Nghiên cứu văn bản Tính lý tiết yếu - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI ANH CHƯỞNG NGHIÊN CỨU VĂN BẢN
TÍNH LÝ TIẾT YẾU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Hán Nôm

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Kim Sơn

HÀ NỘI - 2014
1

MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
QUY ƯỚC VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
3. Đối tƣợng, mục tiêu nghiên cứu – phạm vi tƣ liệu 8
4. Đóng góp của luận văn 8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu 9
6. Kết cấu luận văn 9
NỘI DUNG 10

b. Phần chính văn của TLTY 90
c. Phần tăng bổ của TLTY 93
2.2.2 Ý nghĩa của TLTY 94
a. Bùi Huy Bích và TLTY - “Bùi thị nguyên bản” 95
b. TLTY với tăng bổ 97
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2: 98
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 110

3

QUY ƯỚC VIẾT TẮT
TLTY : Tính lý (đại toàn) tiết yếu
TLĐT : Tính lý đại toàn
TT2 : Tính lý tiết yếu bản in năm Thiệu Trị 2 của Thịnh Văn Đường
TT3 : Tính lý tiết yếu bản in năm Thiệu Trị 3 của Tập Văn Đường
TT4 : Tính lý tiết yếu bản in năm Thiệu Trị 4 của Mỹ Văn Đường
TVHN : Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm
TVQG : Thư viện Quốc gia
VTT : Viện thông tin Khoa học Xã hội
[] : Các nội dung trong ngoặc này là của tác giả luận văn

Các trích dẫn được kèm theo ghi chú dưới dạng [x:y], trong đó:
x = Số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu tham khảo
y = Vị trí số trang của trích dẫn trong tài liệu gốc
với trường hợp tài liệu gốc gồm nhiều quyển, quyển thứ mấy sẽ ghi liền với x, ví dụ:
[48q1:240] tức là trang 240, quyển 1 tài liệu số 48.
văn hóa Việt Nam cũng sẽ đồng thời thắt một mối liên hệ về tư tưởng với nơi sản
sinh ra nó, Trung Quốc. Việc giao lưu sách vở qua lại giữa hai nước, qua đó chia sẻ
những suy nghĩ về các vấn đề về Nho học chính là một minh chứng cho sự liên kết
này. Nghiên cứu sự tiếp thu của giới tri thức Việt Nam thời bấy giờ đối với những
5

tư tưởng chuyển tải trong sách vở giao lưu với phương Bắc giúp chúng ta thấy được
thái độ, cũng như những đặc sắc trong tư duy của nhà Nho Việt Nam đối với các
vấn đề Nho học nêu ra ở Trung Quốc. Trên bình diện sự phát triển của Nho học
Việt Nam nói riêng, Nho học Việt Nam cũng có sự phát triển theo từng giai đoạn
của mình, thời kỳ phát triển tới cực thịnh của Nho học Việt Nam rơi vào hai triều
Lê – Nguyễn, các hoạt động Nho học đa dạng của nhà Nho Việt cũng là minh
chứng cho sự phát triển nội tại tự thân của Nho học Việt Nam.
Tính lý đại toàn 性理大全(TLĐT) hay Tính lý đại toàn thư 性理大全書 là
một trong ba bộ Đại toàn được nhóm Hồ Quảng 胡廣, Dương Vinh 杨榮… biên
soạn theo lệnh của Minh Thành Tổ vào năm Vĩnh Lạc thứ 12 (1414), cùng với Tứ
thư đại toàn 四書大全 và Ngũ kinh đại toàn 五經大全. Theo bài tựa của ba bộ Đại
toàn, Minh Thành Tổ ngoài việc tiếp nối làm sáng rõ đạo thánh hiền, chấn chỉnh
thiên hạ ra thì có mục đích là muốn “để người thiên hạ thấy được cái toàn thể của
kinh sách”
1
, hẳn cũng chính vì tham vọng này nên ba bộ Đại toàn mới có tên là “đại
toàn”. TLĐT là một tập hợp các trước tác của chư Nho thời Tống Minh về Lý học,
một trào lưu tư tưởng chính thức bắt đầu từ Chu Đôn Di 周敦頤(1017-1075) thời
Tống, diễn biến phát triển suốt hai triều Tống, Minh. Trong Trung Quốc Nho giáo
có đánh giá Lý học là sự “triết học hóa Nho học”, nhận ảnh hưởng từ các yếu tố
triết học từ Phật giáo (tâm, tính ở tầng bản thể), vận dụng nguyên liệu là các phạm
trù, khái niệm, mô thức của Đạo gia (thái cực, âm dương…), Tống Nho mà trước
nhất là Chu Đôn Di đã giải thích lại Nho học theo một cách mới, ở một tầng thứ
nghĩa lý triết học sâu hơn, một phát triển mới của học thuyết Nho gia. Trên bình

với các vùng ngoại vi, cũng như xác định vùng ảnh hưởng của Nho giáo và mức độ
ảnh hưởng lên các nước kể trên.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống văn bản Đại toàn, đi vào tìm hiểu cũng như hệ thống
nhóm các văn bản sách Đại toàn, đưa ra giả thuyết về bản cơ sở cho các biến thể
sau khi được đưa vào Việt Nam như Tiết yếu, Diễn nghĩa cũng như nêu vị trí của
các bộ Đại toàn trong khoa cử Việt Nam, chúng tôi ghi nhận bài viết Từ việc khảo
sát các hệ bản Tứ thư Ngũ kinh đại toàn ở Việt Nam bàn về vai trò của hệ thống
Đại toàn trong khoa cử truyền thống của Nghiên cứu sinh tiến sỹ Nguyễn Phúc Anh
7

phát biểu ở Hội thảo khoa học quốc tế “Việt Nam và Trung Quốc: Những quan hệ
văn hóa, văn học trong lịch sử” tổ chức tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh vào tháng 9 năm 2011, sau đó được đăng trên Tạp
chí Hán Nôm số 1 (110) năm 2012. Tuy có nhắc tới TLĐT và TLTY nhưng đối
tượng nghiên cứu chính của Nguyễn Phúc Anh trong bài viết là các hệ bản Tứ thư
Ngũ kinh đại toàn, TLĐT và TLTY chỉ được nhắc tới trong mối quan hệ với hệ sách
Đại toàn, không phải đối tượng nghiên cứu chính. Tuy nhiên, xét từ chỉnh thể hệ
sách Đại toàn và hệ sách Tiết yếu, vẫn có thể tham khảo bài viết này để có có cái
nhìn toàn diện về TLTY. Một bài viết khác của cùng tác giả là bài Vấn đề văn bản
của “Dịch kinh tiết yếu”, bài viết này lấy đối tượng là Dịch kinh tiết yếu nhưng có
những phần luận về tác giả chung của các bộ “tiết yếu”.
Về các biến thể của hệ thống Đại toàn, hay chính là các văn bản Tiết yếu,
Diễn nghĩa. Trong bài viết Từ vấn đề “Bắc thư” và “Nam thư” thử diễn giải lại
“quá trình tiếp nhận” của sách “tiết yếu” tại Việt Nam của Thạc sỹ Quách Thu
Hiền tham gia Hội thảo “Kinh điển Nho gia ở Việt Nam” do Trung tâm nghiên cứu
Trung Quốc, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội tổ chức tháng 12 năm 2009 đã nêu ra những ý kiến về việc lý giải hiện tượng
tiết yếu, cũng như sự tiếp thu của khoa cử đối với các văn bản tiết yếu và những vấn
đề có liên quan khác. Lý giải của chị nhắm tới việc giải thích vì sao có hệ sách Tiết

toàn, một đại biểu đại diện cho trào lưu tư tưởng Lý học diễn biến ở hai triều Tống -
Minh. Với các nghiên cứu khác về hệ sách Tiết yếu, luận văn sẽ đóng góp vào việc
tìm hiểu sự giao lưu học thuật, sách vở giữa Trung Quốc và Việt Nam thời trung đại,
sự tiếp thu của các nhà Nho Việt Nam, mà đại biểu ở đây là Bùi Huy Bích, đối với
tư tưởng Nho học Tống – Minh nói riêng và quá trình tiếp nhận Nho học từ vùng
trung tâm tới vùng ngoại vi nói chung. Ở một góc độ khác, luận văn cũng góp phần
tìm hiểu một hoạt động học thuật của nhà Nho Việt Nam, “tiết yếu”, từ đây làm rõ
thêm đời sống Nho học thời phong kiến. Từ khía cạnh in ấn và phổ biến rộng rãi
Tính lý tiết yếu, luận văn, ở một trình độ nhất định, giải thích về vấn đề giáo dục
cũng như học tập, nghiên cứu Nho học cũng như vai trò của các sách Tiết yếu trong
khoa cử.
9

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp văn bản học với các thao tác xử lý văn bản
như: Thống kê, phân loại, phân tích dữ liệu Theo đó là các thao tác nghiên cứu
chung trong nghiên cứu khoa học như: Tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh.
Trong mối tương quan nhiều chiều, luận văn còn sử dụng các tri thức liên
ngành bao gồm lịch sử, văn hóa, triết học… để phục vụ cho việc nghiên cứu nội
dung văn bản.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm
hai chương:
Chương 1: Vấn đề văn bản và tác giả Tính lý tiết yếu
Chương 2: Nội dung của Tính lý tiết yếu
10

NỘI DUNG

CHƢƠNG 1: VẤN ĐỀ VĂN BẢN VÀ TÁC GIẢ TÍNH LÝ TIẾT YẾU

Quyển 3: Học 學, Chư tử 諸子
Quyển 4: Lịch đại 歷代, Quân đạo 君道, Quân đức 君德, Thánh học 聖學, Quân
thần 君臣, Thần đạo 臣道
Quyển 5: Trị đạo 治道, Thi 詩, Văn 文
Các văn bản hiện tồn đa phần được chia theo đúng mục lục này, tức là gồm 5
đơn vị quyển rời, có trường hợp đóng gộp nhưng căn cứ vào số thứ tự các tờ đánh ở
lề sách (quyển nào theo có thứ tự các tờ của riêng quyển ấy) thì có thể đoán việc
đóng gộp là người sau này làm, không phải bản ý của nhà in.
Một trang văn bản có nội dung phức tạp nhất sẽ gồm có phần tăng bổ ở phần
trên cùng của trang, phần chính văn chữ to và phần phụ chú, bình chú chữ nhỏ hơn.
Trực quan như sau:

Hình 1.1 Phần tăng bổ “Bản đồ thư” 本圖書 ở
phần trên cùng của trang

Hình 1.2 Phần phụ chú “sóc tương hội, vọng
tương đối” 朔相會望相對 chữ nhỏ cho hai chữ
“sóc vọng” chữ to ở phần chính văn
12

Khảo sát tại hai hai thư viện TVHN và TVQG cho kết quả là sự tồn tại của
ba hệ bản gồm:
Bản in năm Thiệu Trị 2 (bản TT2) của Thịnh Văn Đường 盛文堂.
Bản in năm Thiệu Trị 3 (bản TT3) của Tập Văn Đường 集文堂.
Bản in năm Thiệu Trị 4 (bản TT4) của Mỹ Văn Đường 美文堂.
Nhưng do Thịnh Văn Đường vào năm Thiệu Trị 2 không phải có một mà là
hai bản in TLTY và hai bản này có sự khác nhau khá rõ ràng, cho nên, tới thời điểm

Các văn bản tại TVQG đều là các bản gốc, vì vấn đề bảo tồn văn bản nên các
văn bản tại TVQG đều đã được số hóa, không thể tiếp cận trực tiếp, chúng tôi chỉ có
thể tiếp cận văn bản đã được số hóa, tuy nhiên nhờ chất lượng số hóa tương đối tốt,
bản ảnh chụp rõ ràng nên việc khảo sát các văn bản hữu quan ở đây không gặp
nhiều khó khăn.
Theo tư liệu thông tin của TVQG, tại TVQG có lưu chữ các văn bản TLTY
với ký hiệu như sau:
TLTY quyển
Ký hiệu
1
R.372, R.927, R.932, R.1400
2
R.928, R.933, R.1401
3
R.929, R.934, R.1402
4
R.930, R.935, R.1403
5
R.931, R.936, R.1404
Theo thông tin của TVQG, trong các ký hiệu kể trên chỉ có duy nhất bản
R.372 là quyển 1 của hệ bản TT3 do Tập Văn Đường khắc in, các bản còn lại tương
ứng theo từng quyển là trùng bản, đều thuộc hệ bản TT4 do Mỹ Văn Đường khắc in.
Từ ký hiệu có thể nhận thấy các bản có ký hiệu lần lượt R.927, R.928, R.929, R.930,
R.931 là một bộ hoàn chỉnh đủ 5 quyển TLTY, tương tự với các bản R.932, R.933,
R.934, R.935, R.936 và R.1400, R.1401, R.1402, R.1403, R.1404. Tuy nhiên, như
chúng tôi đã nêu ở trên chỉ có các văn bản quyển 1 là có thể xác định chính xác
15

thuộc về hệ bản nào, các văn bản từ quyển 2 về sau là không thể chắc chắn, chúng
tôi giữ nghi ngờ về thông tin mà TVQG cung cấp.

thượng cán tân thuyên” 皇朝紹治四年夏月上浣新鐫, bên
phải có dòng “Mỹ Văn Đường hiệu tân” 美文堂校梓, dưới
dòng “Mỹ Văn Đường hiệu tân” có con đấu “Hàn mặc đồ
thư” 翰墨圖書. Trang đầu phần chính văn ghi rõ “Tính lý
đại toàn tiết yếu quyển chi nhất” 性理大全節要卷之一. Ở
tờ 43 chỗ lề trang (tức giữa tờ) có chữ “Đan An tàng bản”
丹安藏板, trong bản này bốn chữ này chỉ xuất hiện một lần
duy nhất ở đây. Sách gồm 68 tờ (1 tờ bìa, 1 tờ mục lục không đánh số, đánh số từ tờ
1 tới tờ 66), gồm đầy đủ nội dung quyển 1 TLTY.
Bản R.928 là quyển 2 của TLTY, ở trang đầu có ghi “Tính lý đại toàn tiết
yếu quyển chi nhị” 性理大全節要卷之二, khổ sách, quy cách trình bày, thể chữ, cỡ
chữ tương tự với bản R.932 và R.372, sách gồm 64 tờ, đánh số từ tờ 1 tới tờ 65, bị
thiếu tờ số 33, phần trên đầu một số trang có phần tăng bổ. Gần như ở tất cả các tờ
đều có bốn chữ “Đan An tàng bản” 丹安藏板. Bản R.928 tương ứng giống với bản
AC.5/2 hiện lưu trữ ở TVHN.
Bản R.929 là quyển 3 của bộ TLTY, trang đầu ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết
yếu quyển chi tam” 性理大全節要卷之三, khổ sách, quy cách trình bày, thể chữ,
cỡ chữ, tương tự với bản R.932 và R.372, sách gồm 52 tờ, đầy đủ nội dung, một số
trang có phần tăng bổ.
Bản R.930 là quyển 4 của bộ TLTY, trang đầu ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết
yếu quyển chi tứ” 性理大全節要卷之四, khổ sách, quy cách trình bày, thể chữ, cỡ
chữ, tương tự với bản R.932 và R.372, sách gồm 64 tờ, đầy đủ nội dung, một số
trang có phần tăng bổ. Ở tờ số 55, phần lề có ba chữ “Tập Văn Đường” 集文堂, với
ba chữ này có thể tạm thời kết luận bản này thuộc hệ bản TT3 (1843) do Tập Văn
Đường khắc in.
Bản R.931 là quyển 5 của bộ TLTY, trang đầu ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết
yếu quyển chi ngũ” 性理大全節要卷之五, khổ sách, quy cách trình bày, thể chữ,
cỡ chữ, tương tự với bản R.932, sách gồm 57 tờ, đầy đủ nội dung, một số trang có
Hình 1.6 Dấu “Hàn mặc
đồ thư” bản R.932

Hình 1.7 Hai dấu ở
bìa bản Hv.13/1
Hv.13/1 và Hv.14/1 giống nhau, là quyển 1 của hệ bản
TLTY do Thịnh Văn đường khắc in vào năm Thiệu Trị 2 (1842),
ở trang bìa đầu ngoài dòng “Tính lý tiết yếu” 性理節要 ở giữa,
bên phải có dòng “Bùi thị nguyên bản” 裴氏原本, góc dưới bên
trái có hai con dấu, dấu tròn tạm thời chưa thể luận ra chữ (ngờ
là “Phong Trai” 豐齋), dấu vuông khắc “Bùi thị nguyên bản”
裴氏原本, trang bìa tiếp ở giữa có dòng “Thiệu Trị nhị niên
mạnh xuân nguyệt cát nhật tân thuyên” 紹治貳年孟春月吉日
新鐫, bên trái có dòng “Thịnh Văn Đường” 盛文堂, dưới dòng
“Thịnh Văn Đường” có hai con dấu bị xóa, không đọc được. Trang đầu phần chính
văn ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết yếu quyển chi nhất” 性理大全節要卷之一. Nội
dung, quy cách trình bày, bố cục, thể chữ bên trong cũng giống hệt nhau, không có
sai khác. Sách khổ 26x15 cm, 69 tờ (68 tờ chính văn và 1 tờ bìa, tờ mục lục không
đánh số, đánh số từ tờ 1 tới tờ 67). Tự thể khắc theo lối chữ khải, vuông vắn, rõ
ràng, phần chính văn chữ to, vừa một cột một hành chữ, phần phụ chú, bình chú chữ
nhỏ hơn, một cột hai hàng chữ. Sách không có dòng kẻ chia cột rõ ràng. Một vài
trang phía trên có phần tăng bổ, cỡ chữ nhỏ hơn cỡ chữ phần phụ chú trong chính
văn, mép lề dưới có hai chữ “Phong trai” 豐齋. Sách còn trong tình trạng tốt.
Hv.13/2 và Hv.14/2 giống nhau, là trùng bản thuộc cùng một hệ bản, nội
dung là quyển 2 của TLTY, trang đầu phần chính văn ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết
yếu quyển chi nhị” 性理大全節要卷之二, tự thể và cách trình bày tương tự
Hv.13/1 và Hv.14/1. Một số trang có phần tăng bổ. Sách có 70 tờ, đầy đủ nội dung.
Hv.13/3 và Hv.14/3 giống nhau, là trùng bản thuộc cùng một hệ bản, có nội
dung là quyển 3 của TLTY, trang đầu phần chính văn ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết
yếu quyển chi tam” 性理大全節要卷之三, tự thể và các trình bày có sự tương đồng
với Hv.13/1 và Hv.14/1. Một số trang có tăng bổ. Sách gồm 54 tờ, đầy đủ nội dung.
Hv.13/4 và Hv.14/4 giống nhau, là trùng bản cùng thuộc một hệ bản, nội
dung là quyển 4 của TLTY, trang đầu phần chính văn ghi rõ “Tính lý đại toàn tiết

ở lề tờ thứ 4 được đánh số là三 (tam), ở lề dưới chỗ đánh số có thể đọc được
20

hai chữ “Phong Trai”, hai chữ này còn xuất hiện lại ở nhiều trang sau. So
sánh phần từ tờ thứ 4 (tức tờ được đánh số “tam”) với bản Hv.13/3 thì thấy
có sự tương đồng về tự hình tự dạng, bố trí nội dung trong một trang (chữ mở
đầu, chữ kết thúc, các chữ ở đầu, cuối các dòng…), không có đường kẻ phân
rõ cột, nhưng bản Hv.13/3 thì có thêm phần tăng bổ. Có thể kết luận ở đây có
sự ghép lẫn của hai hệ bản khác nhau nhưng là do người về sau ghép từ hai
bản in khác nhau.
Bộ phận quyển 4: Có sự thống nhất từ phần sau của quyển 3 nêu trên
với phần quyển 4 này về tự hình, tự dạng, không có đường kẻ phân rõ cột.
Tương tự như việc đại bộ phận phần quyển 3 nêu trên có sự tương tự về phần
chính văn với Hv.13/3, bộ phận quyển 4 của ký hiệu này cũng tương tự về
phần chính văn với bản ký hiệu Hv.13/4 nhưng cũng giống bộ phận quyển 3,
bộ phận quyển 4 này khác Hv.13/4 ở chỗ không có phần tăng bổ. Ở gần như
toàn bộ lề các trang (tức giữa các tờ) của bộ phận quyển 4 này đều có hai chữ
“Phong Trai”. Bộ phận quyển 4 này có đầy đủ nội dung, gồm 64 tờ.
Bộ phận quyển 5: Phần quyển 5 của ký hiệu này khác với phần quyển
4 và đa số phần quyển 3 về tự hình tự dạng, và cách trình bày. Ở phần quyển
5 chia rõ các cột, một trang có 9 cột, bố cục trình bày phần chính văn cũng
như vị trí các phần tăng bổ đều tương tự với bản R.931 của TVQG, ở các tờ
10, 11, 12, 13 phần lề cũng có bốn chữ “Đan An tàng bản”, các tờ 36, 37, 38,
39, 40… phần lề cũng có ba chữ “Tập Văn Đường”, có thể kết luận bản này
và bản R.931 cùng thuộc hệ bản TT3 do Tập Văn Đường khắc in. Phần
quyển 5 này cũng có đầy đủ nội dung gồm 57 tờ.
TLTY quyển
Ký hiệu
1
Hv.13/1, Hv.14/1, AC.5, AC.5/1

Tình trạng văn bản HN.110 còn tốt.
HN.448, đây là quyển 3 của bộ TLTY, qua so sánh bản này trùng bản với
bản ký hiệu R.929 của TVQG, không có khác biệt.
HN.109, đây là quyển 4 của bộ TLTY, bản này về khổ sách, số tờ, dạng chữ,
bố cục trình bày trong các trang, vị trí các phần tăng bổ tương tự bản R.930 tuy
nhiên không có ba chữ “Tập Văn Đường” ở tờ số 55 như R.930.
HN.108, đây là quyển 5 của bộ TLTY, khổ sách, dạng chữ, dạng thức trình
bày giống như khuôn mẫu của HN.111. Bản này hoàn toàn không có tăng bổ của
22

nhà in, ở một số trang có chữ viết tay do người về sau viết thêm vào. Sách có đủ nội
dung, gồm 60 tờ.
1.1.2 Các hệ bản TLTY và phân loại các văn bản
Qua khảo sát các văn bản ở mục 1.1.1, như đã nêu ở phần thông tin chung,
chúng tôi xác định được bốn văn bản quyển 1 khác nhau của bộ TLTY, đồng nghĩa
với việc cho tới giờ xác định được ít nhất là bốn hệ bản TLTY hiện tồn, lần lượt
như sau:
 Bản TT2 không có phần tăng bổ, do Thịnh Văn Đường khắc in, đại diện là
bản ký hiệu HN.111.
 Bản TT2 có phần tăng bổ, do Thịnh Văn Đường khắc in, đại diện là bản
Hv.13/1, Hv.14/1.
 Bản TT3 có phần tăng bổ, do Tập Văn Đường khắc in, đại diện là bản
AC.5, R.372.
 Bản TT4 có phần tăng bổ, do Mỹ Văn Đường khắc in, đại diện là bản
AC.5/1, R.932.
Các văn bản quyển 1 nêu trên là các văn bản có thông tin được ghi rõ ràng
nhất, xác tín nhất cho việc xác định văn bản nào thuộc hệ bản nào. Từ các văn bản
quyển 2 về sau, để xác định được văn bản nào thuộc hệ bản nào thì khó khăn hơn
nhiều. Việc so sánh các văn bản xác tín, tức các văn bản quyển 1, với nhau để rút ra
đặc điểm cho từng hệ bản là cần thiết, giúp cho việc xác định hệ bản của các văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status