đất và thị
trường bất động sản, hoàn
thiện thị trường tiền tệ, xây
dựng thị trường vốn, thị
trường chứng khoán.
Nâng cao năng lực và
hiệu lực quản lý kinh tế vĩ mô
của nhà nước. Nhà nước thực
hiện tốt chức năng định
hướng sự phát triển kinh tế,
kiểm kê và kiểm soát mọi
hoạt động kinh tế XH, tạo lập
khuôn khổ pháp luật và hệ
thống chính sách nhất quán,
trực tiếp đầu tư vào một số
lĩnh vực thiết yếu, nhất là cơ
cấu hạ tầng để tạo ra môi
8
trường ổn định và thuận lợi
cho giới kinh doanh làm ăn
phát đạt, hạn chế các hiện
tượng tiêu cực. Tiếp tục cải
cách thủ tục hành chính để
nhà nước thực hiện đúng
chức năng quản lý vĩ mô và
chức năng chủ sở hữu tài
bách để chuyển nền kinh tế
lạc hậu thành nền kinh tế
hiện đại, hội nhập vào sự
phân công lao động quốc tế.
Đó là con đường đúng đắn
để phát triển lực lượng sản
xuất, khai thác có hiệu quả
mọi tiềm năng đất nước để
thực hiện nhiệm vụ CNHHĐH. Kinh tế hàng hóa,
kinh tế thị trường không đối
lập với các nhiệm vụ KTXH của thời kỳ quá độ lên
CNXH mà trái lại thúc đẩy
các nhiệm vụ đó phát triển
mạnh mẽ. hực tế trong thời
gian vừa qua, việc chuyển
sang mô hình kinh tế thị
trường là hoàn toàn đúng
đắn và phù hợp với quy luật.
Nhờ đó kinh tế nước ta phát
triển và tăng trưởng khá
cao. Bước đầu khai thác có
hiệu quả tiềm năng trong
nước, thu hút nguồn vốn
đầu tư nước ngoài để xây
dựng hệ thống kết cấu hạ
tầng kỹ thuật và xã hội, đời
sống của nhân dân ta từng
bước được cải thiện.
mở ra triển vọng phát triển
các ngành công nghiệp sản
xuất vật liệu xây dựng và
chế biến nông lâm sản với
quy mô vừa và lớn… Đặc
biệt, xuất phát từ điều kiện
địa lý, là vùng núi cao có
nhiều cảnh quan tự nhiên
cũng như nhân tạo, Gia Lai
có tiềm năng du lịch rất
phong phú. Bên cạnh sự hấp
dẫn của thiên nhiên hùng vĩ,
ở Gia Lai còn có nền văn
hóa lâu đời đậm đà bản sắc
của đồng bào các dân tộc
thiểu số... Đó là những điều
kiện thuận lợi, là nền tảng,
tiềm năng để Gia Lai có thể
phát triển nền kinh tế thị
trường hiện nay.
Qua thực tiễn tại địa
phương cho thấy, dưới sự
lãnh đạo của Đảng, Nhà
nước, các cấp lãnh đạo địa
phương đã khá linh hoạt khi áp
dụng các giải pháp để xây dựng
và từng bước hoàn thiện nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN
tại địa phương. Điều này được
trong tỉnh. Bên cạnh đó, đã chú
trọng việc phát triển kinh tế
vùng, hình thành các vùng
nguyên liệu cơ bản phục vụ cho
những nghành chế biến như mía
đường, bông, điều, tiêu, cà phê,
cao su, chè... từ đó tạo lập đồng
bộ các yếu tố thị trường tại địa
phương.
Ngoài ra, còn mở rộng
phân công lao động xã hội nhằm
phát triển mạnh mẽ kinh tế hàng
hoá, kinh tế thị trường, khắc
phục tình trạng kinh doanh
không đúng với pháp luật. Tập
trung phát triển thị trường hàng
hoá, dịch vụ, thị trường sức lao
động, thị trường vốn, thị trường
công nghệ, thị trường chứng
khoán... (Chủ yếu dựa vào các
Công ty có vốn đầu tư lớn tại địa
phương, nhằm giúp nền kinh tế
thị trường tại tỉnh phát triển
mạnh mẽ hơn).
Bên cạnh đó, việc
phát triển công tác nghiên
cứu, ứng dụng khoa học và
công nghệ, đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng
kinh tế và trình độ dân trí của
một bộ phận người dân tộc
thiểu số đã dụ dỗ, mua chuộc,
tuyên truyền, kích động quần
chúng nhân dân chống lại
Nhà nước ta. Bọn phản động
đột lốt tôn giáo “Tin lành Đề
ga” để kích động gây rối trật
tự gây ra các điểm nóng về
chính trị… làm ảnh hưởng
không nhỏ đến tiến trình thực
hiện nền kinh tế thị trường tại
địa phương. Nhưng dười sự
lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và
Nhà nước thời gian gần đây
Gia Lai đã cố gắng giữ vững
ổn định chính trị, hoàn thiện
hệ thống luật pháp, đổi mới
các chính sách tài chính, tiền
tệ, giá cả tại địa phương,
nhằm tạo môi trường kinh
doanh, đầu tư giàu tiềm năng
và triển vọng, tạo lòng tin để
thu hút các nhà đầu tư đến với
Gia Lai. Việc xác định giữ
vững ổn định chính trị là giữ
9
vững sự lãnh đạo của Đảng,
đa dạng hoá các quan hệ
kinh tế dối ngoại trên
nguyên tắc đôi bên cùng có
lợi cũng đã đuợc chú ý hơn.
Tại những Khu công
nghiệp, cũng công nghiệp
của địa phương đã thu hút
được trên 30% nguồn vốn
và đầu tư của các danh
nghiệp nước ngoài vào Gia
Lai để phát triển kinh tế./.
Khi luận chứng về
mặt lý luận, Mác và
Ăngghen xem cách mạng
như một quá trình gồm hai
giai đoạn, nhưng phát triển
liên tục, thông qua việc
hoàn thành mục tiêu của
giai đoạn thứ nhất rồi tiến
tới mục tiêu cuối cùng. Giai
đoạn thứ nhất là “Giai đoạn
giai cấp vô sản tự xây dựng
thành giai cấp thống trị, là
giai đoạn giành lấy dân chủ”
và giai đoạn thứ hai là giai
đoạn giai cấp công nhân
thông qua Đảng Cộng sản
lãnh đạo toàn thể những
đều bắt nguồn từ nhu cầu
khách quan giải phóng lực
lượng sản xuất khỏi sự kìm
hãm của quan hệ sản xuất lỗi
thời. Cách mạng XHCN có
nguyên nhân sâu xa từ mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất
mang tính xã hội cao với quan
hệ sản xuất dựa trên chế độ
chiếm hữu tư nhân TBCN về
tư liệu sản xuất.
10
Lênin đã kế thừa
những tư tưởng của Mác và
Ăngghen về cách mạng
không ngừng, phát triển lý
luận về sự phát triển cuộc
cách mạng dân chủ tư sản
theo một cương lĩnh mang
tính triệt để rồi chuyển biến
lên cách mạng xã hội chủ
nghĩa.
Trong bầu không khí
sục sôi cách mạng ở nước
Nga cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX, cùng một lúc
xuất hiện nhiều lực lượng
đấu tranh: cuộc đấu tranh
nên cách mạng dân chủ đã
có những biểu hiện mới
trong nội dung. Cách mạng
dân chủ tư sản Nga mang
tính nhân dân sâu sắc, đồng
thời biểu lộ cả những “dấu
hiệu vô sản”. Ðó là cuộc
cách mạng dân chủ tư sản
kiểu mới do giai cấp công
nhân lãnh đạo. Sự hoàn
thành triệt để cuộc cách
mạng đó có nghĩa là tạo lập
chiếc cầu trực tiếp để
chuyển sang cách mạng
XHCN. Lênin từng nhấn
mạnh: dân chủ là con
đường ngắn nhất để đi tới
CNXH.
Lênin còn nêu lên và
thực hiện tư tưởng về sự
“giao kết” giữa cách mạng
dân chủ và cách mạng
XHCN. Sự “giao kết” đó
biểu hiện ở chỗ trong cách
mạng dân chủ đã giải quyết
một số nhiệm vụ nhằm
chuẩn bị tiền đề trực tiếp
cho cách mạng XHCN, còn
khi chuyển sang cách mạng
XHCN thì vẫn phải tiếp tục
chuyển sang giai đoạn thứ hai.
Lênin đã tiến hành cuộc
đấu tranh chống khuynh hướng
“tả” cũng như chống khuynh
hướng “hữu”. Những người hữu
khuynh thì muốn kìm hãm cuộc
cách mạng trong khuôn khổ tư
sản và muốn mở ra một kỷ
nguyên cho CNTB thống trị lâu
dài, trong đó giai cấp công nhân
sẽ bị bóc lột một cách “êm dịu”,
còn giai cấp tư sản thì tha hồ làm
giàu “một cách chính đáng”.
Những người tả khuynh, ngược
lại, muốn lẫn tránh những yêu
cầu dân chủ bức thiết bằng cách
“xa lánh” cuộc cách mạng dân
chủ tư sản để thực hiện tức khắc
một cuộc cách mạng XHCN.
Đối với nước ta, sự
chuyển biến từ cách mạng dân
tộc dân chủ lên cách mạng
XHCN cũng là tất yếu khách
quan của cách mạng dân tộc dân
chủ do đảng của giai cấp công
nhân lãnh đạo.
Ngay từ những thập niên
đầu thế kỷ, khi nước ta là nước
thuộc địa nửa phong kiến, vấn đề
giải phóng đất nước khỏi ách áp
phát, nhưng kể từ khi giai cấp
công nhân Việt Nam tổ chức
được chính đảnh của mình,
điều đó trở thành nhận thức tự
giác. Ðó là nguyên nhân sâu
xa làm cho giai cấp công
nhân Việt Nam không trãi qua
thời kỳ đấu tranh dưới ngọn
cờ của giai cấp tư sản, mà
sớm lãnh đạo phong trào độc
lập với những yêu sách riêng,
trong đó nêu cao ngọn cờ độc
lập dân tộc, dân chủ mang
tính triệt để và hướng tới
CNXH.
Ở các vùng nông thôn,
nông dân (chiếm trên 90%) bị
phân hóa sâu sắc. Sự bóc lột
theo kiểu thực dân kết hợp
với kiểu bóc lột phong kiến
trung cổ đã đẩy nông dân vào
tình trạng vô cùng cực khổ.
Một bộ phận khá đông nông
dân bị tước đoạt hết ruộng đất
phải đi lang thang kiếm ăn rồi
sa vào cạm bẫy thực dân và
trở thành người vô sản. Một
mặt bị thực dân Pháp chèn ép,
mặt khác, vấp phải sự cản trở
của thế lực phong kiến, nền
thành thị ít nhiều được mở
rộng, làm cho tầng lớp tiểu
tư sản tăng lên về số lượng.
ở một nước thuộc địa nửa
phong kiến tầng lớp này bị
thực dân, phong kiến áp
bức, bóc lột nặng nề cả về
vật chất lẫn tinh thần.
Những người tiểu tư sản,
học sinh, trí thức lại có một
trình độ văn hóa để hiểu biết
các giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc và tiếp thu
những giá trị tiến bộ từ
nước ngoài. Cùng với giai
cấp công nhân và giai cấp
nông dân, tầng lớp tiểu tư
sản ngay từ đầu đã tham gia
phong trào đấu tranh vì độc
lập dân tộc và dân chủ
hướng tới CNXH ở nước ta.
Như vậy, có thể nói
trong xã hội thuộc địa nửa
phong kiến, những yêu cầu
dân tộc, dân chủ của công
nhân, nông dân, tiểu tư sản tức là của đại đa số dân cư đã theo con đường diễn biến
tự thân mà hướng tới
CNXH. Chính từ thực tiễn
nước ta và thực tiễn của các
nước thuộc địa, phụ thuộc
lắng do thất bại của phong
trào kháng Pháp mà đại diện
của các giai cấp phong kiến,
tư sản lãnh đạo, là ở chỗ lần
này mục tiêu dân tộc không
tách rời mục tiêu dân chủ
trên cơ sở định hướng
XHCN.
Tính tất yếu của sự
chuyển biến từ cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân
lên cách mạng XHCN ở
Việt Nam đã được Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định:
“Kháng chiến phải đi đôi
với kiến quốc. Kháng chiến
có thắng lợi thì kiến quốc
mới thành công. Kiến quốc
có chắc thành công, kháng
chiến mới mau thắng lợi”
Thành tựu của kháng
chiến là: lực lượng của ta từ
yếu trở thành mạnh. Nhờ
sức mạnh tự cường cùng với
sự giúp đỡ quốc tế to lớn,
nhân dân ta đã đi tới chiến
thắng Ðiện Biên Phủ, giải
phóng miền Bắc (1954) và
với Ðại thắng mùa xuân
(1975) giải phóng cả nước.
tinh thần của dân tộc đã từng bị
xuyên tạc trong môi trường của
chính sách ngu dân mà kẻ thù
xâm lược thực hiện hàng trăm
năm, khơi dậy những truyền
thống ngàn năm của đất nước
hướng tới sự tiến bộ.
Ở miền Nam, sở hữu
phong kiến cơ bản được giải
quyết trước khi cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước giành thắng
lợi, trong những năm hòa bình
được lập lại, việc điều chỉnh
ruộng đất ở nông thôn đã hoàn
thiện thêm một bước trong việc
thực hiện nhiệm vụ dân chủ đó.
Trên nền tảng của những
kết quả đó, mục tiêu CNXH
không còn bị tách biệt bởi một
“bức tường thành”. Bao trùm lên
tất cả, cách mạng dân tộc, dân
chủ nhân dân đã tạo nên những
điều kiện vật chất và tinh thần để
nước ta chuyển sang chặng đầu
của thời kỳ quá độ lên CNXH.
Dân chủ chỉ có thể phát huy đầy
đủ trong môi trường của CNXH,
còn CNXH thì không thể nảy
sinh và phát triển bên ngoài
những thành tựu về dân chủ.
lột họ hàng thế kỷ. Còn ở các
nước vốn là XHCN trước đây,
trong công cuộc cải tổ, do sự
sai lầm, của một số lãnh tụ
xét lại chủ nghĩa Mác-Lênin,
phản bội lại CNXH để hướng
theo con đường TBCN thì
đang diễn ra sự khủng hoảng.
Sự thật đó, chứng tỏ CNTB
không còn triển vọng, không
thể là xã hội tương lai tốt đẹp
của nhân loại.
Ðại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII của Ðảng
khẳng định: “... đổi mới
không phải là thay đổi mục
tiêu XHCN mà là quan niệm
đúng đắn hơn về CNXH và
thực hiện mục tiêu ấy bằng
những hình thức, bước đi và
biện pháp phù hợp”.
Ðại hội đại biểu toàn
quốc
lần
thứ
IX
(tháng4/2001) của Ðảng
cộng sản đã phát triển thêm
và cụ thể hóa hơn những nội
điểm đổi mới có nguyên tắc
đúng đắn, ngày càng phát
triển và cụ thể hơn về mục
tiêu, con đường, bước đi,
hình thức ... của cách mạng
XHCN và xây dựng CNXH
ở Việt Nam, Ðảng ta đã tạo
những động lực trí tuệ và
niềm tin mới ngày càng
vững chắc cho cả dân tộc ta,
chung sức chung lòng đưa
sự nghiệp cách mạng tới
thắng lợi hoàn toàn./.
MÔN CƠ BảN:
TTHCM:
TTHCM về đạo đức
cách mạng và việc rèn luyện
đạo đức cách mạng.
HCM là một trong
những nhà tư tưởng, những lãnh
tụ cách mạng đã bàn nhiều nhất
đến vấn đề đạo đức. Người
không để lại những tác phẩm đạo
đức lớn, nhưng những tư tưởng
lớn của Người về đạo đức đã
nằm trong những bài viết, bài nói
ngắn gọn, được diễn đạt rất cô
đọng, hàm súc theo phong cách
khái niệm, những phạm trù
đạo đức đã từng quen thuộc
với dân tộc Việt nam từ lâu
đời , đưa vào đấy những nội
dung mới, đồng thời bổ sung
những khái niệm những phạm
trù đạo đức của thời đại mới.
Chính vì vậy mà những giá trị
đạo đức mới đã hòa nhập với
những giá trị đạo đức truyền
thống của dân tộc, làm cho
mỗi người Việt nam đều gần
gũi. Hơn nữa, những giá trị
đạo đức truyền thống lại được
nâng lên tầm cao mới , làm
cho Người thực hiện được
việc kết hợp truyền thống với
hiện đại. Việc tiếp thu những
tinh hoa đạo đức của nhân
loại đã làm cho tư tưởng
HCM trở nên phong phú, đã
được đông đảo những người
nước ngoài chấp nhận, tìm
thấy một Việt Nam trong
nhân loại, cũng như nhân loại
trong Việt Nam. sự kết hợp
giữa truyền thống và hiện đại,
giữa dân tộc và nhân loại
cũng là một đặc trưng nổi bật
của tư tưởng đạo đức HCM.
đời công; trên mọi phạm vi
từ hẹp đến rộng, từ gia đình
đến xã hội, từ giai cấp đến
dân tộc, từ các vùng miền
địa phương đến cả nước, từ
quốc gia đến quốc tế; trong
cả ba mối quan hệ chủ yếu
của mỗi người, đối với
mình, đối với người, đối với
việc. Đối với người thì có
quan hệ giữa cán bộ, đảng
viên của Đảng và Nhà nước
với dân, quan hệ giữa cấp
trên – cấp dưới… Trong Di
chúc để lại, Người cũng đã
căn dặn “Đảng ta là đảng
cầm quyền…mỗi cán bộ
đảng viên phải thật sự thấm
nhuấn đạo đức cách mạng”.
Trong tư tưởng đạo
đức HCM, những phẩm chất
đạo đức được nêu ra là phù
hợp với từng đối tượng, hơn
nữa Người nhấn mạnh phẩm
chất này hay phẩm chất
khác là nhằm đáp ứng yêu
cầu của nhiệm vụ cách
mạng trong từng thời kỳ
không phải hạ thấp, càng
không phải vùi dập con
người. Tình yêu thương con
người, theo Hồ Chí Minh, còn
được thể hiện đối với những
người có sai lầm khuyết điểm.
Nhưng đã nhận rõ khuyết
điểm và cố gắng sửa chữa, kể
cả đối với những người lầm
đường, lạc lối đã hối cải, kể
cả đối với kẻ thù đã bị
thương, bị bắt hoặc bị quy
hàng. Chính tình yêu thương
đó đã đánh thức những gì tốt
đẹp mà Hồ Chí Minh tin rằng
trong mỗi người đều có, tuy
nhiều ít có khác nhau.
Trong di chúc,
người căn dặn Đảng phải có
tình đồng chí yêu thương lẫn
nhau. Đây chính là điều nhắc
nhỡ cán bộ Đảng viên phải
luôn luôn chú ý đến phẩm
chất yêu thương con người.
Ba là, cần kiệm
liêm chính, chí công vô tư.
Theo HCM, một dân tộc biết
cần, kiệm, liêm là dân tộc
mạnh về tinh thần, giàu về vật
chất và xã hội văn minh tiến
đúng đắn”. Đối với mình:
Không tự cao, tự đại ,luôn
chịu khó học tập, cần tiến
bộ. Luôn tự kiểm điểm để
phát triển điều hay sửa đổi
điều dở của bản thân mình.
Đối với người: Không nịnh
hót người trên, không xem
khinh người dưới, luôn giữ
thái độ chân thành, khiêm
tốn, đoàn kết thật thà, không
dối trá lừa dối. Đối với việc:
Để việc công lên trên, lên
trước việc tư, việc nhà. Đã
phụ trách việc gì thì quyết
làm cho đến nơi đến chốn,
không sợ nguy hiểm, khó
khăn gian khổ.
Người có bốn đức cần,
kiệm, liêm, chính cũng như
trời có bốn mùa, đất có bốn
phương ….
Chí công vô tư, Người
nói:” Đem lòng chí công vô
tư mà đối với người, với
việc”. “Khi làm bất kỳ việc
gì cũng đừng nghĩ đến mình
trước, khi hưởng thụ thì
minh fnên đi sau”; “Phái lo
trước thiên hạ, vui sau thiên
Bồi dưỡng phẩm chất cần
kiệm liêm chính, chí công
vô tư sẽ làm cho con người
vững vàng trước mọi thử
thách. Nhưng đây lại là vấn
đề rất phức tạp, nói dễ là
khó và trong cuọc sống vấn
thường hay vi phạm. Bởi vì
nó đụng chạm đến nhiều
mặt lợi ích cá nhân, mà nêu
skhông vượt qua được chủ
nghĩa cá nhân thì bất cứ ai
cũng có thể sa vào những
hành vi vô đạo đức.
Bốn là, tinh thần
quốc tế trong sáng.Đó là
tinh thần đoàn kết quốc tế
vô sản, mà Hồ Chí Minh đã
nêu bằng mệnh đề "Bốn
phương vô sản đều là anh
em "; là tinh thần đoàn kết
với các Dân tộc bị áp bức,
với nhân dân lao động ở các
nước. Là tinh thần đoàn kết
của nhân dân Việt Nam với
tất cả những tiến bộ trên thế
giới vì hoà bình, công lý và
tiến bộ xã hội vì mục tiêu
lớn của thời đại là hoà bình,
độc lập Dân tộc, dân chủ và
chung của toàn dân.
Hai là, xây đi đôi với
chống. HCM Kết hợp chặt chẽ
việc tuyên truyền đạo đức c/m
với xoá bỏ hành vi phi đạo đức
của chế độ cũ. Xây dựng nền đạo
đức cách mạng, giáo dục chuẩn
mực đạo đức mới, khơi dậy ý
thức tự giác, đạo đức lành mạnh
ở mọi người, hướng mọi người
vào cuộc đấu tranh cho sự trong
sạch, lành mạnh về đạo đức.
Nâng cao đạo đức cách mạng,
kiên quyết đấu tranh chống cn cá
nhân -nguồn gốc của mọi thứ tệ
nạn, thứ giặc nội xâm phá từ
trong ra; chống những mặt tiêu
cực, mặt trái của cơ chế thị
trường, phát huy truyền thống
văn hoá, đậm đà bản sắc Dân
tộc .
Ba là, phải bền bỉ rèn
luyện, tu dưỡng đạo đức suốt
đời. Đạo đức không phải là thứ
có sẵn trong mỗi người; đạo đức
là do con người tiếp thu được qua
giáo dục và tạo thành nhờ bản
thân tích cực tu dưỡng, bền bỉ
rèn luyện trong môi trường sống
và trong cuộc đấu tranh cách
trái của cơ chế thị trường, vừa
hợp tác vừa đấu tranh với bên
ngoài, vừa chấp nhận vừa đấu
tranh ở bên trong; xây dựng
nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đưa
nền kinh tế đất nước hội nhập
kinh tế thế giới, đưa đất nước
ta vững vàng quá độ lên chủ
nghĩa xh. Trong cuộc chiến
đấu mới để xd và bảo về tổ
quốc cũng đã tiếp tục bồi
dưỡng, nâng cao những phẩm
chất đạo đức mới, những tấm
gương ''người tốt việc tốt''
xuất hiện ngày càng nhiều,
thể hiện rõ qua những lần ĐH
thi đua toàn quốc gần đây.
Dân tộc VN có lòng
yêu nước nồng nàn, có tinh
thần đoàn kết tương thân
tương ái. Những tình cảm đó
được thể hiện suốt chiều dài
lịch sử của cả dân tộc.Tiếp
nối truyền thống cha anh
trong kháng chiến cũng như
trong thời bình hiện nay. Dân
tộc VN, nhân dân VN vẫn
một lòng một dạ son sắt thuỷ
chung theo Đảng, theo Bác,
nước ngoài, tổ chức nước
ngoài ủng hộ chia sẻ về vật
chât và tinh thần cho những
mảnh đời bất hạnh .
Trong suốt những
năm qua cả nước phát động
phong trào học tập và làm
theo tấm gương đạo đức
HCM. Nhiều cuộc thi kể
chuyện về tấm gương đạo
đức HCM với những câu
chuyện giản dị nhưng thắm
đượm nhân sinh quan cách
mạng, tình cảm đạo đức tốt
đẹp của Bác dành cho dân
tộc Việt Nam, mộc mạc,
giản dị nhưng rất thanh cao,
gần gũi đời thường nhưng
rất hiện đại …Phải nói rằng
HCM là tấm gương sáng về
đạo đức, là ánh hào quang
luôn toả sáng trên nền trời
đất Việt .
Tuy vậy, xem xét
đời sống đạo đức trong
Đảng, nhà nước và xã hội ta
hiện nay nổi lên nhiều vấn
đề cần quan tâm: tệ nạn tiêu
cực xuất hiện ngày càng phổ
biến trong một bộ phận cán
1 điển hình) Những tệ nạn
ấy trở thành nguy cơ "Tự
diễn biến" từ bên trong,
không thể coi thường.
Nguyên nhân chủ yếu của
những tệ nạn đó là do chủ
nghĩa cá nhân phát triển.
Cán bộ, đảng viên chưa
gương mẫu rèn luyện về
phẩm chất đạo đức; tự phê
bình và phê bình, sửa chữa
khuyết điểm chưa nghiêm
túc; đấu tranh chống các tệ
nạn chưa quyết liệt, nói
mạnh làm nhẹ, nặng với tội
nhỏ, nhẹ với tội to, nể nang
"ô dù" bao che cho nhau,
nói nhiều làm ít, nói nhưng
không làm, nói một đằng
làm một nẻo. Đặc biệt,
những tệ nạn ấy đã gây nên
những bất bình trong nhân
dân, làm giảm lòng tin của
nhân dân đối với đảng, với
nhà nước. Chúng ảnh hưởng
tiêu cực đến việc xây dựng đời
sống đạo đức lành mạnh của
nhân dân. Trong xã hội, khi đi
vào kinh tế thị trường đã xuất
nước của dân, do dân và vì dân;
làm cho đội ngũ cán bộ đảng
viên thật sự là cần kiệm liêm
chính chí công vô tư, thực sự là
người đầy tớ trung thành của
nhân dân.
16
Liên hệ: Qua nghiên
cứu, học tập tư tưởng HCM
về đạo đức cách mạng, đối
với bản thân tôi là CB,ĐV, Ủy
viên Chi ủy Chi bộ Báo Gia
Lai, càng thấm nhuần tư
tưởng đạo đức của Người; ra
sức học hỏi để nâng cao trình
độ chuyên môn, trình độ
nghiệp vụ, rèn luyện đối với
bản thân có lối sống lành
mạnh trong sáng. Trong công
việc hằng ngày của bản thân
thực hiện “nói đi đôi với làm,
tiết kiệm trong chi tiêu của
ban thân, gia đình cũng như
của đơn vị. Kiên quyết đấu
tranh có hiệu quả và thiết thực
đối với các phần tử tiêu cực,
tham nhũng, thoái hoá biến
chất, phai nhạt về lý tưởng
Tóm lại, Cuộc
sống đang đòi hỏi phải làm
trong sạch Đảng và làm
lành mạnh đời sống đạo
đức của XH. Hai mặt đó
phải tiến hành song song,
phải làm đến nơi đến chốn,
phải giành được những hiệu
quả thiết thực… Trong cuộc
đấu tranh này, Phải lấy việc
XD Đảng làm then chốt.
Đẩy mạnh cụoc vận động
chỉnh đốn Đảng hiện nay là
thực hiện nhiệm vụ then
chốt đó. Đó cũng là thực
hiện những điều căn dặn
mà Chủ tịch HCM đã để lại
trong di chúc trước lúc đi
xa.
MÔN CƠ Sở:
Văn hóa phát triển
Kế thừa trong quá
trình xây dựng nền văn hoá VN
hiện nay và sự vận dụng thực
tiễn của địa phương ?
*Hiện nay trong ngôn ngữ
tất cả các dân tộc trên thế giới đều
có khái niệm văn hóa, nhưng văn
dụng khác. Toàn bộ những sáng
tạo và phát minh đó tức là văn
hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của
mọi phương thức sinh hoạt cùng
với biểu hiện của nó mà loài
người đã sản sinh ra nhằm thích
ứng những nhu cầu đời sống và
đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Văn hoá, với tư cách là
một hiện tượng xã hội, chính là sự
phát triển của những năng lực bản
chất của con người, không ngừng
nâng cao trình độ làm chủ của
con người đối với tự nhiên, xã
hội, bản thân, nhằm thoả mãn nhu
cầu về sự hiểu biết, khám phá,
sáng tạo theo hướng ngày càng
vươn tới giá trị đích thực của
17
chân - thiện - mỹ. Hay nói
cách khác, văn hoá chính là
sự phát triển những năng lực
bản chất của con người
hướng tới các giá trị nhân
văn. Văn hoá xét đến cùng là
hoạt động tinh thần thuộc về
ý thức của con người, ý thức
xã hội. Với tư cách là một
chất, phổ biến, khách quan, tất
yếu vốn có bên trong sự vận động
và phát triển của các sự vật hiện
tượng; nó chỉ sự giữ lại, duy trì và
truyền lại những nhân tố tích cực,
những yếu tố hợp lý để tạo ra cơ
sở, tiền đề cho sự tồn tại của các
sự vật, hiện tượng đã có và cho sự
ra đời và phát triển của cái mới,
cái tiến bộ. Kế thừa là qui luật in
đậm tính đặc thù của văn hoá
trong sự phát triển của nó. Không
có kế thừa thì không có sự phát
triển văn hoá. Ngay cả trong sự
nghiệp xây dựng CNXH Mác và
Ăng Ghen đã từng lưu ý với
những người cộng sản rằng: Dại
dột là những ai không thấy được
giá trị văn hoá của thời kỳ Hy Lạp
cổ đại đối với CNXH vừa mới
chiến thắng trong việc xây dựng
lại đời sống của xã hội loài người.
Hay như Lênin đã từng nhắc nhở
những người cộng sản rằng: “Nền
văn hóa vô sản không phải từ trên
trời rơi xuống, nó không phải do những
người tự cho mình là nhà chuyên môn
về văn hóa vô sản phát minh ra... Nền
Sự kế thừa trong văn hoá được
thực hiện nhờ ngôn ngữ (tiếng nói và
chữ viết) của các dân tộc là cơ sở cực kỳ
quan trọng để giữ gìn phát triển văn hoá
các dân tộc. Sự kế thừa trong phát triển
văn hoá không chỉ có nghĩa là sử dụng
những di sản văn hoá tốt đẹp trong quá
khứ, trên cơ sở đó thúc đẩy sự sáng tạo
những giá trị văn hoá mới vừa mang
tính giải trí, vừa mang tính giáo dục và
vừa mang tính thẩm mỹ, hữu ích cho
con người. Cũng phải nhận thức được
sự kế thừa phát triển văn hoá là một qui
luật trong đó kế thừa truyền thống tốt
đẹp của dân tộc được xem là một trong
hai nội dung cơ bản nhất của sự kế thừa.
Sự kế thừa không chỉ kế thừa những giá
trị văn hoá cổ truyền của dân tộc mà còn
kế thừa những tinh hoa văn hoá của
toàn nhân loại. Cần phải hiểu rằng,
truyền thống chính là những giá trị văn
hoá tốt đẹp trong quá khứ và được lưu
truyền từ đời này sang đời khác, từ thế
hệ này sang thế hệ khác, từ quá khứ đến
hiện tại và tương lai mà không xa rời
với cội nguồn của nó. Song kế thừa
trong văn hoá cũng mang tính chất giai
cấp. Tuỳ theo lợi ích của giai cấp mà
những gía trị văn hoá cổ truyền nào cần
kế thừa phát huy hay xoá bỏ.
thừa truyền thống văn hóa tốt đẹp
của cha ông và tinh hoa văn hóa
nhân loại. Đó là sản phẩm của sự
kế thừa những tinh hoa của nền
văn hóa Trung Hoa, văn hóa Ấn
Độ, văn hóa Pháp, văn hóa các
nước Đông Âu cũng như các nền
văn hóa khác trên thế giới. Có
thể nói không kế thừa được tinh
hoa văn hóa nhân loại thì sẽ
không xây dựng được nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, và nếu
không kế thừa được truyền thống
văn hóa tốt đẹp của cha ông thì
cũng không thể có một nền văn
hóa Việt Nam đậm đà bản sắc. Vì
vậy Đảng ta đã xác định: “Bảo
tồn và phát huy truyền thống tốt
đẹp của dân tộc kết hợp với mô
hình giao lưu văn hóa với nước
ngoài, tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại để làm giàu đẹp thêm
nền văn hóa Việt Nam và góp
phần làm phong phú thêm nền
văn hóa nhân loại”.
Ngày nay, những cuộc xâm
lăng văn hoá vẫn tiếp diễn mạnh hơn,
tinh vi hơn, khi kinh tế phát triển theo
hướng toàn cầu hoá thì văn hoá ngoại
lai, văn hoá phương tây cũng tràn vào
lối, chính sách của Đảng phải
xuất phát từ thực tế, phải tôn
trọng quy luật khách quan. Năng
lực nhận thức và hành động theo
quy luật là điều kiện đảm bảo sự
lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Với
sự xác định ấy, chúng ta có thể
khẳng định rằng: Sự nghiệp xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có
thành công hay không trước hết
phụ thuộc vào việc chúng ta có
nắm vững và vận dụng đúng tính
quy luật và quy luật chung của sự
phát triển văn hóa hay không.
Liên hệ:
Gia Lai- một tỉnh thuộc
khu vực Tây Nguyên, hiện có trên
34 tộc người thiểu số sinh sống,
(trong đó dân tộc Jrai, và Bah Nar
là người bản địa của vùng đất
này) và họ đang sở hữu một nền
văn hoá tổng hoà, đa sắc màu và
đậm bản sắc dân tộc… Suốt trong
quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh nhà trong thời gian
qua các tộc người thiểu số của
tỉnh Gia Lai đã tích cực kế thừa
nền văn hoỏntuyền thống của cả
dân tộc VN, đồng thời cũng kế
nguyên từ thân cây lớn, là ché
rượu cần bên bếp lửa hồng, là
những công cụ sản xuất thô
sơ bằng đá, bằng đồng, là
những vòng bạc, vòng đồng
đeo ở cổ tay, chân trong
những ngày hỏi chồng, lễ
thỏa thuận và lễ cưới...
Những danh lam
thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh
Gia Lai như thác Phú Cường,
thác Khổng lồ, Biển Hồ... giá
trị văn hóa hữu hình ở Gia
Lai còn phải kể đến vườn
Quốc gia Kon Ka King, thác
Yaly hùng vĩ, Hồ A Yun Hạ,
Đồi thông Đăk Pơ còn in đậm
nét hoang dã. Giá trị vật thể ở
Gia Lai còn là những chứng
tích căn cứ kháng chiến làng
Stơ, của làng Kông Hoa quê
hương của những ngày đầu
"Đất nước đứng lên", là
đường mòn Hồ Chí Minh, là
chiến thắng An Khê, một đỉnh
cao của thời kỳ chống Pháp,
là chiến thắng Plei Me, đường
7… hào hùng với thời kỳ
chống Mỹ.
Giá trị văn hóa tinh
kẻ thù qua các lễ đâm trâu, lễ hội
Cồng Chiêng, múa khiên, múa
trống, là sự thủy chung trọn vẹn
trong tình yêu qua “bổ củi hứa
hôn” và “chiếc vòng cầu hôn”.
Giá trị văn hóa tinh thần
ở Tây nguyên còn được thể hiện ở
những kinh nghiệm thuần dưỡng
voi, ở những bài thuốc gia truyền
chữa bệnh, ở kỹ thuật đúc đồng để
chế tạo ra đàn đá và nhạc khí Cồng
Chiêng, là các nghệ nhân điêu khắc
qua các tượng nhà mồ của các tộc
người Jrai, Bah nar… là kỹ thuật
trang trí dệt nên những hoa văn
trên trang phục của dân tộc mình,
là tinh thần anh dũng, mưu trí tuyệt
vời qua những truyền thuyết Đam
San, Xing Nhã, Đia Đon, cũng như
các anh hùng thời nay như anh
hùng Núp, anh hùng Nơ Trang
Long... Được hội tụ lại trong làng
Kông Hoa (Huyện Kbang- quê
hương anh hùnh Núp) trong chiến
thắng An Khê, Plây Me… Giá trị
tinh thần còn đọng lại trong hàng
ngàn tục lệ của người Jrai, Bh
Nar… qua các ứng xử trong cộng
đồng, qua việc ăn, ở, mặc, giải trí,
trong việc cưới, tang, lễ nghi,tín
thuật tổng hợp, nó là kiến trúc, là
điêu khắc, là hội họa, là trang trí.
Theo quan niệm của người Jrai,
Bah Nar tại Gia Lai thì chết
không phải là hết mà là sự tiếp
tục của cụôc sống ở dạng khác để
rồi sẽ trở lại làm người cho nên
nhà mồ ở đây với lễ hội bỏ mả đã
hợp thành biểu tượng , hợp thành
bài ca đề cao sự sống bất diệt của
con người chứ không phải đền
đài, miếu mạo để thờ tự người
chết hay lăng tẩm để vĩnh viễn
hóa cái chết của một người, vật
nào đó như các dân tộc khác.
Giá trị văn hóa nghệ
thuật Tây nguyên còn thể hiện
trong nghệ thuật trang trí hoa
văn. Hoa văn cổ truyền Tây
nguyên không phải ra đời trong
phút chốc dưới ngòi bút của cá
nhân họa sĩ nào đó mà dần dần
được hiện hình qua cuộc sống lâu
dài của từng tộc người. Nhìn hoa
văn các dân tộc Tây nguyên
người xem rung động trước hình
khối, màu sắc không chỉ hiện
hình trên mặt vải mà còn có hoa
văn trên đồ đan lát (gùi, bồ), hoa
văn vẽ, khắc, thậm chí đục thủng
19
Tơ roi(chuyện kể các loai bao
gồm cả truyền thuyết, thần thoại,
ngụ ngôn), Blao(chuyện cười),
Hơri (hát đối đáp), Hơ
Amôn( trường ca), ngoài ra còn
có các loại văn vần dùng trong
các bài khấn, tế, phù chú như
somak, khia, Kơmưt, Tơdok,
Ninhmang.
Sự phát triển song song
giữa nhạc có lời (nhạc hát) và
nhạc không có lời (nhạc đàn)là
hiện tượng đáng lưu ý ở Gia Lai.
Âm nhạc và văn hóa dân gian
không thể tách lời nhau và tất cả
các thể loại văn học kể trên đều
được trình diễn bằng một hay
nhiều làn điệu. Các dân tộc Tây
nguyên không bao giờ "sáng tác"
văn học ngoài các làn điệu( thơ ca
dân gian)hay ngoài thể thức kể
diễn (văn xuôi dân gian). Chẳng
hạn, tùy theo nội dung cụ thể các
bài thơ giao duyên sẽ được hát
lên bằng một trong các làn diệu
Aroong, Brô-ông, lnhing, Sơtang
hay Srơ-di. Có thể nói phôn cờ-lo
Tây nguyên là cuốn sử dân tộc
núm là chêng và khi hợp đủ thành
bộ mới được gọi là ching chiêng.
Cồng chiêng có mặt
trong mọi nghi lễ cộng đồng cũng
như của từng gia đình, từ lễ hội
liên quan đến từng cá nhân, cộng
đồng cho đến những lễ hội
quan trọng trong một mùa
trồng tỉa của cư dân nông
nghiệp. Người Jrai và Bhnar
không đơn thuần chỉ coi cồng
chiêng là một loại nhạc cụ mà
còn là một linh khí, là
phương tiện giúp con người
giao tiếp với thần linh đồng
thời cũng là phương tiện để
chuyển tải thông tin nhanh
nhất giữa các buôn làng.
Trước đây, người
Jrai và Bhnar chỉ đánh cồng
chiêng khi gia đình hay cộng
đồng có việc. Nghe tiếng
chiêng, những người trong
làng, trong vùng hiểu ngay
rằng ở phía có tiếng chiêng
đang có việc gì để đến chia
buồn hoặc chung vui.
Trong nửa đầu thế
kỷ 20, cồng chiêng vẫn được
bản thân họ không đúc được
cồng chiêng. Những điều tra
khảo cổ học cũng như điền dã
dân tộc học trong vùng người
Gia Rai và Ba Na cho đến
nay vẫn không phát hiện thấy
trong phạm vi cư trú của họ
có nghề đúc đồng. Công cụ
đúc đồng duy nhất được tìm
thấy ở Gia Lai cho đến nay
chỉ có một mang (một mặt) khuôn
đúc rìu đồng nằm trong khu vực
giao tiếp giữa người Việt và người
Ba Na.
Phương pháp đánh cồng
chiêng theo truyền thống của người
Gia Rai là mỗi người đánh một
chiếc. Tiếng cồng chiêng vang lên
là âm thanh phối hợp ăn ý, nhịp
nhàng của cả một tập thể sử dụng
một bộ hay nhiều bộ cồng chiêng.
Ở cả người Gia Rai và Ba Na, cồng
chiêng chỉ do người đàn ông sử
dụng, chưa thấy trong trường hợp
nào có phụ nữ đánh cồng chiêng.
Không phải đến khi
UNESCO công nhận Không gian
văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
- thông tin Gia Lai đã chỉ đạo các
cấp tổ chức nhiều cuộc liên hoan
cồng chiêng theo chu kỳ: hai năm
một lần ở cấp xã và huyện, bốn
năm một lần ở cấp tỉnh. Ngoài ra là
nhiều cuộc liên hoan dành cho
thiếu nhi.
Năm 2003, Gia Lai đã tổ
chức cuộc liên hoan cồng chiêng
toàn tỉnh lần thứ VI, thu hút 22 đội
cồng chiêng với gần 700 nghệ
nhân tiêu biểu của các huyện, thị
xã, thành phố tham gia.
Trong những liên hoan
gần đây, Gia Lai đã mở rộng nội
dung theo hướng liên hoan nghệ
thuật dân gian để có thể thu hút
và bảo tồn thêm nhiều loại hình
văn hóa dân gian độc đáo khác
mà địa phương chưa có điều kiện
tổ chức những cuộc thi riêng
như: sử dụng các nhạc cụ cổ
truyền ngoài cồng chiêng, hát
dân ca, dệt thổ cẩm, điêu khắc gỗ
dân gian... Ðây là một trong số ít
biện pháp hữu hiệu nhằm duy trì
thường xuyên việc dạy và học
cồng chiêng tại cộng đồng.
Từ năm 1999, sau khi
hợp lực của cả cộng đồng để kế
thừa, bảo vệ và tôn vinh di sản
văn hóa vô cùng quý giá này.
Giao lưu trong quá trình
xây dựng nền văn hoá VN hiện
nay và sự vận dụng trong thực
tiễn của địa phương?
* Hiện nay trong ngôn
ngữ tất cả các dân tộc trên thế
giới đều có khái niệm văn hóa,
nhưng văn hóa là gì lại là vấn đề
không dễ cắt nghĩa vì nó là một
phạm trù đa nghĩa và tinh tế. Mỗi
một định nghĩa thường chỉ đề cập
đến một nét nào đó của bản chất
văn hóa mà thôi. Tuy nhiên, theo
quan điểm của chủ nghĩa Mác -
20
Lê nin thì văn hóa chỉ gắn liền
với con người và xã hội loài
người. Cội nguồn của sự tồn tại
và phát triển văn hóa là ở hoạt
động sáng tạo của con người. Đó
là hoạt động nhằm để hiểu biết,
khám phá và sáng tạo. Thực hiện
hoạt động đó con người vừa sáng
tạo ra bản thân mình với tư cách
là người vừa đồng thời sáng tạo ra
vươn tới giá trị đích thực của
chân - thiện - mỹ. Hay nói cách
khác, văn hoá chính là sự phát
triển những năng lực bản chất của
con người hướng tới các giá trị
nhân văn. Văn hoá xét đến cùng
là hoạt động tinh thần thuộc về ý
thức của con người, ý thức xã hội.
Với tư cách là một hình thái ý
thức xã hội, văn hoá có những
mối liên hệ biện chứng với các
hình thái ý thức xã hội khác và
tuân theo những qui luật chung
của đời sống xã hội. Cũng như
mọi hiện tượng tự nhiên và xã
hội, văn hoá luôn nằm trong quá
trình phát triển và biến đổi không
ngừng. Sự phát triển từ thấp đến
cao, sự thay đổi từ nền văn hoá
này sang một nền văn hoá khác là
hiện tượng thường xuyên xảy ra
trong lịch sử. Như chúng ta đã
biết, kế thừa di sản văn hóa không
có nghĩa là đóng khung trong di
sản, không chỉ có kế thừa
văn hóa truyền thống mà còn
phải biết kế thừa tinh hoa văn
hóa nhân loại, cho nên kế
thừa văn hóa không tách rời
những cái hay, cái đẹp của
văn hoá bạn (hay nền văn hoá
khác).
Giao lưu văn hóa là
quy luật phát triển của văn
hóa bởi vì giao lưu văn hóa là
cả một quá trình dung hợp,
tích hợp những cái đúng, cái
tốt, cái đẹp, cái hữu ích, cái
hợp lý, tiến bộ, tích cực của
các nền văn hóa các dân tộc
trong một cộng đồng quốc
gia; giữa nền văn hóa dân tộc
này với nền văn hóa của dân
tộc khác, nó vừa nâng cao
được văn hóa truyền thống,
vừa khắc phục được sự hẫng
hụt của nền văn hóa cổ
truyền, nó làm cho các nền
văn hóa ngày càng xích lại
gần nhau, tạo ra được những
điều kiện khả thi để nhân dân
và các dân tộc trên thế giới
cùng đấu tranh thực hiện
những khát vọng mà loài
người xưa nay hướng tới: hòa
bình, độc lập, tự do, dân chủ,
công bằng, bác ái, cái chân,
cái thiện, cái mỹ, cái hữu ích.
Tuy nhiên trong giao lưu
văn hoá sẽ có cac stính huống sau
xảy ra, đó là trong quá trình giao
lưu rất có thể làm cho các dân tộc
thấy có nét tương đồng và xích lại
gần nhau hơn, hiểu biết thêm về
nhau – đây là tình huống vô cùng
quan trọng của giao lưu. Bên cạnh
đó, giao lưu cũng có thể dẫn đến
sự xung đột, va chạm với nhau
cũng có thể xảy ra tình huống bị
đồng hoá từ quá trình giao lưu văn
hoá.
Nhận thức sâu sắc quy luật
này từ trước đến nay, Đảng ta đã
đề ra đường lối: Kế thừa truyền
thống văn hóa tốt đẹp trong cộng
đồng các dân tộc Việt Nam, mở
rộng giao lưu văn hóa với nước
ngoài, tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại để “làm giàu đẹp thêm
nền văn hóa dân tộc” và “góp phần
làm phong phú thêm nền văn hóa
của nhân loại”.
Tuy nhiên chúng ta giao
lưu văn hóa với nước ngoài trong
thời kỳ bùng nổ thông tin, trong
thời đại quốc tế hóa kinh tế do các
tập đoàn tư sản mại bản chi phối
cũng như trước âm mưu “diễn biến
- Thực tiễn đương đại đã
cho thấy rằng trong quá trình hội
nhập, giao lưu văn hóa nhiều nền
văn hóa dân tộc đã đánh mất đi
bản sắc văn hóa của dân tộc
mình, nhiều dân tộc đã trở thành
bóng mờ của dân tộc khác, thậm
chí không còn tồn tại với tư cách
là văn hóa dân tộc. Để giữ gìn và
phát huy được bản sắc dân tộc
trong điều kiện nền kinh tế thị
trường, đứng vững trước xu thế
toàn cầu hóa kinh tế, đánh bại âm
mưu “diễn biến hòa bình” của
các thế lực thù địch thiết nghĩ
cần nắm vững 3 nguyên tắc sau
đây:
+ Giữ vững tính độc lập
tự chủ trong giao lưu văn hóa và
hợp tác quốc tế về văn hóa, hòa
nhập nhưng nhất định không thể
hòa tan. sự giao lưu phải mặng
mà, sâu sắc.
+ Không đóng cửa khép
kín nhưng cũng không được
buông lỏng và tùy tiện trong lãnh
đạo, quản lý. Tạo môi trường
bình đẳng, hai chiều (tuyệt đối
tránh sự áp đặt trong giao lưu văn
hoá).
vững và vận dụng đúng tính quy
luật và quy luật chung của sự phát
triển văn hóa hay không.
Liên hệ: Gia Lai- một tỉnh
thuộc khu vực Tây Nguyên, hiện
có trên 34 tộc người thiểu số sinh
sống, (trong đó dân tộc Jrai, và
Bah Nar là người bản địa của
vùng đất này) và họ đang sở hữu
một nền văn hoá tổng hoà, đa sắc
màu và đậm bản sắc dân tộc…
Suốt trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh nhà trong
thời gian qua các tộc người thiểu
số của tỉnh Gia Lai đã tích cực kế
thừa và giao lưu với nhiều nền
văn hoá truyền thống của cả dân
tộc VN và các dân tộc khác trên
thế giới, đồng thời cũng kế thừa
và giao lưu có chọn lọc những di
sản văn hoá của dân tộc mình để
hôm nay, khi đến với Gia Lai, tìm
hiểu về nền văn hoá của các dân
tộc thiểu số ở đây rất nhiều nhà
nghiên cứu văn hóa đã có “kết
Luận” tạm thời rằng tại đây nền
văn hoá của những tộc người
thiểu số dường như phần nào đã
xích lại gần hơn với văn hoá
chung của dân tộc VN, đồng thời
những ngày hỏi chồng, lễ
thỏa thuận và lễ cưới... Tuy
nhiêu trong quá trình giao lưu
với các nền văn hoá khác,
hiện nay đến với các buôn
làng của người Jrai, Bah Nar
ở Gia Lai chúng ta thấy xuất
hiện rất nhiều những ngôi nhà
xây kiểu Thái, khang trang,
đẹp mắt với đầy đủ tiện nghi
hiện đại, điều này nói lên sự
no đủ, phát triển của các tộc
người thiểu số nhưng mặt
khác nét văn hoá của họ đã
không còn. Thậm chí khi tổ
chức đám cưới cho con cháu
đa số họ cũng không còn thực
hiện các lễ nghi của dân tộc
mình nữa mà vận dụng kiểu
“đám cưới theo đời sống
mới” cũng làm rạp, viết thiệp
mời và đặt tiệc từ nhà hàng
mang đến, không còn cõng
củi để dành đến lúc bắt
chồng, không còn đem của
hồi môn như vòng, váy,
chăn… sang nhà trai, không
còn chờ Già làng tuyên bố
thành vợ thành chồng… Đây
chính là sự đồng hoá rõ nét
là tinh thần bao dung hòa đồng
trong quan niệm hoang sơ “thiên,
địa, nhân”, là tinh thần thượng võ
trong đấu tranh với thiên nhiên, với
kẻ thù qua các lễ đâm trâu, lễ hội
Cồng Chiêng, múa khiên, múa
trống, là sự thủy chung trọn vẹn
trong tình yêu qua “bổ củi hứa
hôn” và “chiếc vòng cầu hôn”.
Những giá trị văn hoá tinh thần
này, hiện vẫn còn nhưng cũng đã
có nhiều thay đổi đáng kể những
phẫn lễ rườm rà, tốn kém đang dần
được loại bỏ, thay vào đó chỉ là
những hình thức tượng trưng,
tượng hình… Đồng thời, tại một số
nới của buôn làng Gia Lai còn xuât
shiện một số tôn giáo khác làm họ
bỏ quên những phong tục tập quán
do cha ông để lại, họ không còn tổ
chức lễ hội, không tham gia sinh
hoạt cộng đồng, không đến nhà
rông, không uống rượu cần và
thậm chí không còn múa xoang và
diễn tấu công chiêng nữa.
Giá trị văn hóa tinh thần
ở Tây nguyên còn được thể hiện ở
những kinh nghiệm thuần dưỡng
voi, ở những bài thuốc gia truyền
chữa bệnh, ở kỹ thuật đúc đồng để
như đàn Goong, loại gẩy như đàn
Brô hay nhạc cụ hơi như Đinh
Duk, Klonput, Đinh khan,
Đinhtuk hoặc nhạc cụ tự thân
vang như đàn t’rưng, chiêng
Kial, Khinh Khung, Klong Klai
hay các laọi trống Sơgơr(trống
nhỏ đeo trước ngực)và trống Pơ
Nông(trống lớn treo lên hoặc
khiêng đi để đánh).
Kiến trúc Tây nguyên
trước hết phải nói đến kiến trúc
nhà mồ. Tuy nó là kiến trúc dân
gian thuộc loại không lớn nhưng
có thể nó không có một dạng
kiến trúc nào của Tây nguyên lại
có thể so sánh với nó về giá trị
nghệ thuật kiến trúc và giá trị
nghệ thuật tạo hình. Nhà mồ là
sản phẩm kết tinh của nhiều loại
hình nghệ thuật, là tác phẩm
nghệ thuật tổng hợp, nó là kiến
trúc, là điêu khắc, là hội họa, là
trang trí. Theo quan niệm của
người Jrai, Bah Nar tại Gia Lai
thì chết không phải là hết mà là
sự tiếp tục của cụôc sống ở dạng
khác để rồi sẽ trở lại làm người
cho nên nhà mồ ở đây với lễ hội
bỏ mả đã hợp thành biểu tượng ,
tuy giản dị nhưng lại đậm đà tinh
tế. Hoa văn Tây nguyên chủ yếu
là hoa văn hình họa.
22
Giá trị phi vật thể thành
văn và không thành văn của văn
hóa các tộc người thiểu số của
Gia Lai chủ yếu là văn hóa dân
gian khuyết danh và truyền
miệng, đó là phôn cờ-lo, còn văn
hóa bác học về các tác giả, tác
phẩm lớn, các nhà văn hóa thì vẫn
còn khiêm tốn. Về mặt hình thái
học, tính diễn xướng là đặc trưng
cơ bản của phôn cờ-lo vì nó quy
định những cách kết hợp khác
nhau của các phương tiện diễn tả.
Văn hóa dân gian ở đây có các
thể loại như Tơpun( đồng giao),
Pơ đuk( ca dao, tục ngữ, thành
ngữ). Avòng(giao duyên), Tơ
roi(chuyện kể các loai bao gồm cả
truyền thuyết, thần thoại, ngụ
ngôn), Blao(chuyện cười), Hơri
(hát đối đáp), Hơ Amôn( trường
ca), ngoài ra còn có các loại văn
vần dùng trong các bài khấn, tế,
phù chú như somak, khia, Kơmưt,
nhiên, không phải ở đâu cồng
chiêng cũng có vị trí quan trọng
trong đời sống tinh thần con
người như với cư dân Tây
Nguyên. Ðối với người Jrai và
Bhnar ở Gia Lai, cho đến hôm
nay, cồng chiêng là một phần
không thể thiếu trong đời sống
của đồng bào.
Ở Gia Lai, cồng
chiêng được người Gia Rai
gọi là ching, người Ba Na gọi
là ching chêng. Tuy nhiên ở
mỗi nhóm địa phương cũng
còn có những cách gọi khác
nhau: Người Gia Rai Chor
(vùng Ayun Pa, Ia Pa) gọi là
Ching dù chỉ có một chiếc
hay trọn bộ; nhưng người Gia
Rai Aráp (ở Chư Pah) chỉ gọi
những chiếc không có núm là
ching, có núm là chêng và khi
hợp đủ thành bộ mới được
gọi là ching chiêng.
Cồng chiêng có mặt
trong mọi nghi lễ cộng đồng
cũng như của từng gia đình,
từ lễ hội liên quan đến từng
cá nhân, cộng đồng cho đến
có nhiều ché, nhiều chiêng.
Cho đến những năm
đầu giải phóng, còn thấy mỗi
buôn làng Jrai và Bhnar đều
có ít nhất vài ba bộ cồng
chiêng, làng giàu, số cồng
chiêng có thể lên tới hàng
chục bộ như ở Broái huyện Ia
Pa (của người Gia Rai) hay
Pei Mơ Hra, xã Kông Lơng
Khơng, huyện KBang (của
người Ba Na)... nhưng đến
năm 1999, kết quả khảo sát
của các phòng văn hóa -
thông tin cấp huyện cho biết: toàn
tỉnh Gia Lai chỉ còn 5.117 bộ cồng
chiêng (trong tổng số hơn 900 làng
dân tộc Jrai và Bhnar). Cho đến
nay, con số này chắc chắn còn
giảm nhiều trong cơ chế thị trường
đầy thách thức.
Người Jrai và Bhnar sử
dụng cồng chiêng nhưng bản thân
họ không đúc được cồng chiêng.
Những điều tra khảo cổ học cũng
như điền dã dân tộc học trong vùng
người Gia Rai và Ba Na cho đến
nay vẫn không phát hiện thấy trong
MÔN CƠ Sở:
Tôn Giáo:
Đồng chí hãy phân tích
quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin về những nguyên tắc của
người cộng sản đối với tôn giáo.
Liên hệ vấn đề này trong công
tác tôn giáo ở địa phương?
đã phối hợp với Viện Nghiên cứu
âm nhạc Việt Nam tổ chức Liên
hoan và hội thảo khoa học về
cồng chiêng cấp tỉnh. Ðây là
cuộc hội tụ lớn đầu tiên của cồng
chiêng Tây Nguyên và cũng là
cuộc hội ngộ đầu tiên của các
nhà nghiên cứu, các nhà quản lý
văn hóa về âm nhạc và văn hóa
cồng chiêng trong cả nước để
đưa ra những kết quả nghiên cứu,
đánh giá giá trị cồng chiêng trên
các mặt: âm nhạc, văn hóa, sức
sống... trong đời sống của cộng
đồng các dân tộc Tây Nguyên...
Năm 1986, Sở Văn hóa
- Thông tin Gia Lai - Kon Tum
đã xuất bản cuốn kỷ yếu Nghệ
thuật cồng chiêng với 25 tham
luận khoa học và 17 bài phát biểu
của đại diện nhiều cơ quan trung
đối tượng nghiên cứu của
các trào lưu triết học mà còn
là đối tượng của nhiều ngành
khoa học khác.
Triết học MLN
nghiên cứu tôn giáo chủ yếu
mà địa phương chưa có điều kiện
tổ chức những cuộc thi riêng như:
sử dụng các nhạc cụ cổ truyền
ngoài cồng chiêng, hát dân ca, dệt
thổ cẩm, điêu khắc gỗ dân gian...
Ðây là một trong số ít biện pháp
hữu hiệu nhằm duy trì thường
xuyên việc dạy và học cồng
chiêng tại cộng đồng.
Từ năm 1999, sau khi
tiến hành điều tra để nắm sơ bộ số
lượng cồng chiêng hiện còn tại
các buôn làng, sở đã chỉ đạo các
huyện, xã triển khai ngay việc
thành lập các đội văn nghệ quần
chúng, các đội cồng chiêng tại
các buôn làng. Ðến nay, Gia Lai
có hơn 500 đội văn nghệ quần
chúng, trong số đó có khoảng 300
đội cồng chiêng. Ðây là lực lượng
quan trọng, đóng góp tích cực vào
việc bảo tồn văn hóa cồng chiêng.
Nghệ thuật cồng chiêng
người, của những lực lượng
bên ngoài chi phối đời sống
hàng ngày của họ, chỉ là sự
23
phản ánh trong đó những thế lực
trần thế đã mang hình thức những
lực lượng siêu trần thế. Đơ-khiêm
phát hiện ra yếu tố cơ bản cái cặp
đôi của tôn giáo đó chính là cái thế
tục và cái thiêng liêng. CN-MLN
cho rằng về bản chất t/g chỉ là 1
hình thái ý thức xh, phản ánh tồn
tại xh.
Năm 1943 các Mác đề cập
đến bản chất 2 mặt của t/g:
Sự nghèo nàn của tôn
giáo, một mặt phản ánh sự nghèo
nàn của hiện thực, mặt khác phản
kháng chống lại sự nghèo nàn
của hiện thực hiện đó.
Tôn giáo là tiếng thở dài
của chúng sinh bị áp bức, là trái
tim của thế giới không có trái
tim, cũng như nước là tinh thần
trong xh không có tinh thần, tôn
giáo là thuốc phiện của nd.
tiện để duy trì ách thống trị của
mình đó là những nguyên nhân ra
đời và tồn tại của tôn giáo. Như
vậy bên cạnh những l2 tự nhiên
còn có cả những l2 xh tác động.
+Nguồn gốc nhận thức
của tôn giáo: ở một gđoạn lsử
nhất định thì sự nhận thức của
con người về tự nhiên, xã hội và
chính bản thân mình là có giới
hạn. Chức năng khoa học là biến
những điều chưa biết thành ra
biết, song ở thời kỳ lịch sử cụ thể
thì khoảng cánh giữa biết và
chưa biết vẫn tồn tại. Điều gì
khoa học chưa giải thích được thì
điều đó tôn giáo sẽ thay thế.
Nguồn góc nhận thức căn cứ tôn
giáo còn gắn liền với đặc điểm
của quá trình phức tạp đầy mâu
thuẩn. Sự nhận thức bị tuyệt đối
hóa sẽ dẫn đến tính khách quan
mất dần cơ sở trần thế để trở
thành siêu nhiên thần thánh.
+Nguồn gốc tâm lý
của tôn giáo: Vấn đề ảnh
hưởng tâm lý, tình cảm của
con người đối với sự ra đời
và tồn tại của tôn giáo đã
cũng như qua tính ngưỡng
tôn giáo.
Tín ngưỡng của tôn giáo đã
đáp ứng nhu cầu tinh thần
của một bộ phận nhân dân,
góp phần bù đắp vào những
hụt hững trong cuộc sống,
nổi trống văng trong tâm
hồn, an ủi, vỗ về, xoa dịu
con người lúc sa cơ lỡ vận
hay bệnh tật hiểm nghèo vì
thế tôn giáo dù chỉ là hp hư
ảo song người ta vẫn cần đến
nó và vẫn cảm thấy “hạnh
phúc” chừng nào chưa có hp
thực sự, là trái tim của thế
giới không có trái tim, cũng
giống như nó là tinh thần
của những đ/k xã hội không
co tinh thần”.
-Tính chất của tôn
giáo:
+Tính chất lịch sử:
Con người sáng tạo ra t/g,
nhưng không phải tôn giáo
xuất hiện cùng với con người.
Trãi qua quá trình ls lâu dài khi
khả năng trịu tượng hóa của
con người đạt đến mức độ nhất
Tính quần chúng của tg không
chỉ biểu hiện ở một số lượng
tín đồ các tg chiếm tỷ lệ cao
trong dân số thế giới mà còn ở
chổ t/g đáp ứng nhu cầu tinh
thần của đa số quần chúng
NDLĐ. Hiện nay trên thế giới
có gần 85% dân số là hữu thần
trong đó có 1 số nước người
dân theo đạo hầu như tuyệt
đối: Ở ý 97,7%; Thụy sỹ
98,8%; Hy lạp 97,3% tôn giáo
đã và đang tồn tại và vì thực tại
xh vẫn còn nhiều hụt hửng bất
công, con người tìm đến tg để
bù vào khoảng thiếu hụt đó
nên nó sẽ vẫn tồn tại và phát
triển để đáp ứng nhu cầu đời
sống tinh thần của người dân.
Dù tăng cường hướng con
người hy vọng vào hp hư ảo
thế giới bên kia nhưng nó có
tính nhân văn, nhân đạo và
hướng thiện nên nó luôn phản
ánh khát vọng của những
người bị áp bức về một xã hội
tự do bình đẳng bác ái về một
cỏi cực lạc nào đó nên vẫn còn
24
phức tạp, t/c ngày càng chặt chẽ,
rộng lớn. Đó là nhiều tổ chức quốc
tế với vai trò, thế lực, tài lực tác
động đến tư tưởng, tâm lý, đời sẳn
sàng kt, ct, xh trên toàn thế giới. Do
vậy cần nhận thức rõ trên thực tế tg
đã và đang bị thế lực ct xh lợi dụng
để thực hiện mục đích ngoài t/g là
nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần.
Vì thế cần đtranh chống lại những
kẻ lợi dụng t/g để thực hiện âm
mưu ct hay hoạt động Mê tín dị
đoan “buôn thần bán thánh” mưu
cầu lợi ích cá nhân.
-Các chức năng của tôn
giáo:
+Chức năng đền bù hư ảo:
“tôn giáo là trái tim của thế giới
không có trái tim, cũng như nó là
tinh thần của đk xh không có tinh
thần”. Tôn giáo có chức năng đặc
biệt đó là chức năng đền bù hư ảo
trước những bất lực của con người,
của quần chúng nhân dân bị áp bức.
Fovớt lại cho tôn giáo là sự thăng
hoa của trạng thái con người bị dồn
nén, theo ông nhờ sự an ủi của t/g
lòng người cảm thấy ấm áp trong
t/g tối tăm và cơ thể khắc phục
được sự lo âu, sợ hãi vớ vẫn, với
chung một niềm tin, cùng bị ràng
buộc lối giác lý, giáo luật, cùng
thực hiện một số nghi thức t/g và
những điểm tương đồng khác. Sự
liên kết giữa các cộng đồng t/g
rất chặt chẽ và lâu bền. Tuy nhiên
đôi khi t/g bị lợi dụng cho âm
mưu chia rẽ, phá hoại khối đại
đoàn kết dân tộc. Vì vậy bên
cạnh chức năng liên kết, t/g cũng
có khả năng bị phân ly vì sự khác
biệt tín ngưỡng.
Về phương diện thế giới quan,
thế giới quan duy vật Mác xít và
thế giới quan t/g là đối lập nhau.
Tuy vậy nhìn chung trong thực
tiển những người cộng sản có lập
trường duy vật Mác xít không có
thái độ xem thường hoặc phủ
nhận nhu cầu tín ngưỡng của
quần chúng. Năm 1944 các Mác
đã viết “CN vô hần với tư cách là
sự phủ định tính h đồng nhất đó,
không còn ý nghĩa gì nữa, bởi vì
CN vô thần là phủ nhận Thượng
đế và đặt làm định đề sự tồn tại
của con người thông qua sự phủ
định đó: Những CNXH như
chính nó không cần đến cầu nối
đó:
thận trọng, tỉ mỉ, chuẩn xác,
vừa đòi hỏi giữ vững nguyên
tắc đồng thời phải mềm dẻo,
linh hoạt đúng như tinh thần
của CNMLN, tư tương HCM
và quan điểm của đảng ta là:
không “tuyên chiến” với tôn
giáo mà tôn trọng quyền tự
do tín ngưỡng và không tín
ngưỡng của nhân dân. Đi đôi
với việc đấu tranh chống
những biểu hiện tả khuynh
cần phải đấu tranh chống cả
những biểu hiện hữu khuynh
khi giai quyết vấn đề tôn
giao. Giải quyết vấn đề tôn
giáo trong XH XHCN cần
dựa trên mấy nguyên tắc
sau:
Một là, khắc phục
dần những ảnh hưởng tiêu
cực của tôn giáo gắn liền với
quá trình cải tạo XH cũ, xây
dựng XH mới.Hướng con
người vào việc xây dựng
một xã hội tốt đẹp, chăm lo
đời sống vật chất, tinh thần
cho nhân dân, cần khai thác
và phát huy tiềm năng của
đồng bào các tôn giáo vì
đựoc nhà nước thừa nhận đều
bình đẳng trước pháp luật .
Cần phát huy những nhân tố
tích cực của tôn giáo như giá
trị đạo đức, chủ nghĩa nhân
đạo, tinh thần yêu nước.
Nghiêm cấm mọi hành vi xâm
phạm đến tự do tín ngưỡng của
công dân, đồng thời chống lại
những phần tử cơ hội lợi dụng
tôn giáo để hoạt động đi ngược
lại với lợi ích của dân tộc.
Ba là, thực hiện đoàn kết
toàn dân, đoàn kết những người
theo hoặc không theo một tôn giáo
nào, đoàn kết giữa các tôn giáo
khác nhau . Đoàn kết toàn dân xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghiêm
cấm các hành vi chia rẽ khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ đoàn
kết tôn giáo vì lý do tôn giáo.
Thông qua quá trình xây dựng
XHCN đem lại hạnh phúc " thực"
để quần chúng có Tôn giáo xa dần
hạnh phúc " hư ảo" của Tôn giáo.
Không được tuyên chiến với tôn
giáo vì tuyên chiến với tôn giáo là
tuyên chiến với nhân dân làm cho
nhân dân xa lánh CNXH và kẻ thù
lợi dụng chống phá CNXH
tôn giáo. Ở những thời kỳ lịch sử
khác nhau , vai trò tác động của
từng tôn giáo đối với đời sống xã
hội khác nhau. Quan điểm, thái độ
của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân
về các lĩnh vực của đời sống xã hội
luôn có sựkhác nhau. Vì vậy cần có
quan điểm lịch sử cụ thể khi xem
xét, đánh giá và ứng xử với những
vấn đề có liên quan đến tôn giáo.
Trên cơ sở nền tảng
CNMLN và tư tưởng HCM, qua
các giai đoạn cách mạng, Đảng và
Nhà nước ta luôn xác định công tác
tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý
nghĩa rất quan trọng.
Trong cách mạng dân tộc
dân chủ, chính sách "tín ngưỡng tự
do, lương giáo đoàn kết" do Chủ
tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp
phần to lớn vào sự nghiệp đoàn kết
toàn dân kháng chiến thắng lợi,
giành độc lập thống nhất hoàn toàn
cho đất nước.
Trong cách mạng xã hội
chủ nghĩa, vấn đề tôn giáo có
những nội dung mới. Năm 1990,
Bộ Chính trị ra Nghị quyết 24 về
công tác tôn giáo, xác định "Tôn
giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài.