Đồ án tốt nghiệp
Đại học Mỏ - Địa chất
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Đinh Văn Sơn
1
Trắc địa mỏ - Công trình K57
Đồ án tốt nghiệp
Đại học Mỏ - Địa chất
DANH MỤC HÌNH ẢNH
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GNSS
GPS
BĐĐC
Đinh Văn Sơn
: Hệ thống vệ tinh dẫn đường toàn cầu
: Hệ thống định vị vệ tinh
: Bản đồ địa chính
ơn sâu sắc tới toàn thể cán bộ nhân viên trong xí nghiệp đã tận tình chỉ bảo và hướng
dẫn em làm thực nghiệm.
Do thời gian làm đồ án có hạn, nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vậy em
rất mong được Thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến để bản đồ án được tốt hơn.
Hà Nội, ngày tháng 06 năm 2017
Sinh viên thực hiện
(Ký Tên)
Đinh Văn Sơn
Đinh Văn Sơn
4
Trắc địa mỏ - Công trình K57
Đồ án tốt nghiệp
Đại học Mỏ - Địa chất
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là sản phầm tự nhiên, là nguồn tài nguyên quý giá mà thiên nhiên ban
tặng cho con người. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt có tầm quan trọng rất lớn đối
với môi trường sống của con người.
Cùng với quá trình phát triển của xã hội, việc sử dụng đất lâu dài đã làm nảy
sinh những vấn đề phức tạp liên quan đến đất đai như vấn đề chiếm hữu và sử dụng
đất, vấn đề phân phối và quản lý đất đai. Vì vậy, việc thành lập bản đồ địa chính là hết
sức cần thiết, giúp việc quản lý và sử dụng đất đai hiệu quả hơn, tạo cơ sở pháp lý để
Trắc địa mỏ - Công trình K57
Đồ án tốt nghiệp
Đại học Mỏ - Địa chất
- Phương pháp thu thập thông tin, thống kê, các tài liệu;
- Phương pháp nhiên cứu lý thuyết;
- Phương pháp đo đạc thực nghiệm, ứng dụng MicroStation và TMV-Map thành
lập bản đồ địa chính.
5. Đối tượng và phạm vi nhiên cứu
- Đối tượng: Ứng dụng phần mềm MicroStation và TMV-Map thành lập bản đồ
địa chính.
- Phạm vi: Thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1000 xã Đạp Thanh, huyện Ba
Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng cơ sở
khoa học, phương pháp luận trong việc ứng dụng phần mềm MicroStation và TMVMap thành lập bản đồ địa chính.
- Ý nghĩa thực tiễn: Việc ứng dụng phần mềm MicroStation và TMV-Map trong
công tác thành lập bản đồ địa chính sẽ nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm thời gian và
công sức lao động.
7. Bố cục
Mở đầu
Chương 1. Tổng quan về bản đồ địa chính
Chương 2. Tổng quan về phần mềm MicroStation và TMV-Map
Chương 3. Thực nghiệm ứng dụng phần mềm MicroStation và TMV-Map trong
thành lập bản đồ địa chính xã Đạp Thanh, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
Kết luận và kiến nghị
đồ địa chính với tỷ lệ khác nhau;
- Bản đồ địa chính thường xuyên được cập nhật các thay đổi hợp pháp của đất
đai, có thể cập nhật hàng ngày hoặc cập nhật theo định kỳ.
1.1.2. Vai trò của bản đồ địa chính
- Đăng ký đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở;
- Giao đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân và tổ
chức;
- Thống kê, kiểm kê đất đai;
- Xác nhận hiện trạng và theo dõi biến động về quyền sử dụng đất;
- Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cải tạo đất, thiết kế xây dựng các điểm
dân cư, quy hoạch giao thông, thủy lợi;
- Lập hồ sơ thu hồi đất khi cần thiết;
- Giải quyết tranh chấp đất đai.
Đinh Văn Sơn
7
Trắc địa mỏ - Công trình K57
Đồ án tốt nghiệp
Đại học Mỏ - Địa chất
1.1.3. Phân loại bản đồ địa chính
Bản đồ giấy địa chính: Là loại bản đồ truyền thống, các thông tin được thể hiện
toàn bộ trên giấy nhờ hệ thống ký hiệu và ghi chú. Bản đồ giấy cho ta thông tin rõ
ràng, trực quan, dễ sử dụng.
theo yêu cầu quản lý đất đai.
Đinh Văn Sơn
8
Trắc địa mỏ - Công trình K57
Đồ án tốt nghiệp
Đại học Mỏ - Địa chất
Cũng như các loại bản đồ chuyên đề khác, bản đồ địa chính có các đặc điểm và
những tính chất quan trọng của bản đồ là:
- Chọn tỷ lệ bản đồ địa chính phù hợp với từng vùng đất, loại đất;
- Bản đồ địa chính phải có hệ thống tọa độ thống nhất, có phép chiếu phù hợp
để các yếu tố trên bản đồ biến dạng nhỏ nhất;
- Thể hiện đầy đủ và chính xác các yếu tố không gian như vị trí các điểm, các
đường đặc trưng, diện tích các thửa đất;
- Các yếu tố pháp lý phải được điều tra, thể hiện chuẩn xác và chặt chẽ.
1.2. NỘI DUNG CỦA BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH
1.2.1. Các yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính được sử dụng trong quản lý đất đai là bộ bản đồ biên tập riêng
cho từng đơn vị hành chính cơ sở xã, phường, mỗi bộ bản đồ có thể gồm nhiều tờ bản
đồ ghép lại. Để đảm bảo tính thống nhất, tránh nhầm lẫn và dễ dàng vận dụng trong
quá trình thành lập, sử dụng bản đồ và quản lý đất đai, ta cần hiểu rõ bản chất một số
yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính và các yếu tố tham chiếu phụ trợ của chúng.
- Yếu tố điểm: Điểm là một vị trí được đánh dấu ở thực địa bằng dấu mốc đặc
biệt. Trong thực tế đó là các điểm trắc địa, các điểm đặc trưng trên đường.
số hiệu địa chính, số hiệu này thường được đặt theo thứ tự trên từng tờ bản đồ địa
chính. Ngoài số hiệu địa chính, các thửa đất còn có các yếu tố tham chiếu khác như địa
danh, tên riêng của khu đất, xứ đồng, lô đất, địa chỉ thôn, xã, đường phố. Số hiệu thửa
đất và địa danh thửa đất là yếu tố tham chiếu giúp cho việc nhận dạng, phân biệt thửa
này với thửa khác trên phạm vi địa phương và quốc gia.
Về nguyên tắc mọi sự thay đổi diện tích thửa đất sẽ kéo theo sự hủy bỏ số hiệu
thửa cũ của nó và việc thiết lập tương ứng các số hiệu mới cho các thửa đất được hình
thành từ việc thay đổi này.
- Thửa đất phụ: trên một thửa đất lớn có thể tồn tại các thửa đất nhỏ có đường
ranh giới phân chia không ổn định, có các phần được sử dụng vào các mục đích khác
nhau, trồng cây khác nhau, mức tính thuế khác nhau, thậm chí thường xuyên thay đổi
chủ sử dụng đất. Loại thửa nhỏ này được gọi là thửa đất phụ hay đơn vị phụ tính thuế.
Ví dụ: một thửa đất trong khu vực dân cư nông thôn do một chủ sử dụng có đất ở, ao
và vườn. Có thể phân chia các loại đất trong thửa chính tạo ra các thửa phụ.
- Lô đất: Là vùng đất có thể gồm một hoặc nhiều thửa đất. Thông thường lô đất
được giới hạn bởi các con đường, kênh mương, sông ngòi, … đất đai được chia lô theo
điều kiện địa lý như có cùng độ cao, độ dốc, theo điều kiện giao thông thủy lợi, theo
mục đích sử dụng hay cùng loại cây trồng.
- Khu đất, xứ đồng: Đó là vùng đất gồm nhiều thửa đất, nhiều lô đất. Khu đất và
xứ đồng thường có tên gọi riêng được đặt từ lâu đời.
- Thôn, bản, xóm, ấp: Đó là các cụm dân cư tạo thành một cộng đồng người
cùng sống và lao động sản xuất trên một vùng đất. Các cụm dân cư thường có sự gắn
kết mạnh về các yếu tố dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp.
- Xã, phường: Là đơn vị hành chính cơ sở gồm nhiều thôn, bản hoặc đường
phố. Đó là đơn vị hành chính có đầy đủ các tổ chức quyền lực để thực hiện chức năng
quản lý nhà nước một cách toàn diện đối với các hoạt động về chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội trong phạm vi lãnh thổ của mình. Thông thường bản đồ địa chính được đo
vẽ và biên tập theo đơn vị hành chính cơ sở xã, phường để sử dụng trog quá trình quản
lý đất đai.
1.2.2. Nội dung của bản đồ địa chính
- Ranh giới thửa đất, loại đất, số thứ tự thửa đất, diện tích thửa đất: Thửa đất là
yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính. Ranh giới thửa đất được thể hiện trên bản đồ bằng
đường viền khép kín dạng đường gấp khúc hoặc đường cong. Để xác định vị trí thửa
đất cần đo vẽ chính xác các điểm đặc trưng trên đường ranh giới thửa đất. Đối với mỗi
thửa trên bản đồ còn phải thể hiện đầy đủ 3 yếu tố là số thứ tự thửa, diện tích và phân
loại đất theo mục đích sử dụng.
- Nhà ở và công trình xây dựng khác: Chỉ thể hiện trên bản đồ các công trình
xây dựng chính phù hợp với mục đích sử dụng của thửa đất, trừ các công trình xây
dựng tạm thời. Các công trình ngầm khi có yêu cầu thể hiện trên bản đồ địa chính phải
được nêu cụ thể trong thiết kế kỹ thuật - dự toán công trình.
- Các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất: Cần thể hiện trên bản đồ
địa chính các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất như đường giao thông,
công trình thủy lợi, đê điều, sông, suối, kênh, rạch và các yếu tố chiếm đất khác theo
tuyến.
- Dáng đất hoặc điểm ghi chú độ cao: Khi đo vẽ bản đồ ở vùng đặc biệt còn
phải thể hiện dáng đất bằng các dường đồng mức hoặc ghi chú độ cao.
Dáng đất được biểu thị trên bản đồ địa chính bằng điểm ghi chú độ cao ở vùng
đồng bằng, đường bình độ đối với vùng đồi, núi hoặc bằng ký hiệu kết hợp với ghi chú
độ cao. Khi biểu thị dáng đất phải đảm bảo:
+ Phải ghi chú độ cao tại các điểm đặc trưng như đỉnh núi, trên đường phân
thủy, tụ thủy, ở yên ngựa, chỗ thay đổi độ dốc;
+ Phải thể hiện được dáng chung của địa hình trong toàn khu vực và các nét đặc
trưng của địa hình;
Đinh Văn Sơn
11
Trắc địa mỏ - Công trình K57
Đinh Văn Sơn
12
Trắc địa mỏ - Công trình K57
Đồ án tốt nghiệp
Đại học Mỏ - Địa chất
tích, kích thước và hình dạng của chúng theo tỷ lệ bản đồ. Loại ký hiệu này còn sử
dụng cả trong trường hợp địa vật được vẽ theo tỷ lệ mà ta muốn biểu thị thêm yếu tố
tượng trưng làm tăng thêm khả năng nhận biết đối tượng trên bản đồ. Ví dụ: tượng đài,
đền miếu nhỏ, trạm phát thông tin.
- Ký hiệu nửa theo tỷ lệ: Là loại ký hiệu dùng để thể hiện các đối tượng có thể
biểu diễn kích thước thực một chiều theo tỷ lệ bản đồ, còn chiều kia dùng kích thước
quy ước. Ví dụ: ký hiệu đường sắt, đường dây điện, dây thông tin, kênh mương nhỏ,...
Trong đó chiều dài tuyến vẽ theo tỷ lệ và dùng lực nét, màu sắc thể hiện chủng loại,
chất lượng địa vật.
Ghi chú: Ngoài các ký hiệu, người ta còn dùng cách ghi chú để biểu đạt nội
dung của bản đồ địa chính. Các ghi chú có thể chia ra làm hai nhóm là ghi chú tên
riêng và ghi chú giải thích.
Ghi chú tên riêng dùng để chỉ đơn vị hành chính, tên các cụm dân cư, các đối
tượng kinh tế, xã hội, tên sông hồ, tên núi, đồi, tên xứ đồng...
Ghi chú giải thích rất hay dùng trong bản đồ địa chính nhằm giảm thể hiện, giải
thích về phân loại đối tượng, về đặc trưng số lượng, chất lượng của chúng. Ghi chú
này dưới dạng viết tắt, giản lược ngắn gọn. Ví dụ: loại đất, loại nhà, mặt đường, hướng
dòng chảy.
* Vị trí các ký hiệu:
cơ sở phải thể hiện 3 màu và bản đồ địa chính cũng có thể dùng 3 màu mà mà không
nhất thiết phải chuyển thành một màu đen như công nghệ truyền thống.
1.3. QUY TRÌNH THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH
Phương án kỹ thuật đo đạc
thành lập bản đồ địa chính
Chuẩn bị tổ chức triển khai và
thu thập tư liệu
Thành lập lưới khống chế
Đo vẽ ngoài thực địa và điều tra thu
thập thông tin địa chính
Vẽ bản đồ nền khu đo
Nhập thông tin địa chính ban đầu
Chia mảnh bản đồ địa chính
Biên tập bản đồ địa chính và lập hồ
sơ kỹ thuật thửa đất
Các chủ sử
dụng xác định
ranh giới, diện
tích, loại đất
Kiểm tra và nghiệm thu
kết quả đo đạc
Biên tập bản đồ
địa chính
Lập các biểu thống kê
sổ mục kê tạm
Đinh Văn Sơn
thuộc trung ương nhằm đảm bảo giảm ảnh hưởng đến biến dạng về độ dài vè diện tích
đến các yếu tố thể hiện trên bản đồ địa chính. Điểm gốc của hệ tọa độ mặt phẳng (điểm
cắt giữa kinh tuyến trục của từng tỉnh và xích đạo) có tọa độ X = 0, Y = 500km;
- Lưới tọa độ địa chính và bản đồ địa chính được tính toán và thể hiện trong hệ
tọa độ VN – 2000, sử dụng phép chiếu UTM, múi chiếu 3 o, hệ số chiếu lên kinh tuyến
trục là mo = 0,9999. Kinh tuyến gốc (0o) được quy định là kinh tuyến đi qua đài thiên
văn Greenwich, London.
Các điểm tọa độ nhà nước hạng I, hạng II và điểm địa chính cơ sở được sử dụng
làm các điểm gốc trong xây dựng lưới tọa độ địa chính và lưới khống chế đo vẽ để
thành lập bản đồ địa chính các loại tỷ lệ. Khi sử dụng các điểm tọa độ nhà nước trong
xây dựng lưới tọa độ thành lập bản đồ địa chính cần chú ý những vấn đề sau:
- Xác định rõ tọa độ các điểm gốc thu thập được đã tính toán trong hệ tọa độ
nào, độ rộng múi chiếu và kinh tuyến trục múi chiếu. Nếu các yếu tố trên không đồng
Đinh Văn Sơn
15
Trắc địa mỏ - Công trình K57
Đồ án tốt nghiệp
Đại học Mỏ - Địa chất
nhất với hệ tọa độ địa chính của tỉnh, thành phố thì phải tính chuyển tọa độ về hệ tọa
độ địa chính của tỉnh, thành phố cần thành lập bản đồ địa chính;
- Chiều dài tất cả các cạnh của lưới tọa độ địa chính các cấp phải tính chuyển về
mặt quy chiếu độ cao nhà nước và mặt quy chiếu tọa độ phẳng UTM, múi chiếu 3 o, hệ
số chiếu trên kinh tuyến trục là mo = 0,9999 trước khi bình sau kết quả đo đạc và tính
Đinh Văn Sơn
16
Trắc địa mỏ - Công trình K57
Đồ án tốt nghiệp
Đại học Mỏ - Địa chất
- Khu vực đất chưa sử dụng: đối với khu vực đồi núi, khu duyên hải có diện tích
đất chưa sử dụng lớn thì chọn tỷ lệ đo vẽ cơ bản 1:10 000 hoặc 1:25 000;
- Đất chuyên dùng: thường nằm xen kẽ trong các loại đất nêu trên nên được đo
vẽ vè biểu thị trên bản đồ địac hính cùng tỷ lệ của khu vực đo vẽ;
- Khu vực đất lâm nghiệp đã quy hoạch, khu vực cây trồng có ý nghĩa công
nghiệp chọn tỷ lệ đo vẽ cơ bản là 1:1000 hoặc 1:5000[1].
1.4.3. Độ chính xác của bản đồ địa chính
Yếu tố cơ bản cần quản lý đối với đất đai đó là vị trí, diện tích và kích thước
các thửa đất. Các yếu tố này được đo đạc và thể hiện trên bản đồ địa chính. Độ chính
xác các yếu tố trên phụ thuộc vào độ chính xác kết quả đo đạc, độ chính xác thể hiện
độ chính xác của bản đồ và độ chính xác tính diện tích. Độ chính xác số liệu không
phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ mà phụ thuộc trực tiếp vào sai số đo đạc.
Độ chính xác của bản đồ địa chính thể hiện qua độ chính xác các yếu tô đặc
trưng sau:
- Sai số trung phương vị trí mặt phẳng của điểm khống chế đo vẽ, điểm trạm đo
so với điểm khởi tính sau bình sai không vượt quá 0,1mm tính theo tỷ lệ bản đồ cần
lập [2];
- Sai số biểu thị điểm góc khung bản đồ, giao điểm của lưới km, các điểm tọa
trên bản đồ địa chính dạng số so với khoảng cách trên thực địa được đo trực tiếp hoặc
đo gián tiếp từ cùng một trạm máy không vượt quá 0,2mm theo tỷ lệ bản đồ cần lập,
nhưng không vượt quá 4cm trên thực địa đối với các cạnh thửa đất có chiều dài dưới
5m.
Đối với đất nông nghiệp đo vẽ bản đồ địa chính ở tỷ lệ 1:1.000, 1:2.000 thì sai
số tương hỗ vị trí điểm của 2 điểm được phép tăng 1,5 lần.
- Vị trí các điểm mốc địa giới hành chính được xác định với độ chính xác của
điểm khống chế đo vẽ.
- Khi kiểm tra sai số phải kiểm tra đồng thời cả sai số vị trí điểm so với điểm
khống chế gần nhất và sai số tương hỗ vị trí điểm. Trị tuyệt đối sai số lớn nhất khi
kiểm tra không được vượt quá trị tuyệt đối sai số cho phép. Số lượng sai số kiểm tra có
giá trị bằng hoặc gần bằng (từ 90% đến 100%) trị tuyệt đối sai số lớn nhất cho phép
không quá 10% tổng số các trường hợp kiểm tra.
1.4.4. Phân mảnh bản đồ địa chính
* Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10.000
Mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10.000 được xác định như sau:
Chia mặt phẳng chiếu hình thành các ô vuông, mỗi ô vuông có kích thước thực tế
là 6 x 6 kilômét (km) tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10.000. Kích
thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10.000 là 60 x 60 cm,
tương ứng với diện tích là 3600 hécta (ha) ngoài thực địa.
Số hiệu của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10.000 gồm 08 chữ số: 02 số đầu là
10, tiếp sau là dấu gạch nối (-), 03 số tiếp là 03 số chẵn km của toạ độ X, 03 chữ số sau
là 03 số chẵn km của toạ độ Y của điểm góc trái phía trên khung trong tiêu chuẩn của
mảnh bản đồ địa chính.
Trục tọa độ X tính từ Xích đạo (0 Km). Trục tọa độ Y có giá trị 500 km trùng
với kinh tuyến trục của tỉnh.
* Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5.000
Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:10.000 thành 04 ô vuông, mỗi ô vuông có
kích thước thực tế là 3 x 3km tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5.000.
Kích thước khung trong tiêu chuẩn của mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5.000 là 60 x 60
19
Trắc địa mỏ - Công trình K57
Đồ án tốt nghiệp
Đại học Mỏ - Địa chất
Hình 1.4. Mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2000 được chia từ mảnh 1:5.000
* Mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1.000
Ví dụ: Mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1.000 có số hiệu là 725 500 – 6 – d.
724
a
b
c
d
723
502
503
Hình 1.5. Mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:1.000 được chia từ mảnh 1:2.000
Chia mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ 1:2.000 thành 04 ô vuông, mỗi ô vuông có
kích thước thực tế 0,5 x 0,5 km tương ứng với một mảnh bản đồ địa chính tỷ lệ
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
14
15
16
phép, thuận tiện cho quản lý và sử dụng.
Tọa độ các điểm góc khung bản đồ, của giao điểm lưới km, của các điểm khống
chế tọa độ Nhà nước, các điểm địa chính, các điểm khống chế đo vẽ, điểm trạm đo và
các điểm mia chi tiết phải được tính tọa độ ở múi 30 theo kinh tuyến trục cho từng
tỉnh, thành phố.
1.5. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO VẼ PHỔ BIẾN TRONG THÀNH LẬP BẢN ĐỒ
ĐỊA CHÍNH
1.5.1. Phương pháp toàn đạc
Là phương pháp sử dụng máy đo các giá trị góc, cạnh rồi sau đó xử lý bằng
phần mềm hoặc thủ công. Phương pháp này được ứng dụng để thành lập bản đồ địa
chính ở những khu vực đất ở đô thị, đất ở nông thôn, đất canh tác có mật độ, quy mô,
kích thước nhỏ hoặc những khu vực địa hình có độ dốc trung bình lớn. Đặc biệt,
phương pháp này cũng dễ dàng triển khai ở vùng đồi núi, khi các phương pháp đo vẽ
khác gặp khó khăn hoặc những nơi không có ảnh hàng không thỏa mãn các chỉ tiêu kỹ
thuật để thành lập bản đồ.
Hiện nay, trong phương pháp này người ta thường sử dụng máy toàn đạc điện tử
để đo vẽ bản đồ, đặc biệt những khu vực đô thị cần độ chính xác cao và độ chi tiết lớn
thì máy toàn đạc điện tử tỏ ra ưu việt hơn cả.
Đinh Văn Sơn
22
Trắc địa mỏ - Công trình K57
Đồ án tốt nghiệp
Đại học Mỏ - Địa chất
Hình 1.8. Công tác đo đạc sử dụng máy toàn đạc điện tử ngoài thực địa
được áp dụng cho những khu đo có diện tích lớn. Ví dụ: đo đất canh tác nông nghiệp,
đất rừng ven biển, đất đồn điền, đất thủy sản,...
Hiện nay trên thế giới có 4 hệ thống vệ tinh chính đang được sử dụng:
+ GPS : Hoa Kỳ phát triển
+ GALILEO : Liên minh Châu Âu (EU) phát triển
+ GLONASS : Liên bang Nga phát triển
+ COMPASS : Trung Quốc phát triển
Đinh Văn Sơn
24
Trắc địa mỏ - Công trình K57
Đồ án tốt nghiệp
Đại học Mỏ - Địa chất
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ PHẦN MỀM MICROSTATION VÀ TMV-MAP
2.1. PHẦN MỀM MICROSTATION
2.1.1. Giới thiệu phần mềm MicroStation
Hình 2.1. Giao diện khi vào làm việc với phần mềm
MicroStation là một phần mềm đồ họa trợ giúp thiết kế và là môi trường đồ hoạ
rất mạnh cho phép xây dựng, quản lý các đối tượng đồ hoạ thể hiện các yếu tố bản đồ.
Khả năng quản lý các dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính rất lớn, tốc độ khai thác
và cập nhật nhanh chóng phù hợp với hệ thống quản lý dữ liệu lớn. Do vậy, nó khá
thuận lợi cho việc thành lập các loại bản đồ địa hình, địa chính từ các nguồn dữ liệu và