Luận án tiến sĩ Hán Nôm: Nghiên cứu văn bản tác phẩm Chu nguyên tạp vịnh thảo của Lý Văn Phức - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ MAI HƢƠNG

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN TÁC PHẨM
CHU NGUYÊN TẠP VỊNH THẢO CỦA LÝ VĂN PHỨC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM

Hà Nội, 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ MAI HƢƠNG

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN TÁC PHẨM
CHU NGUYÊN TẠP VỊNH THẢO CỦA LÝ VĂN PHỨC
Chuyên ngành: Hán Nôm
Mã số: 9.22.01.04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh
2. TS. Vƣơng Thị Hƣờng



MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................................. 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ
TÀI ......................................................................................................................................................... 5
1.1.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ................................................................. 5
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. .......................................... 30
1.3. Định hƣớng nghiên cứu của đề tài .............................................................................. 31
1.4. Các thuật ngữ sử dụng trong luận án ........................................................................ 32
Chƣơng 2 LÝ VĂN PHỨC VÀ CHUYẾN ĐI SỨ YÊN KINH (TRUNG QUỐC)
NĂM 1841 ......................................................................................................................................... 37
2.1. Tình hình xã hội, quan hệ bang giao Việt Nam – Trung Quốc nửa đầu thế
kỉ XIX ................................................................................................................................................. 37
2.2. Giới thiệu chung về cuộc đời và tác phẩm của Lý Văn Phức ........................ 41
2.3. Chuyến đi sứ Yên Kinh năm 1841 ............................................................................... 50
Chƣơng 3 KHẢO SÁT VĂN BẢN CHU NGUYÊN TẠP VỊNH THẢO CỦA LÝ
VĂN PHỨC ..................................................................................................................................... 60
3.1. Tình hình văn bản Chu Nguyên tạp vịnh thảo 周原襍咏草 ............................. 60
3.2. Khảo sát dị văn trong 14 bản Chu Nguyên tạp vịnh thảo ................................. 75
3.3. Tổng hợp tình hình văn bản và sơ đồ biểu thị mối liên hệ giữa các bản sao
của văn bản CNTVT .......................................................................................... 95
Chƣơng 4 GIÁ TRỊ CỦA CHU NGUYÊN TẠP VỊNH THẢO ................................. 103
4.1. Giá trị nội dung ...................................................................................................................103
4.2. Giá trị nghệ thuật ..............................................................................................................128
KẾT LUẬN ....................................................................................................................................148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



H

Bản VHv.110 (hoặc VHv.110)

I

Bản R.240 (hoặc R.240)

K

Bản HN.660 (hoặc HN.660)

L

Bản A.1250 (hoặc A.1250)

M

Bản A.2636 (hoặc A.2636)

N

Bản A.1308 (hoặc A.1308)

O

Bản A.1757 (hoặc A.1757)

CNTVT


cứu các tư liệu Hán Nôm để hiểu thêm các vấn đề như triều cống, sách phong, sự
nhu cương khôn khéo trong mối quan hệ ngoại giao, sự giao lưu văn hóa, kinh tế
với Trung Hoa là việc làm cần thiết.
1.2. Lý Văn Phức 李文馥 (1785-1849) là một vị quan ngoại giao xuất sắc
của triều Nguyễn. Bên cạnh đó, ông cũng là một tác gia văn học nổi tiếng của nhà
Nguyễn với một di sản thơ văn đồ sộ cả chữ Hán và chữ Nôm. Trong đó, nổi bật là
các tác phẩm liên quan đến các chuyến đi nước ngoài, được sáng tác trong mười năm
hải ngoại từ tây sang đông (1831-1841). Các tác phẩm của Lý Văn Phức được nhiều
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Các nghiên cứu đã đề cập đến cuộc
đời, hành trạng làm quan, đi sứ, hệ thống các tác phẩm gắn với những chuyến đi
trong nghiên cứu mối quan hệ bang giao Việt Nam và Trung Hoa thế kỉ XIX; và hình
ảnh đất nước, con người Trung Hoa qua góc nhìn của Lý Văn Phức. Tuy nhiên đóng
góp này so với số lượng thơ văn sứ trình của ông để lại hiện quả là chưa tương xứng.
1.3. Chu Nguyên tạp vịnh thảo (CNTVT) 周原雜詠 tuy không đề là “Hoa
trình” hay “Sứ trình” nhưng là tập thơ được sáng tác trong chuyến đi sứ tới Yên
Kinh, cũng là chuyến đi ngoại giao cuối cùng trong cuộc đời Lý Văn Phức. Tác
phẩm vừa là sự nối tiếp mạch thơ con đường đi sứ đến Yên Kinh (Bắc Kinh) của
các sứ thần ta từ buổi đầu dựng nước, vừa có tính chất kết thúc sự nghiệp thơ ca sứ
trình của Lý Văn Phức. Thông qua nghiên cứu văn bản tác phẩm này, các nhà
nghiên cứu có thể định hình được diện mạo và tài năng thơ văn của tác giả một cách
đầy đủ hơn. Nhưng đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ

1


thống về tình hình văn bản, cũng như về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Luận án sẽ tiến hành nghiên cứu để khỏa lấp phần nào mảng còn thiếu đó.
1.4. Trong thời đại hội nhập, đối thoại và giao lưu quốc tế rộng mở như hiện
nay, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di sản Hán Nôm càng trở nên cấp thiết. Thời cuộc
mới yêu cầu những người nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm tiếp tục nghiên cứu văn

có 1 bản và Thư viện Quốc gia Việt Nam có 1 bản.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Bao quát tình hình bang giao triều Nguyễn và triều Thanh, trong đó có những
chuyến đi sứ, đi công cán của Lý Văn Phức, đặc biệt là chuyến đi sứ năm 1841 của
ông. Tập trung khảo sát những vấn đề văn bản học của 14 văn bản tác phẩm CNTVT
hiện lưu giữ tại Hà Nội và xác định bản tin cậy để phiên dịch và công bố. Từ đó,
nghiên cứu, phân tích, đánh giá và nêu lên những giá trị tác phẩm CNTVT trong
dòng thơ đi sứ thế kỷ XIX và thơ đi sứ trung đại Việt Nam.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Trong quá trình thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu:
- Phương pháp văn bản học Hán Nôm là phương pháp chủ đạo được vận
dụng nhằm xác lập hệ văn bản CNTVT, giám định niên đại, tác giả, quá trình truyền
bản, từ đó xác định văn bản tốt nhất để giới thiệu và công bố.
- Phương pháp định lượng thống kê số lượng bài, số lượng các dị văn trong
các bài thơ; từ đó đưa ra những phân tích biện luận về các dị văn và đưa ra những
nhận định tin cậy cho các dị văn.
- Phương pháp thông diễn học (thuyên thích học), được sử dụng để giải mã,
biên dịch ... làm nổi bật các thông tin từ tác phẩm một cách tối đa và có chiều sâu. Theo
phương pháp này, vấn đề minh giải văn bản được xem xét trong các mối quan hệ của
văn bản và liên văn bản, giúp người đọc hiểu được tác phẩm.
- Phương pháp nghiên cứu văn học sử với định hướng khai thác giá trị thi ca,
giá trị sử liệu của tác phẩm CNTVT.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành nhằm nêu ra những giá trị lịch sử, văn
hóa, văn học, phong tục tập quán, v.v… được thể hiện trong tác phẩm CNTVT.
Luận án có sử dụng các thao tác phân tích tổng hợp, với mục tiêu tổng thuật
tình hình nghiên cứu về tác giả Lý Văn Phức và nhóm văn bản CNTVT, đưa ra

3


Chương 3: Khảo sát văn bản Chu Nguyên tạp vịnh thảo
Chương 4: Giá trị của tác phẩm Chu Nguyên tạp vịnh thảo

4


NỘI DUNG
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Trong chương tổng quan, luận án tổng kết lại những nghiên cứu có liên quan
đến đề tài, cụ thể là: nghiên cứu về tác giả Lý Văn Phức trên các phương diện thân
thế, sự nghiệp của ông; các nghiên cứu về văn bản và tác phẩm CNTVT cả trong
nước và nước ngoài. Trên cơ sở đánh giá những nghiên cứu đi trước, luận án nêu ra
những vấn đề còn bỏ ngỏ cần tiến hành nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của
đề tài. Trong chương này, luận án tiến hành giới thuyết một số khái niệm được sử
dụng trong quá trình nghiên cứu.
1.1.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1. Nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp và trước tác của Lý Văn Phức
Lý Văn Phức là một nhân vật tương đối đặc biệt của triều Nguyễn ở giai
đoạn đầu thế kỉ XIX. Ông vừa một vị quan ngoại giao, vừa là một tác gia văn học
và con đường hoạn lộ có nhiều thăng giáng. Vậy nên các nhà nghiên cứu rất quan
tâm đến nhiều vấn đề liên quan đến ông như: thân thế, sự nghiệp và trước tác. Trong
phần tư liệu mà chúng tôi khảo sát, các công trình nghiên cứu đã tập trung vào
những vấn đề như sau:
1.1.1.1. Các công trình biên mục, thư mục
Các bộ sử triều Nguyễn đều ghi chép những sự kiện trong cuộc đời làm quan
ngoại giao của Lý Văn Phức. Chi tiết, đầy đủ nhất phải kể đến Đại Nam thực lục
chính biên do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Bộ sách ghi chép theo lối biên
niên những thông tin liên quan đến Lý Văn Phức từ khi thi đỗ, làm quan đến khi

có lẽ do nhầm lẫn, vì thực tế sự kiện này xảy ra năm 1831 khi Lý Văn Phức đi công
cán đến Phúc Kiến. Sách chép năm 1841, trong chuyến đi sứ Yên Kinh, khi đến
công quán ở Trung Quốc, Lý Văn Phức thấy biển hiệu do quan địa phương ở đó đề
bốn chữ “Việt Di hội quán”. Ông đã giận dữ, “chê trách quan nước bạn, giọng nói
và sắc mặt đều rất nghiêm nghị, không chịu vào trong quán. Quan bạn sai người xóa
chữ Di đi mới chịu vào quán.” [110, tr. 506] Lý Văn Phức làm bài Di biện luận
(biện luận về Di) để tỏ rõ thái độ. Lời lẽ sắc sảo có đoạn viết “Việt Nam vốn dòng
Thánh đế họ Thần Nông, là tộc Hoa Hạ, không phải Di vậy. Đạo học theo thầy

6


Khổng, Mạnh, Trình, Chu. Pháp độ theo đời Chu, Hán, Đường, Tống. Chưa từng
kết tóc, khép vạt áo trái như phong tục của người Di… Sao lại coi ta là Di được
đây”. Người Thanh “thẹn mà xin lỗi” [110, tr. 506]. Những bộ quốc sử đều là
những tài liệu đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp làm quan nhiều thăng giáng mà không
ít thành tựu của Lý Văn Phức.
Trong Lược truyện các tác gia Việt Nam tập 1 xuất bản năm 1971, ở mục Lý
Văn Phức, tác giả Trần Văn Giáp giới thiệu về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác. Cụ thể
Trần Văn Giáp đã đưa ra danh mục 12 trước tác của Lý Văn Phức và có chú thích
ngắn gọn về lĩnh vực nội dung (văn – sử - địa) hoặc văn tự (Hán - Nôm). 12 tác
phẩm đó là: Tây hành kiến văn kỉ lược (sử, văn, địa); Việt hành ngâm (văn); Kính
hải tục ngâm (văn); Chu Nguyên tạp vịnh thảo (văn); Sứ trình chí lược thảo (văn, sử);
Xuyết thập tạp ký (văn); Sứ trình tiện lãm khúc (Nôm); Nhị thập tứ hiếu diễn ca (Nôm);
Bản quốc ký sự lược biên (sử); Ngọc Kiều Lê tân truyện (văn, Nôm); Mân hành thi
thảo (văn). So với khối lượng trước tác của Lý Văn Phức thì danh mục 12 tác phẩm
này chưa thật đầy đủ, mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu ngắn gọn về Lý Văn Phức [21,
tr. 391]. Về mặt giá trị của các tác phẩm của Lý Văn Phức, Trần Văn Giáp đã chỉ ra giá
trị cốt lõi của hàng loạt các tác phẩm văn chương được sáng tác trong các chuyến đi
hiệu lực, công cán và đi sứ và ông cho rằng: “chúng ta có nhiều phái đoàn đi ra nước

tác cụ thể, năm sáng tác hoặc nội dung cơ bản. Trần Hải Yến cho rằng, những sáng
tác bằng chữ Nôm của Lý Văn Phức gồm 2 mảng: một là những tập thơ hoặc ghi
chép bằng chữ Nôm, song song với với các tác phẩm chữ Hán (Sứ trình tiện lãm
khúc, Chu hồi trở phong thán, Hồi kinh nhật trình); hai là thơ ca với mục đích gia
huấn (Tự thuật phú, Bất phong lưu truyện, Phụ châm tiện lãm, Nhị thập tứ hiếu diễn
ca); diễn âm một số tác phẩm Trung Hoa thành truyện thơ Nôm (Tây Sương, Ngọc
Kiều Lê, Nhị Độ mai diễn ca, Cừu Đại Nương Trương Văn Thành diễn nghĩa…).
Tính đến nay, đây là công trình từ điển biên soạn về các trước tác của Lý Văn Phức
chi tiết và đầy đủ hơn cả. Những thông tin rất có giá trị, cung cấp cho người đọc cái
nhìn tổng thể về danh mục sáng tác, tình hình văn bản và nội dung cơ bản của mỗi
tác phẩm. Về thơ văn chữ Hán, Trần Hải Yến khẳng định: chúng “giúp cho người
đọc hiểu được cảm xúc và suy nghĩa của tác giả trên con đường sứ trình những cảnh
ngộ gian truân giữa biển cả và những điều mới mẻ mà ông tận mắt nhìn thấy bên
ngoài cương giới nước nhà”[126, tr. 927]. Vì vậy, đây là những cứ liệu quý để tìm
8


hiểu tâm thế của tầng lớp nhà nho trong hoàn cảnh xuất ngoại ngoại giao. Ở những tác
phẩm Nôm, “tuy phần sáng tạo của ông không nhiều nhưng sự xuất hiện của một loạt
truyện thơ Nôm như vậy đã làm rõ thêm xu hướng sáng tác, làm phong phú thêm diện
mạo một thể loại văn chương dân tộc trong thời đại bấy giờ” [120, tr. 928]. Tổng kết
lại, Trần Hải Yến đánh giá: Lý Văn Phức là một tác gia lớn cả về chữ Hán và chữ
Nôm. Đặc điểm nổi bật trong thơ văn của ông là “nhiều nét đời thường cả trong tả và
cảm xúc”. Xét về đóng góp, những tác phẩm của ông trên từng thể loại không có đóng
góp kiệt xuất, những bước phát triển có tính bước ngoặc trong lịch sử phát triển văn
học trung đại, nhưng “sự tài hoa, bút lực dồi dào và đa dạng” ở ông đã minh chứng rõ
nét hơn cho diện mạo văn học giai đoạn này.
Năm 2010, Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Khoa học xã hội Việt
Nam hợp tác với Viện Nghiên cứu văn sử thuộc Đại học Phúc Đán Thượng Hải
(Trung Quốc) tiến hành sưu tập, chỉnh lý, biên tập và xuất bản các tư liệu thư tịch

mà lại có tài ngoại giao nên mấy lần được phái đi công cán ở các lân bang. Còn về
việc thăng giáng trong họa đồ của ông, chúng ta không lấy làm lạ, hầu hết các bậc
tài lỗi lạc làm quan trong thời kỳ ấy đều ngộ…Lý Văn Phức tuy bận về công vụ mà
vẫn không quên cái trách nhiệm tối cao của nhà Nho” [30, tr. 15 - 16]. Như vậy là
Lý Văn Phức trong sự đánh giá của Dương Quảng Hàm là nhà danh nho sinh thời
loạn lạc, có tài văn chương, và ngoại giao.
Công trình Lý Văn Phức [5], Hoa Bằng biên soạn năm 1953, là chuyên khảo
công phu, chi tiết, toàn diện về cuộc đời và sự nghiệp Lý Văn Phức. 70 trang sách
trình bày 9 chương, cụ thể là: Tiểu sử, Cá tính, Thời đại, Tác phẩm tiếng Việt, Tư
tưởng, Nghệ thuật, Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Trích giảng, Tổng kết. Chương I, Tiểu
sử giới thiệu nhiều thông tin: tên tự, tên hiệu, ngày tháng năm sinh, quê quán, lược
thuật nhiều sự nghiệp quan trường, các chức quan Lý Văn Phức đã giữ, những
thăng giáng ông đã trải qua. Những thông tin này đều thống nhất với tài liệu mà
chúng tôi đã khảo sát được. Đặc biệt ở đây có những chi tiết tác giả Hoa Bằng chú
thích thêm về Lý Văn Phức rất thú vị: Tên tự của ông là Lân Chi “láng giềng với
cây chi”, một giống thuộc loài lan, vì tên ông có nghĩa là thơm “Phức”, nên mới đặt
tự cho hợp với danh như vậy” [5, tr. 7]. Hay về ngày sinh của ông, ngày mồng 1
tháng 10 “Theo bài Thập nguyệt, sóc, tiện đản, cảm thành ở tập Kính hải tục ngâm”

10


[5, tr. 7]. Chương này có chi tiết về ngoại hình của Lý Văn Phức do chính ông tự
miêu tả trong bài tự ông viết cho tập Chu Nguyên tạp vịnh thảo:“… Nghĩ mình chưa
đầy 60, thế mà râu tóc đã bạc phơ, cặp mắt đã mờ yếu, như thể ông lão 70 vậy!” [5,
tr. 8]. Những chi tiết này đều rất giá trị, giúp người đọc hiểu thêm về con người, tiểu
sử Lý Văn Phức, thêm cơ sở để giải mã những sáng tác văn chương của ông.
Chương II trình bày 5 nét tính cách mà tác giả Hoa Bằng đánh giá là nổi bật ở con
người Lý Văn Phức: thanh đạm, khiêm tốn, tín ngưỡng, tình bạn, đấu tranh. Mỗi nét
cá tính đều được minh chứng qua những sáng tác của Lý Văn Phức hoặc những sự

sáng tác của Lý Văn Phức. Ngoài tác phẩm chữ Hán những sáng tác bằng chữ Nôm
của ông không ít và đạt thành tựu đáng kể. Hoa Bằng rất coi trọng những sáng tác
bằng chữ Nôm của Lý Văn Phức và đánh giá cao vai trò của ông trong phong trào
dùng tiếng mẹ đẻ làm thơ, viết văn. Sách dành chương IV để bàn về các tác phẩm
tiếng Việt của Lý Văn Phức. Chương này đề cập đến danh mục tác phẩm bằng chữ
Nôm với 7 sáng tác: Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Sứ trình tiện lãm khúc, Tự thuật ký,
Phụ châm tiện lãm, Bất phong lưu truyện, Chu hồi trở phong thán, Thiên tự văn
diễn âm…, cụ thể là giới thiệu ba bài ký Tự thuật ký, Bất phong lưu truyện, Chu hồi
trở phong thán. Kết lại chương này, Hoa Bằng nhận định “Qua mấy tác phẩm trên,
ta nhận thấy tác giả Lý Văn Phức là người kính cẩn, giữ gìn, trung hiếu, đáng làm
tiêu biểu cho lớp người nho học thuần túy ở đương thời. Bấy giờ mới là đầu thế kỷ
XIX, thế mà tác giả đã biết yêu chuộng tiếng mẹ, để ý viết nhiều thể văn: lục bát có,
song thất có và biền ngẫu cũng có. Mà thể văn nào tác giả cũng thành công trong sự
chải chuốt và chặt chẽ”[5, tr. 28]. Rõ ràng đánh giá này cho thấy sự coi trọng những
tác phẩm viết bằng chữ Nôm của Lý Văn Phức và khẳng định bút lực dồi dào, đa
dạng của ông. Chương V Tư tưởng, thông qua các tác phẩm chữ Hán và Nhị thập tứ
hiếu diễn âm, Hoa Bằng tìm hiểu về tư tưởng ở nhà nho Lý Văn Phức. Tác giả cho
rằng điểm nổi bật trong tư tưởng Lý Văn Phức là “sùng bái thánh hiền Trung
Quốc”, từ đó dẫn đến thái độ thận trọng và không tiếp nhân văn hóa phương Tây:
miệt thị văn tự Tây Dương. Ông gọi tiếng Anh là “phiên ngữ”, gọi những người này
là “Di địch”. Từ nội dung của Nhị thập tứ hiếu diễn âm, Hoa Bằng cho rằng Lý Văn
Phức là người có tư tưởng “tin trời”, quan niệm về đạo hiếu “gia đình là đơn vị
trung tâm của xã hội, mà cha con là đạo rất trọng trong ngũ luân” [5, tr. 34]. Rõ
ràng thông qua một tác phẩm đi đến kết luận như vậy về tư tưởng tác giả là khiên

12


cưỡng và phiến diện. Ở chương VI tác giả tiếp tục thông qua Nhị thập tứ hiếu để
nhận định về giá trị nghệ thuật thơ văn Lý Văn Phức. Cụ thể, nghệ thuật thơ văn


văn tịch Hán Nôm để dựng lại phả hệ gia đình, dòng họ Lý Văn Phức. Con đường
làm quan sớm được trọng dụng nhưng cũng nhiều thăng trầm. Thông qua các bảng
biểu, tác giả luận án đưa ra một cách nhìn toàn diện về cuộc đời Lý Văn Phức từ khi
sinh ra, đi học, thi đỗ, làm quan, đặc biệt là sự nghiệp đi sứ cùng những con đường
đi sứ đông tây của ông. Tác giả có những nhận định xác đáng về ảnh hưởng của gia
đình, những biến động thời đại đến con người và sáng tác thơ văn của Lý Văn Phức.
Trong luận án, Nguyễn Thị Ngân đã đưa ra một bảng danh mục tác phẩm của Lý
Văn Phức, đó là: 17 tập viết bằng chữ Hán bao gồm cả thơ, ký, phú… 14 tác phẩm
viết bằng chữ Nôm bao gồm các thể loại ký, truyện, diễn ca, khúc ngâm … 6 tác
phẩm về văn hóa lịch sử khác gồm có gia phả, sử ký… và 7 tác phẩm được cho là
soạn chung với các tác giả khác. Mỗi tác phẩm đều được chú thích về tình trạng văn
bản và giới thiệu đôi nét về nội dung hoặc hoàn cảnh sáng tác. Luận án đã lập một
bảng danh mục 26 tác phẩm Lý Văn Phức sáng tác trong các chuyến đi nước ngoài,
có chú về thể loại, năm sáng tác và văn tự. Danh mục này đã cho thấy một cái nhìn
tổng quát về sự nghiệp sáng tác của một vị quan ngoại giao có tài thơ văn. Trong đó
có đến 15 tác phẩm được Lý Văn Phức sáng tác về những chuyến đi sứ sang Trung
Quốc bao gồm cả thơ, văn, phú… Đây là bộ phận thơ văn này quan trọng trong sự
nghiệp sáng tác của ông. Luận án đã giải quyết một cách triệt để tình hình văn bản
của tác phẩm Tây hành kiến văn kỷ lược, cho đến việc dịch, chú công phu tỉ mỉ tác
phẩm ký này.
Ở nước ngoài, Trần Ích Nguyên, giáo sư Trường Đại học Thành Công, Đài
Loan (Trung Quốc) là một chuyên gia nghiên cứu về Lý Văn Phức. Ông là tác giả
của cuốn sách Việt Nam Hán tịch văn hiến thuật luận (Trung Hoa thư cục xuất bản
năm 2013) được dịch sang tiếng Việt với nhan đề Thuật bàn về tư liệu sách chữ
Hán ở Việt Nam [59]. Sách gồm 12 chương thì có tới 4 chương, tác giả nghiên cứu
khảo sát về Lý Văn Phức và các sáng tác của ông. Chương 6 Danh Nho Việt Nam
Lý Văn Phức chu du các nước và cuộc tranh biện về Hoa, Di. Chương này nhằm trả
lời cho hai vấn đề: Một là số lần ra nước ngoài, lộ trình, nhiệm vụ của Lý Văn Phức
từng chuyến đi là gì? Và trong những chuyến tiếp xúc với người nước ngoài, Lý

Loan. Chương này Trần Ích Nguyên đã giải quyết được những vấn đề sau: đưa ra
một bảng danh mục các tác phẩm đi sứ của Lý Văn Phức. Theo đó, Lý Văn Phức có
26 tác phẩm cả chữ Hán và chữ Nôm trong khoảng thời gian 11, 12 năm hải ngoại.

15


Bảng thống kê có chú rõ: địa danh nơi sáng tác, năm sáng tác, văn tự, tác giả (Lý
Văn Phức hoặc sáng tác chung với bạn văn). Vấn đề thứ hai làm mối duyên thơ giữa
Lý Văn Phức và Thái Đình Lan. Mặc dù không trực tiếp giao lưu cùng nhau nhưng
thông qua những người bạn văn của Lý Văn Phức ở Phúc Kiến, những bạn thơ của
Thái Đình Lan ở Việt Nam mà Trần Ích Nguyên nhận ra mối liên hệ, sự đồng điệu
giữa hai vị quan ngoại giao này. Phụ lục chương này có dịch giới thiệu bài ký
Thạch tầm tịch thoại ký trong Mân hành thi thoại của Lý Văn Phức. Chương 8 là
bài viết Văn hóa ẩm thực Châu Á đầu thế kỷ XIX dưới ngòi bút Lý Văn Phức Việt
Nam. Thông qua các tư liệu Hán Nôm Lý thị gia phả và những sáng tác thơ văn của
Lý Văn Phức, Trần Ích Nguyên cho rằng “Lý Văn Phức là người không coi trong
việc ăn ngon, hơn nữa là thơ viết nhiều hơn văn” vậy nên những tác phẩm đi sứ dù
phản ánh nhiều mặt của cuộc sống nhưng viết về chủ đề ẩm thực thì khá ít ỏi. Tuy
vậy, những vần thơ đó vẫn là những minh chứng quý giá về văn hóa ẩm thực Đông
Nam Á và Nam Á trong năm 1830, đó là những ghi chép vụt vặt mà chúng ta có thể
lượm lặt được trong Tây hành thi kỷ: người Bồ Đà ở Nam Á kiêng ăn thịt bò, một
quốc đảo trên biển thuộc Nam Á ăn đồ sống…Chỉ đến Tây hành kiến văn kỷ lược,
vấn đề ẩm thực mới được ghi chép một cách hệ thống và chặt chẽ trong mục Ẩm
thực, với ba nội dung thói quen ăn uống, phong tục uống rượu và cách hút thuốc.
Nhiều điều mới mẻ, khác lạ, được ghi lại một cách thú vị. Đây là những nội dung
thực sự giá trị cho các nhà nghiên cứu sau này. Căn cứ các cứ liệu thi văn, trong
sáng tác của Lý Văn Phức, người sau còn đọc được văn hóa ẩm thực Philippines
năm 1832 và văn hóa ẩm thực Trung Quốc từ năm 1831 đến 1841. Phần phụ lục, tác
giả đưa ra dịch giới thiệu các bài: Lữ Tống phong tục ký (Bút ký về phong tục Lữ

Lý Văn Phức và mối quan hệ Thanh - Việt đầu thế kỉ XIX “越南使臣李文馥与 19
世纪初清越关系研究” [165].
Tựu chung lại, những nghiên cứu này đã cho thấy Lý Văn Phức và những
sáng tác bang giao của ông thể hiện đặc trưng tiêu biểu của thơ văn bang giao. Thứ
nhất là tinh thần dân tộc, ý thức thức tự tôn dân tộc một cách kiên định. Với tinh
thần đó và sứ mệnh ngoại giao, Lý Văn Phức không làm nhục “quốc thể” mà còn
khẳng định vị thế của dân tộc. Thứ hai, ông đi nhiều và quảng giao, mối duyên thơ
văn giữa những sứ thần với các văn nhân nước bạn rất thú vị. Thứ ba, thơ văn đi sứ

17


ở giai đoạn triều Nguyễn nói chung và của Lý Văn Phức nói riêng có sự nới rộng
phạm vi phản ánh hiện thực.
1.1.1.3. Các bài tạp chí và kỷ yếu hội thảo
Theo trình tự thời gian, chúng tôi điểm lại những bài viết công bố trên tạp chí
và các kỷ yếu hội thảo về Lý Văn Phức.
Năm 1981, tác giả Nguyễn Đổng Chi trong bài viết “Lý Văn Phức, cây bút
luận chiến ngoại giao cứng cỏi” [125, tr. 530] trên cơ sở tìm hiểu thơ đi sứ và tập
Mân hành thi thoại 閩行詩話 đã khẳng định Lý Văn Phức là vị sứ thần “không làm
nhục sứ mệnh”, một nhà văn tài hoa đầy dũng khí và lòng tự trọng. Mân hành thi
thoại được làm trên đường đi sang đất Mân (Phúc Kiến, 1831), là những sáng tác
thơ, phú, luận kèm lời dẫn rất giá trị, đặc biệt là bài Di biện luận nổi tiếng và còn là
tác phẩm mang tính tư tưởng cao. Những tác phẩm này thể hiện con người tác giả
dám nói dám làm, không chịu lùi bước trước mọi khó khăn phức tạp. Cuốn sách là
tư liệu lịch sử, phản ánh thói kì thị chủng tộc, trịch thượng kiểu nước lớn của quan
lại địa phương Trung Quốc. “Đứng trước thái độ đó, sứ thần ta có những màn đáp
trả ngoan cường, lí thú” [125, tr. 530].
Năm 1988, Nguyễn Đăng Na có bài viết “Tây hành kiến văn kỷ lược của Lý
Văn Phức” được đăng trên tạp chí Tác phẩm mới. Đến năm 2001, bài viết có bổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status