Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao 靜 齋 小 草 摘 抄 là tập thơ tiêu biểu và
giàu giá trị trong văn học trung đại Việt Nam. Tập thơ là những tâm sự, nỗi
niềm, cảm xúc của nhà thơ trước cuộc đời, con người, thiên nhiên, đất nước...
Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao cũng chính là tư liệu quan trọng giúp người đọc
hiểu và có cái nhìn sâu sắc hơn về cuộc đời, con người cũng như những đóng
góp của tác giả cho lịch sử dân tộc và nền văn học nước nhà. Trong Di sản
Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu, quyển 3 tại thư viện Hán Nôm có
thông tin về 2 văn bản Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao: văn bản thứ nhất có kí
hiệu là VHv.104 chép trên 200 bài thơ chữ Hán và văn bản thứ hai có kí hiệu
A.2820 chép trên 60 bài thơ chữ Hán. Trong cuốn Danh nhân văn hóa Quảng
Bình (Vĩnh Nguyên – Vĩnh Tú) cũng trích dẫn và phiên dịch một số bài thơ
chữ Hán trong Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao nhưng không nhiều.Thậm chí
cuốn sách chỉ giới thiệu và trích một số câu thơ từ các bài thơ trong Tĩnh Trai
tiểu thảo trích sao. Từ đó cho thấy Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao chưa được
dịch và nghiên cứu nhiều nên những đóng góp của tác giả tập thơ này cho nền
văn học nước nhà phần nào còn bị hạn chế và chưa được biết đến một cách
trọn vẹn. Vì thế, những giá trị nội dung, nghệ thuật của tập thơ nói riêng và
tác giả của tập thơ cũng chưa được khai thác hết.
Thêm vào đó, Tĩnh Trai là tên hiệu được nhiều người đặt. Đã có rất
nhiều tác giả văn học cũng đặt tên hiệu của mình là Tĩnh Trai. Vì thế, việc xác
định tác giả của văn bản Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao là rất cần thiết. Mặc dù
có nhiều cuốn sách, bài báo, bài tiểu luận của các nhà nghiên cứu phê bình
văn học đã cho rằng thi tập Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao là của tác giả Nguyễn
Hàm Ninh. Tuy nhiên Nguyễn Hàm Ninh có đúng là tác giả của thi tập này hay
không? Đây cũng là một vấn đề cần được nghiên cứu, tìm hiểu và làm rõ hơn.
1
Trước tình hình đó, chúng tôi đã chọn đề tài “Khảo cứu văn bản Tĩnh
cũng trình bày rất rõ về cuộc đời, giai thoại và sự nghiệp văn thơ Nguyễn
Hàm Ninh: “Tuy đường làm quan gặp nhiều trắc trở, nhưng sự nghiệp văn
thơ của Nguyễn Hàm Ninh khá phong phú. Về thơ, mặc dù bị thất lạc nhiều,
hoặc bị bỏ đi do liên hệ với người bạn thân Cao Bá Quát (1809 – 1854),
chúng ta vẫn còn được đọc trên 200 bài thơ chữ Hán chép trong ba tập Tĩnh
Trai thi sao (bản sao thơ Tĩnh Trai), Nhâm Sơn thi tập (tập thơ Nhâm Sơn) và
Dược sư ngẫu đề (Đề vịnh ngẫu hứng khi làm thuốc), một bài văn tứ lục chữ
Nôm: Phản thúc ước. Ngoài ra, ông còn có một số thơ văn chữ Nôm khác
nữa.” (31, Tr. 1505)
- Bài viết với nhan đề Khí phách Nguyễn Hàm Ninh của tác giả Mai Văn
Hoan (10/08/2001) có đoạn viết: “Do tính khí cương trực nên quãng đời làm
quan của ông không mấy suôn sẻ, thăng giáng nhiều lần. Ông là bạn thân của
Cao Bá Quát, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm… Tác phẩm của ông gồm: Tĩnh
trai thi sao (chữ Hán) và bài Phản Thúc ước (chữ Nôm).
- Trong Danh nhân văn hóa Quảng Bình có đoạn giới thiệu: “Tuy đường
làm quan không được hanh thông như vậy, nhưng về mặt văn chương, Nguyễn
Hàm Ninh lại có một sự nghiệp không nhỏ. Hiện chúng ta không còn giữ
được trọn vẹn tập văn của ông, thật là đáng tiếc. Về thơ, mặc dù còn khá
nhiều bài bị thất lạc hoặc bị bỏ đi do liên hệ với người bạn thân Cao Bá
Quát, chúng ta vẫn được đọc gần 200 bài trong hai tập trích chép Tĩnh Trai
tiểu thảo trích sao hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Hán Nôm…(21, Tr.50)
Từ các bài viết trên cho thấy, lịch sử nghiên cứu về văn bản Tĩnh Trai
tiểu thảo trích sao còn quá sơ sài vì đa phần trong các cuốn sách, bài báo, tiểu
luận trên chỉ là các lời nhận định Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao là tác phẩm của
Nguyễn Hàm Ninh mà chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về
vấn đề văn bản Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao.
3
đó có 5 bài thơ được phiên dịch đầy đủ cả bài còn lại 12 bài thơ chỉ được trích
dịch một số câu. Còn trong cuốn Đời Tài Hoa, tác giả Nguyễn Đẩu Tiếp đã
phiên dịch một số bài thơ trong Tĩnh Trai thi tập nhưng qua khảo sát chúng
tôi chỉ thấy một bài duy nhất có trong Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao đó là bài
Bất kiến đã được phiên dịch. Sau đây là bảng thống kê các bài thơ đã được
phiên dịch trong Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao.
Bảng thống kê các bài thơ đã được phiên dịch trong Tĩnh Trai tiểu thảo
trích sao.
Stt
Tên tác phẩm
Số lượng
Người dịch
1
Thôn cư tức mục (IV)
4 câu
Lương An
2
Tức sự di chư đồng chí (I)
Lương An
2 câu
Lương An
8 câu (cả bài)
Đẩu Tiếp
2 câu
Lương An
thượngcông (II)
6
Xuân nhật phụng ký thương sơn
thượng công (III)
7
Cửu nhật vũ tình dữ Trần Minh
Phủ hạn vận
8
Bất kiến
9
2 câu
Lương An
14
Dĩ thi đại thủ trí vấn Hùng Sơn cư sĩ
4 câu
Lương An
15
Nhất bần
8 câu (cả bài)
Lương An
16
Cảm sơn tự yết Hy Văn Nguyễn Ông
8 câu (cả bài)
Lương An
5
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là văn bản Tĩnh Trai tiểu thảo
trích sao với các văn bản:
- Tĩnh trai tiểu thảo trích sao (Kí hiệu VHv.104 )
- Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao (Kí hiệu A.2820)
(Cả hai cuốn sách đề được lưu trữ tại Thư viện Hán Nôm)
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Với đối tượng được xác định như trên, luận văn triển khai phạm vi
nghiên cứu gồm:
- Khảo sát văn bản Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao
- Nghiên cứu về tác giả văn bản Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao: Tiểu sử,
cuộc đời, con người, quê hương, gia đình, sự nghiệp sáng tác (đặc biệt là thơ
ca) của Nguyễn Hàm Ninh
- Nghiên cứu những giá trị tiêu biểu của Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao như
giá trị nội dung, nghệ thuật, tư tưởng…
6
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp văn bản học
Phương pháp văn bản học được sử dụng chủ yếu trong quá trình khảo sát
văn bản nhằm xác định văn bản tốt nhất trong các dị bản thông qua các thao
tác sưu tầm, mô tả, khảo dị, thống kê, đối chiếu, lí giải, phiên dịch, chú
giải….Trên cơ sở khai thác văn bản, luận văn khai thác giá trị nội dung và
nghệ thuật các bài thơ của Nguyễn Hàm Ninh.
4.2. Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này dùng để thống kê số lượng bài thơ, thể loại… trong
Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao, số lượng các bài thơ đã được phiên dịch…làm
cơ sở chắc chắn cho những kết luận, nhận định về sau.
4.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp
成 人, 行 冠 禮 又 加 字, 合 稱 名 字. 後 來 在 字 之 外, 又 有號, 合 稱 名
號. 自 稱 用 名, 別 人 爲 表 示 禮 敬, 用 自 或 號 相 稱”. (Phiên âm: “Cổ
đại quý tộc thủy sinh hữu danh, nhị thập tuế thành nhân, hành quán lễ hựu gia
tự, hợp xưng danh tự. Hậu lai tại tự chi ngoại, hựu hữu hiệu, hợp xưng danh
hiệu. Tự xưng dụng danh, biệt nhân vi biểu thị lễ kính, dụng tự hoặc hiệu
xưng danh”. Dịch nghĩa: “Tầng lớp quý tộc thời xưa khi mới sinh thì đặt tên
(danh), hai mươi tuổi trưởng thành thì làm lễ đội mũ và đặt thêm tên chữ (tự),
gọi chung là danh tự. Về sau ngoài tên tự lại đặt tên hiệu, gọi chung là danh
hiệu” (14, Tr.5). Tên (danh) dùng để tự xưng, còn người khác muốn biểu thị
sự tôn kính người mình gọi, thường gọi bằng tên tự hoặc tên hiệu”). Tên
(danh) là tên riêng do ông bà, cha mẹ đặt cho. Tên chữ (tự) thường giải thích
và bổ sung cho danh. Tên tự được đặt khi đã thành niên và thường do cha mẹ
hoặc bề trên đặt cho, cũng có khi cho chính bản thân tự đặt. Tên hiệu là tên
gọi được đặt khi người ta đã thực sự trưởng thành. Trong giao tiếp, danh
thương dung trong trường hợp khiêm xưng hoặc trên gọi dưới. Tự và hiệu
dung trong trường hợp người dưới gọi người trên, hoặc những người ngang
8
hang nhau. Ngoài việc dùng trong giao tiếp, danh, tự, hiệu còn được dung để
đặt tên cho trước tác của một người nào đó. Sau này, không chỉ có tầng lớp
quý tộc mà cả các tầng lớp khác như quan lại, nho sĩ, các nhà văn, nhà
thơ…cũng đặt tên tự, tên hiệu và biệt hiệu.
Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, thời kỳ phong kiến,
các nhà văn, nhà thơ, nhà Nho, các bậc quan lại ngoài tên (danh) cũng đặt tên
tự, tên hiệu, biệt hiệu. Ví dụ, Chu Văn An lấy tên tự là Linh Triệt, tên hiệu là
Tiều Ẩn, Khang Tiết Tiên Sinh; Trần Nguyên Đán lấy hiệu là Băng Hồ,
Nguyễn Bỉnh Khiêm hiệu là Bạch Vân Am và Tuyết Giang, tự là Hanh Phủ;
Nguyễn Thiếp lấy lấy các địa danh quê hương để ghép tên hiệu cho mình như:
La Sơn Phu Tử, La Giang Phu Tử, Lam Hồng Dị Nhân, Lục Niên Phu Tử…
phẩm: Nguyễn Hàm Ninh tên hiệu là Tĩnh Trai và Nhâm Sơn, tự là Thuận Chi
mà ngay từ trang đầu của tập thơ có dòng chữ ghi: 靖 齋 小 草 摘 抄 (Tĩnh
Trai tiểu thảo trích sao) - 壬 山 阮 咸 寧 順 之 著 (Nhâm Sơn Nguyễn Hàm
Ninh Thuận Chi trứ)
10
Ngoài ra, còn có nhiều quan điểm đồng tình đã nhận định tác giả Tĩnh
Trai tiểu thảo trích sao là Nguyễn Hàm Ninh. Có nhiều cuốn sách, bài báo,
bài viết của nhiều tác giả, nhà nghiên cứu, phê bình viết về cuộc đời, sự
nghiệp văn học của Nguyễn Hàm Ninh và khẳng định văn bản Tĩnh Trai tiểu
thảo trích sao là tác phẩm của Nguyễn Hàm Ninh. Ở đây chúng tôi xin dẫn ra
một số sách chữ Hán và chữ quốc ngữ viết về Nguyễn Hàm Ninh như sau:
Thứ nhất, sách chữ Hán có một số cuốn viết về Nguyễn Hàm Ninh và
Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao:
Trong cuốn Tên tự, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, tác giả
Trịnh Khắc Mạnh viết về Nguyễn Hàm Ninh như sau: “Nguyễn Hàm Ninh
阮 咸 寜 (1808 – 1867), hiệu là Tĩnh Trai, ông còn có hiệu là Nhâm Sơn và tự
là Thuận Chi, người làng Sùng Ái huyện Bình Chánh (nay thuộc Bố Trạch
tỉnh Quảng Bình). Nguyễn Hàm Ninh thi đỗ cử nhân năm Tân Mão, niên hiệu
minh mệnh thứ 12 (1831) đời vua Nguyễn Thánh Tổ. Ông từng giữ các chức
quan như: Tri huyện Lục Ngạn (Bắc Giang), Quốc học Độc thư, Lang trung
Bộ Lại, Án sát Khánh Hòa. Nguyễn Hàm Ninh là người có tài thơ văn, ông
thường là bạn xướng họa với Cao Bá Quát. Tác phẩm của ông có: Tĩnh Trai
tiểu thảo trích sao 靖 齋 小 草 摘 抄 (14, Tr.433).
Trong Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu, quyển 3 tại Thư
Viện Hán Nôm cũng viết về Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao và Nguyễn Hàm
Ninh : 3779. Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao 靖 齋 小 草 摘 抄 (VHv.104: 116
tr., 29 × 16.5; A.2080: 46 tr., 27.5 × 16.5
trên 200 bài thơ chữ Hán chép trong ba tập Tĩnh Trai thi sao (bản sao thơ Tĩnh
Trai), Nhâm Sơn thi tập (tập thơ Nhâm Sơn) và Dược sư ngẫu đề (Đề vịnh ngẫu
hứng khi làm thuốc), một bài văn tứ lục chữ Nôm: Phản thúc ước. Ngoài ra, ông
còn có một số thơ văn chữ Nôm khác nữa.” (31, Tr. 1505)
Trong Danh nhân văn hóa Quảng Bình có đoạn giới thiệu: “Tuy đường
làm quan không được hanh thông như vậy, nhưng về mặt văn chương, Nguyễn
12
Hàm Ninh lại có một sự nghiệp không nhỏ. Hiện chúng ta không còn giữ
được trọn vẹn tập văn của ông, thật là đáng tiếc. Về thơ, mặc dù còn khá
nhiều bài bị thất lạc hoặc bị bỏ đi do liên hệ với người bạn thân Cao Bá
Quát, chúng ta vẫn được đọc gần 200 bài trong hai tập trích chép Tĩnh Trai
tiểu thảo trích sao hiện đang được lưu giữ tại Thư viện Hán Nôm. Về quốc
âm, sách Đời tài hoa của Đẩu Tiếp giới thiệu được mấy bài ca trù và nhất là
bài Phản thúc ước, dài đến 111 câu, mỗi câu 2 vế đối nhau. Một số lượng như
thế, chưa thể so với Miên Thẩm và Cao Bá Quát, song trên bình diện chung
đâu phải là quá ít”. (21, Tr.50)
Trong Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nguyễn Q.Thắng, Nguyễn Bá
Thế, Nxb Khoa học xã hội, 1991, cũng đã giới thiệu khái quát về cuộc đời, sự
nghiệp văn học của Nguyễn Hàm Ninh và cho biết các tác phẩm chính của
Nguyễn Hàm Ninh trong đó có Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao.
Như vậy từ những căn cứ nêu trên có thể khẳng định Tĩnh Trai là tên
hiệu của Nguyễn Hàm Ninh và Nguyễn Hàm Ninh cũng chính là tác giả của
thi tập Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao.
3. Giới thiệu Nguyễn Hàm Ninh
3.1. Quê hương
Nguyễn Hàm Ninh 阮咸寧sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Bình.
Quảng Bình quê hương ông được mệnh danh là vùng đất “địa linh nhân kiệt”,
người cô nuôi cho ăn học. Sách Đời tài hoa của Đẩu tiếp đã nhận định: “Theo
chúng tôi thì cụ chỉ là một đứa con yêu quý của hai vợ chồng nhà nông nọ, ở
chân núi Chóp Chài, bên ngọn nước Khe Dang kia. Không tiền, thuở nhỏ cụ
thân sinh không cho đi học. Một hôm có một người bà con đem đến cho cái
bánh, ngài đùa rằng trong nhà ai hễ ai lớn hơn cả thì được. Cụ hỏi: Thế thầy
tuổi gì? – Tuổi mùi. Thế mẹ tuổi gì? – Tuổi thân. Cụ cười: Thế thì cái bánh
phần con, con tuổi thìn. Thìn đã rồi mới đến ngọ, mùi, thân, dậu chứ! Biết con
là bậc thông tuệ phi thường, cụ thân mới cho cắp sách đến trường học phóng.
14
Song cửa nhà đơn bần quá chừng, chưa đuợc mấy tháng cụ lại phải bỏ học về
giúp đỡ việc nhà. Mãi đến năm 15 tuổi, nhờ có người cô ruột là bà Nguyễn
Húc, một tay cự phú trong làng, không con nên mới xin nuôi cụ đem về nuôi
cho ăn học, cụ mới được chuyên nguyện tàng tu từ đó” (27, Tr.6).
3.3. Hành trạng
Nguyễn Hàm Ninh, tự Thuận Chi, hiệu Tĩnh Trai. Ông sinh ngày 15
tháng 1năm 1808 - mất ngày mùng 15 tháng 12 năm 1867), hưởng thọ 60
tuổi. Ông người làng Phù Kinh (sau 1954 đổi thành Phù Hóa), sau đổi thành
Trung Ái (Trung Thuần), phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Người ta đồn
rằng cụ là một bậc thần đồng. Khi cụ chưa sinh, những lúc canh khuya đêm
vắng, trên hòn lèn Bảng, người ta thường thấy một ngọn đèn leo lét thắp dưới
một gốc cây, xa nghe văng vẳng có tiếng người đọc sách. Khi cụ đã lọt lòng
rồi, tiếng đọc sách ấy và ngọn đèn, không còn nghe thấy đâu nữa, họa chăng ở
nhà cụ... Nhưng kịp lúc cụ đã trở về cõi suối làng mây, trên lèn Bảng tự nhiên
ngọn đèn khuya lại thấy, tiếng đọc sách lại nghe, nhưng ít lâu lại im lặng.
Đồng thời cụ Lê Chí Tuân (Tấn sĩ, người Lâm Xuân) ra đời nên có kẻ ước
đoán rằng: người tiên trên lèn (lèn: núi đá) Bảng hai lần thác sinh xuống cõi
trần, sau là cụ Lê Chí Tuân., mà trước là cụ Nguyễn Hàm Ninh đó vậy…
rồi tin từ phía trước đưa đến: '' Câu đối! Họ ra câu đối!'' Cụ liền chạy lên trước
đoàn, thấy các bực đàn anh đương đứng ngơ ngẩn trước một mảnh giấy hồng,
trải trên một cái hương án mà người ta đặt chắn ngang đường để đòi nộp
cheo. Cụ vội vàng cầm lấy mảnh giấy lên xem:
Chân giậm tay mò bơn hói Kịa.
Biết câu đối ra lỡm, cụ cũng đối lỡm lại:
Má kề miệng ngậm bống khe Dang.
''Một nét chữ, một câu thơ, chỉ suy học một đã biết mười'', một câu thơ
ấy, không biết đã đủ để diễn tả tài học của cụ đã được chưa? (27, Tr.8)
Năm 21 tuổi (1829), Nguyễn Hàm Ninh đi thi và đỗ tú tài. Ba năm sau,
khoa Tân Mão (1831), ông đỗ giải nguyên trường Thừa Thiên. Với học vị đó,
16
năm 1832 ông được cử đi làm Hậu bổ tỉnh Nghệ An rồi được cử giữ chức chi
huyện Lục Ngạn (phủ Lạng Giang – Bắc Giang). Năm 1833, cha Nguyễn
Hàm Ninh mất, ông xin nghỉ về cư tang. Sách Đời tài hoa có đoạn kể: “Ở nhà
cư tang được ít lâu, vì sinh kế, cụ phải tìm vào Thanh Toàn (Huế) hỏi nơi dạy
học. Bấy giờ gặp khoa Giáp Ngọ (1834), trong quán nước, cụ ngồi một mình
trên bộ ngựa (ván), các thí sinh, những ai đã từng biết cụ, đều khúm núm
đứng chực hai bên. Một anh chàng lạ mặt, từ đâu đến, thấy thế liền cười: ''
chào thầy tú'', vì có tú tài mới đến kinh đô để hòng giựt cái cử nhân, chớ cử
nhân hay tấn sĩ mấy ai qua đó, quanh quẩn ở ngoài trường thi làm gì!''Ngư
mục hỗn châu'' là thế. Không lẽ cụ đành lặng thinh để cho người ta xem
thường hay sao! Cụ liền đáp lại:
我為尋師萬里來
Ngã vị “tầm sư” vạn lý lai,
thì ông Cao Bá Quát cũng đậu thủ khoa ở Hà Nội. Năm sau (Nhâm – thìn,
1832), ông Quát từ Bắc vào Huế để thi Hội. Trên đường đi, Cao Bá Quát đã
gặp một người khăn đen áo dài và hỏi thăm nhà cụ Nguyễn Hàm Ninh ở đâu.
Người kia hỏi lý do thì ông trả lời rằng nghe danh Nguyễn Hàm Ninh nổi
tiếng hay chữ muốn gặp một lần xem có đúng như vậy không. Người kia nói
anh ta chính là học trò của Nguyễn Hàm Ninh. Hai người bèn làm thơ và họa
lại cho nhau nghe. Tuy hai người ngang sức ngang tài nhưng Cao Bá Quát
vẫn thấy nể phục tài nghệ của anh học trò này và quyết gặp cho bằng được
Nguyễn Hàm Ninh. Nhưng anh học trò này chỉ cho địa chỉ mà không đưa Cao
Bá Quát đến gặp Nguyễn Hàm Ninh. Khi đến nơi ở của Nguyễn Hàm Ninh,
ông Cao vừa bất ngờ vừa vui mừng vì nhận ra Nguyễn Hàm Ninh chính là
người bạn đi đường mà mình gặp hôm nọ. Hai người kết giao từ đó. Lúc cùng
làm quan tại triều, họ thường đi lại chơi với nhau như anh em một nhà và
cùng sướng họa văn chương với nhau. Chẳng những lúc phú quý có nhau mà
khi hoạn nạn cũng cùng nhau san sẻ.
Cao Bá Quát với Nguyễn Hàm Ninh đã thân mà Nguyễn Hàm Ninh với
Tùng Thiện Vương lại càng thân hơn. Sách Đời tài hoa có kể: “Lúc cụ Tri
huyện Lục Ngạn về đinh gian, rồi vào dạy tư ở Thanh toàn, đó là lần đầu cụ
được gần gũi ông Tùng. Chính nàng thơ đã làm môi giới cho cuộc nhân duyên
ấy giữa hai nhà văn: biết ông Tùng là tay sinh, nên ở thành ngoài nghe đọc bài
thơ gì của ông, thì cụ Nguyễn bèn họa lại và gửi vào. Một lần ông Tùng thấy
thơ thì liền phục đến người, thường vời cụ vào các, cùng nhau uống rượu làm
thơ. Ông Tùng thường bảo cụ rằng: “trong bạn thơ rượu, đã vì tài đức mà kết
18
thân với nhau, thì khi chén bạc chén thù, câu xướng câu họa. Hãy gác lại sự
sang hèn ngoài vòng trần tục, nghĩa là đừng sá quan tâm gì đến chỗ phẩm
hàm trước lộc mà ái ngại rụt rè. Nhờ được ông Tùng một lòng quí mến, ra tay
cho gọi Nguyễn Hàm Ninh vào triều và phong cho giữ chức Hành tẩu ở Nội
Các (năm 1841). Có thể nói đây là giai đoạn làm quan hanh thông nhất trong
quá trình làm quan ngắn ngủi của Nguyễn Hàm Ninh. Ông được thăng chức
nhanh chóng từ Hành tẩu ở Nội Các lên Viên ngoại bộ Hình, Lang trung bộ
Lễ rồi thự Án sát tỉnh Khánh Hòa (năm 1846). Thế nhưng một chuyện không
may đã xảy ra, vừa nhận chức ông đã cùng ngài tri huyện Vĩnh Xương sơ xuất
xuống một chiếc tàu Pháp để thăm hỏi tình hình mà không biết rằng chính lúc
đó bọn chúng đang theo dõi ta chuẩn bị tập kích vào Đà Nẵng. Thế là cả
Nguyễn Hàm Ninh và ngài tri huyện đều bị chúng bắt trói, tra hỏi và giam giữ
mười ngày. Sự việc được báo cáo về triều đình, vua Thiệu Trị tức giận dù
chưa rõ thực hư thế nào nhưng ông đã bị nhà vua cách chức và bị bắt đi sung
quân vào Đà Nẵng. Song nghĩ thương người bề tôi trung quân vì không hiểu
tình thế nên chỉ sáu tháng sau, vua Thiệu Trị lại cho khôi phục phẩm hàm và
cho ông vào làm việc tại Sở Tu thư.
Tháng 11 năm 1847, vua Thiệu Trị mất, vua Tự Đức lên ngôi, trong triều
đình có nhiều rối ren, Nguyễn Hàm Ninh cảm thấy lo lắng, bất an và có ý từ
quan về quê. Cùng lúc đó, mối bất hòa giữa hai anh em Hồng Bảo và Hồng
Nhậm ngày càng sâu đậm. Trong cuốn Lược khảo các vụ án văn chương ở
Việt Nam thế kỉ X – XIX có đoạn kể: “ Có người cho rằng Hồng Bảo mưu đảo
chính thất bại vì trước đó đã để lộ hình tích và lòng oán hận Tự Đức trong
một bài thơ. Tư liệu khác thì kể: “Người đương thời cho là vua Tự Đức mưu
giết anh để trừ hậu họa. Sau đó, nhân một buổi ngự thiện, Tự Đức dùng cơm
vô ý cắn phải lưỡi, liền lấy đầu đề Răng cắn lưỡi ra cho đình thần làm thơ.
Nguyễn Hàm Ninh dâng một bài tứ tuyệt:
20
Sinh ngã chi sơ, nhĩ vị sinh
Nhĩ sinh chi hậu, ngã vi huynh
văn chương để thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, con người và phê phán
những thói hư tật xấu ở đời. Năm 21 tuổi, Nguyễn Hàm Ninh đi thi và đỗ tú
tài. Ba năm sau, ông đỗ giải nguyên trường Thừa Thiên và được cử đi làm
Hậu bổ tỉnh Nghệ An rồi được cử giữ chức chi huyện Lục Ngạn (Bắc Giang).
Năm 1836 ông được gọi vào kinh đô Phú Xuân giữ chân Quốc Học độc thư,
rồi đến năm 1838 ông lại làm chủ sự phủ Tôn Nhân… Mặc dù quá trình làm
quan nhiều có biến cố, thăng trầm, lúc thăng quan rồi bãi chức, rồi lại được
phục chức cho đến khi cáo quan về quê nhà, con người Nguyễn Hàm Ninh
vẫn không hề thay đổi. Ông vẫn luôn là một con người ngay thẳng, cương
trực, căm ghét và luôn phê phán sự bất công, ngang trái ở đời.
Bên cạnh con người đáng quý ấy là một trái tim nhân hậu, một tấm lòng
yêu dân nồng cháy và một tinh thần yêu nước thiết tha. Vì thế mà ông luôn
thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với cảnh đói nghèo và nỗi khổ đau của nhân
dân: “Cơ hoang kiêm tật dịch/ Qủy lục diệc đa môn” (Mất mùa, đói kém
thiếu ăn/ Lại thêm bệnh dịch bỏ thân bao người) (Xuân nhật phụng ký thương
sơn công – tam thủ). Khi thực dân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng, lòng ông
không lúc nào yên. Ông luôn cảm thấy lo lắng và đau xót trước sự an nguy
của đất nước: “Cần Giờ dĩ thất kim thang hiểm/ Đà Nẵng không lưu phong
hỏa đài/ …/Dao liên Lộc Dã cao sưu địa/ Nhị thập dư niên hựu kiếp hôi”
(Cần Giờ mất thế thành cao hiểm/ Đà Nẵng trơ đài lửa hiệu tàn/. ../ Đồng Nai
chạnh nỗi nơi trù mật/ Hai chục năm hơn lại mắc hàn) (Cảm sự). Càng đọc
thơ văn Nguyễn Hàm Ninh, chúng ta càng cảm mến và trân trọng con người
đáng quý ở ông. Nhận xét về con người Nguyễn Hàm Ninh, trong cuốn Danh
nhân văn hóa Quảng Bình, nhà nghiên cứu Lương An đã khẳng định: “Từ khi
bước vào cho đến lúc từ giã cõi đời, về tư tưởng và hành động, con người ông
không chút đổi thay. Có thể nói, đó là một mẫu người mà giàu sang không tha
22
Đỗ giải nguyên trường Thừa Thiên
Thời vua Minh Mệnh
(1820 – 1840)
Được cử đi làm Hậu bổ tỉnh Nghệ
1832
An, rồi giữ chức chi huyện Lục Ngạn
(Bắc Giang)
1883
1836
Xin nghỉ về cư tang
Vào kinh đô Phú Xuân giữ chân Quốc
học độc thư
1838
Làm chủ sự phủ Tôn Nhân
1840
Bị bãi chức về quê
1841
Được vua Thiệu Trị vời ra làm quan,
1867, Pháp chiếm 3
15/12/1867
Mất tại quê nhà
tỉnh miền Tây Nam
Kỳ
3.4. Sự nghiệp văn chương
Tuy con đường làm quan không mấy thuận lợi nhưng về mặt văn
chương, Nguyễn Hàm Ninh lại để lại cho đời một sự nghiệp văn chương
không hề nhỏ. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta vẫn chưa biết được chính xác về
số lượng các tác phẩm của Nguyễn Hàm Ninh. Theo một số nhà nghiên cứu
văn hóa, văn học đời sau thì thơ văn Nguyễn Hàm Ninh được sáng tác trên
hai mảng chính là thơ ca và văn xuôi, bao gồm các tác phẩm chính là: Tĩnh
Trai tiểu thảo trích sao, Dược sư ngẫu đề, Nhâm Sơn thi tập, Tĩnh Trai văn
tập, Phản thúc ước. Trong cuốn Danh nhân văn hóa Quảng Bình, nhà nghiên
cứu Lương An đã viết: “Về thơ, mặc dù còn khá nhiều bài bị thất lạc hoặc bị
bỏ đi do liên hệ với người bạn thân Cao Bá Quát, chúng ta vẫn được đọc gần
200 bài trong hai tập trích chép Tĩnh Trai tiểu thảo trích sao hiện đang được
lưu giữ tại thư viện Hán Nôm. Về quốc âm, sách Đời tài hoa của Đẩu Tiếp
giới thiệu được mấy bài ca trù và nhất là bài Phản thúc ước, dài đến 111 câu,
mỗi câu hai vế đối nhau” (21, Tr.50). Trần Mạnh Thường trong cuốn Các tác
24
giả văn chương Việt Nam, tập 1 trong bài viết về Nguyễn Hàm Ninh khẳng
định: “…chúng ta vẫn còn đọc được trên 200 bài thơ chữ Hán chép trong ba
tập Tĩnh Trai thi sao (bản sao thơ Tĩnh Trai), Nhâm Sơn thi tập (tập thơ Nhâm