Luận án Tiến sĩ Hán Nôm: Nghiên cứu văn bản Then cấp sắc Nôm Tày tại Viện nghiên cứu Hán Nôm - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN TUÂN

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN THEN CẤP SẮC NÔM TÀY
TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM

Hà Nội - 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN TUÂN

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN THEN CẤP SẮC NÔM TÀY
TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Ngành: Hán Nôm
Mã số: 9 22 01 04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM

Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. Nguyễn Tá Nhí


NCS

Nguyễn Văn Tuân


KÍ HIỆU VIẾT TẮT
ĐH.

: Đại học

ĐHSP.

: Đại học sư phạm

KHXH.

: Khoa học xã hội

NCS.
Nxb.

: Nghiên cứu sinh
: Nhà xuất bản

Tr.

: Trang

VHTT.


2.3.2. Phân loại chữ Nôm Tày trong văn bản Then cấp sắc .....................................59
2.3.3. Đặc điểm chữ Nôm Tày trong văn bản Then cấp sắc .....................................69
Tiểu kết chương 2: ....................................................................................................71
Chương 3: NGHIÊN CỨU “ĐƯỜNG THEN” TRONG VĂN BẢN THEN CẤP SẮC
NÔM TÀY ......................................................................................................... 73
3.1. Một số vấn đề cơ bản về “đường Then” và “đường Then cấp sắc” ...................73
3.1.1. Khái niệm “đường Then” và “đường Then cấp sắc”.....................................73
3.1.2. Những quy định dùng để cấp sắc cho Then ....................................................75
3.1.3. Một số bài thỉnh ban đầu của buổi lễ cấp sắc ................................................79
3.2. Tìm hiểu “đường Then” trong văn bản Then cấp sắc Nôm Tày ........................82
3.2.1. Thống kê, so sánh những khúc hát trong văn bản Then cấp sắc ....................83
3.2.2. Trình tự các khúc hát trong văn bản Then cấp sắc .........................................85
3.2.3. Nội dung của những khúc hát trong văn bản Then cấp sắc ............................95


3.3. Đặc trưng của “đường Then” trong văn bản Then cấp sắc Nôm Tày ..............103
3.3.1. Đặc trưng về hình thức .................................................................................103
3.3.2. Đặc trưng về nội dung...................................................................................106
Tiểu kết chương ba: .................................................................................................108
Chương 4: NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ CỦA VĂN BẢN THEN CẤP SẮC NÔM TÀY 109
4.1. Giá trị nội dung ................................................................................................109
4.1.1. Phản ánh những vấn đề về đời sống xã hội của người Tày trong quá khứ ..............109
4.1.2. Phản ánh những vấn đề về văn hóa tín ngưỡng............................................117
4.2. Giá trị nghệ thuật ..............................................................................................128
4.2.1. Vấn đề thể loại ..............................................................................................128
4.2.2. Thủ pháp tu từ ...............................................................................................131
4.2.3. Nghệ thuật sử dụng điển cố ...........................................................................135
4.3. Thực trạng việc sử dụng và vấn đề bảo tồn văn bản Then cấp sắc hiện ..........139
4.3.1. Thực trạng việc sử dụng văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày ở địa
phương hiện nay ......................................................................................................139

không những làm rõ thêm vấn đề nội dung trong Then cấp sắc, mà còn góp phần
bảo tồn, phát huy những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Tày nói riêng, dân tộc Việt
Nam nói chung. Điều này phù hợp với quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước
về chủ trương xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Dựa trên các kết quả nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi thống kê được
06 văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu
Hán Nôm (VNCHN). Số lượng văn bản này tuy chưa phải là nhiều, nhưng qua khảo
sát, nghiên cứu cho thấy được bức tranh toàn cảnh của Then cấp sắc Tày. Xuất phát
từ những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Nghiên cứu văn bản Then cấp
1


sắc Nôm Tày tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm” làm đề tài cho luận án Tiến sĩ
chuyên ngành Hán Nôm.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trong luận án này, mục đích nghiên cứu của chúng tôi là hướng tới giải quyết
những vấn đề về văn bản học của Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày, tiến hành
xác định bản tin cậy và nghiên cứu giá trị nội dung phản ánh trong văn bản Then
cấp sắc. Kết quả của việc nghiên cứu này, góp phần bảo tồn và phát huy văn bản
Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày nói riêng và văn bản chữ Nôm Tày nói chung.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi đặt nhiệm vụ nghiên cứu
của luận án như sau:
- Hệ thống hóa các văn bản Then cấp sắc hiện lưu trữ tại VNCHN, giới thiệu
văn bản, so sánh và đối chiếu văn bản, xác định bản tin cậy để khảo sát, nghiên cứu.
- Nghiên cứu đặc điểm văn bản, kết cấu văn bản, chữ Nôm, xác định số lượng
các chương, khúc hát trong các văn bản; từ đó xác định khái niệm “đường Then” và
“đường Then cấp sắc” ghi chép trong văn bản Then cấp sắc.
- Nghiên cứu giới thiệu giá trị của văn bản Then cấp sắc trong đời sống văn

học) cũng được sử dụng để giải thích, giải nghĩa, hay diễn dịch các bản văn Then
cấp sắc, từ các vấn đề về văn bản, ngôn ngữ, lời nói, v.v… Đây là một phương pháp
giúp chúng ta thấu hiểu văn bản và minh giải văn bản sâu hơn.
- Phương pháp văn tự học: Dựa vào lý thuyết cấu tạo chữ Nôm của các học giả
đi trước, phương pháp văn tự học được sử dụng nghiên cứu cấu trúc chữ Nôm Tày
cũng như xác định hệ thống chữ Nôm Tày trong văn bản, như chữ Nôm Tày tự tạo,
chữ Nôm Tày mượn chữ Nôm Kinh (Việt) và chữ Nôm Tày mượn chữ Hán trong
văn bản Then cấp sắc.
- Phương pháp định lượng: Nhằm hệ thống hóa, thống kê số lượng các
chương, khúc hát Then cấp sắc, những chữ Nôm thuần Tày, chữ Nôm Tày vay
mượn (Kinh và Hán); từ đó, đưa ra những biện luận, phân tích để xác định độ tin
cậy của tư liệu trong văn bản. Thao tác thống kê được sử dụng xuyên suốt luận án,
các kết quả thống kê là những số liệu cụ thể và chính xác, từ đó đưa tới những nhận
định đáng tin cậy. Ngoài ra, luận án cũng sử dụng những thao tác như phân tích,
tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh, v.v... trước khi đưa ra những nhận xét về văn
bản Then cấp sắc.

3


- Phương pháp liên ngành: Nhằm khai thác những giá trị lịch sử, giá trị văn
hóa, văn học, tôn giáo, phong tục tập quán, v.v… được thể hiện qua các văn bản
Then cấp sắc.
5. Đóng góp của luận án
Việc nghiên cứu nhóm văn bản Then cấp sắc viết bằng chữ Nôm Tày hiện lưu
trữ tại Viên Nghiên cứu Hán Nôm đem lại những kết quả như sau:
- Góp phần giới thiệu, phân tích khái niệm Then và Then cấp sắc, cũng như
văn bản Then nói chung và văn bản Then cấp sắc nói riêng.
- Giới thiệu đặc điểm văn bản Then cấp sắc của dân tộc Tày, xác định văn bản
tin cậy để nghiên cứu và giới thiệu. Việc làm này sẽ gợi mở cho việc nghiên cứu

7. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục; luận án có bố
cục chia làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 2: Khảo sát văn bản Then cấp sắc Nôm Tày tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Chương 3: Nghiên cứu “đường Then” trong văn bản Then cấp sắc Nôm Tày
Chương 4: Nghiên cứu giá trị của văn bản Then cấp sắc Nôm Tày

5


Chương 1
TỔNG QUAN TÌ NH HÌ NH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Then nói chung và Then cấp sắc nói riêng là thuộc loại hình dân ca nghi lễ, đã
được các nhà nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ, Hán Nôm... quan tâm nghiên cứu, giới
thiệu ở các góc độ khác nhau. Ở chương này chúng tôi sẽ giới thiệu khái quát về đời
sống văn hóa của người Tày, Then và Then cấp sắc của người Tày; đồng thời, tổng
quan về các công trình đã nghiên cứu về Then Tày nói chung, Then cấp sắc của
người Tày nói riêng. Từ đó, chúng tôi có những đánh giá về những thành tựu của
những công trình nghiên cứu của những người đi trước, để kế thừa và định hướng
triển khai nghiên cứu của luận án.
1.1. Khái quát về dân tộc Tày, Then và Then cấp sắc
1.1.1. Vài nét về đời sống văn hóa của dân tộc Tày
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, người Tày có số dân đông thứ hai
sau người Kinh (1.626.392 người)1, sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía
Bắc Việt Nam và một số tỉnh thuộc Tây Nguyên như Đăk Lăk, Lâm Đồng. Ở các
tỉnh miền núi phía Bắc, người Tày cư trú chủ yếu ở các thung lũng màu mỡ, có độ
cao trung bình, thuận tiện cho việc trồng trọt, chăn nuôi và ổn định cuộc sống.
Về phương diện cội nguồn lịch sử, người Tày “vốn thuộc chung một nhóm Âu

trên những “loỏng” (máng gỗ) rồi mới đưa thóc về nhà. Ngoài lúa nước, người Tày
còn trồng lúa cạn, hoa màu, cây ăn quả... Bên cạnh việc trồng trọt còn có chăn nuôi
phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm. Thủ công nghiệp là nghề phụ trong các
gia đình. Nhiều nghề thủ công lâu đời đã đạt tới một trình độ kỹ xảo cao, như: Thổ
cẩm ở Hòa An, Hà Quảng (Cao Bằng) cho nhiều mặt hàng dùng làm mặt chăn, địu
trẻ, khăn treo cửa, khăn trải bàn rất đẹp; nghề làm bàn ghế trúc ở Cao Lộc (Lạng
Sơn), Nguyên Bình (Cao Bằng) với nhiều hình mẫu bàn ăn, bàn ghế tiếp khách, bàn
thờ tổ tiên… mà càng dùng lâu thì mầu trúc càng “lên nước” vàng xẫm, bóng lộn;
nghề đan lát phổ biến trong mọi gia đình, bất cứ nhà nào cũng có thể tự đan được
những đồ dùng cần thiết trong sinh hoạt hàng ngày; nghề kéo sợi, dệt vải, bật bông,
nấu mật, ép dầu… cũng là nghề thiết yếu mà hầu hết gia đình nào cũng có.
Về phong tục tập quán và tín ngưỡng dân gian, người Tày có nhiều phong tục
đẹp thể hiện nét văn hóa độc đáo của riêng mình, như: tục nhận họ, tục nhận con
nuôi, tục kết tồng kết đẳm, tục cưới hỏi, v.v… Đối với tục nhận họ, khi gặp những
người có cùng tên họ (như Bế, Hoàng…) kể cả những người thuộc các thành phần
dân tộc khác với mình, người Tày thường kết thân nhận là người cùng họ, bởi nghĩ
rằng “tồng slính slam phăn chăn” (người cùng họ ít nhất cũng có ba phần mười là
7


thân thích rồi). Sau khi nhận họ, quan hệ hai bên trở nên thân thiết và thiêng liêng,
mọi công việc cùng nhau gánh vách trách nhiệm tựa như một thành viên trong cùng
một tông tộc. Đối với tục nhận con nuôi, khi một gia đình hiếm con hoặc không có
con, họ thường tổ chức việc nhận con nuôi, người con nuôi phải bỏ họ của mình để
lấy họ cha nuôi. Bởi vậy, con nuôi được đối xử như con đẻ, có quyền lợi và nghĩa
vụ như con đẻ. Nếu gia đình không có con trai thì con nuôi được quyền thừa tự
mang vác trọng trách đúng như con đẻ. Với tục kế tồng kết đẳm, khi gặp người có
cùng năm sinh tháng đẻ hợp tính tình (kể cả người có cùng cảnh ngộ: mồ côi, ngóa
bụa…) thì có thể kết tồng (“tồng” nghĩa là giống nhau). Còn “đẳm” là khi hai người
(có thể cùng tuổi hoặc khác tuổi) nhưng cùng tên thì gọi nhau là “đẳm”. Sự giao kết

trời. Họ là người giữ mối liên hệ giữa người trần gian với Ngọc hoàng và Long
vương. Khi họ làm Then là họ đại diện cho người của trời giúp cho người trần gian
cầu mong được sự tốt lành, được tai qua nạn khỏi v.v... tức là Then chỉ làm điều
thiện cứu giúp người trần gian [84, 7 - 41].
(4) Triều Ân thì cho rằng: Then là những khúc hát thuộc về thờ cúng (chant
cultuel) do những Then làm nghề (chan-teuse cultuelle) hát trong nghi lễ [17, 7].
(5) Hoàng Phê chủ biên, định nghĩa từ Then có ba nét nghĩa: 1/Lực lượng siêu
tự nhiên sáng tạo ra thế giới, theo quan niệm của một số dân tộc thiểu số miền Bắc
Việt Nam. 2/Người làm nghề cúng bái (thường là nữ) ở vùng các dân tộc thiểu số
nói trên. Bà Then, làm mo, làm Then. 3/Loại hình nghệ thuật tổng hợp gồm đàn,
hát, múa gắn liền với tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số nói trên. Hát Then, múa
Then. [94, 931].
(6) Từ điển bách khoa Việt Nam, giải thích: Then tên chung chỉ một loại
hình sinh hoạt văn hóa – văn nghệ dân gian của các dân tộc Tày, Thái. Tùy theo
mục đích của từng kỳ lễ mà Then có tên gọi và kiểu cách trình diễn khác nhau
như Then kỳ yên, Then cầu hoa, Then nối số, v.v… Đầy đủ nhất là Then cấp sắc
hay còn gọi là lẩu Then. Người làm Then gọi là thầy Then, khi đã già, muốn nghỉ
thì làm lễ Then cáo lão. Then có nguồn gốc từ niềm tin của con người vào sự tồn
tại của các siêu linh trong các thế giới trên trời, trên mặt đất và dưới nước. Khi
con người ốm tức là hồn hay vía của họ bay vào các thế giới đó. Muốn khỏi bệnh
họ phải nhờ đến các thầy Then. Các thầy Then dùng giọng hát dẫn đường cho âm
binh đi đến tất cả các thế giới nói trên để tìm hồn trả về cho thân xác và người
ốm sẽ khỏi bệnh. [130, 198].

9


(7) Nguyễn Thị Yên trong cuốn Then Tày sau khi phân tích sự tương đồng
giữa tên gọi Then (đọc trại từ chữ Hán ... thiên - trời) với các hình thức cúng bái
tương tự của người Tày, Nùng, Thái như Pụt, Sliên, Một mà đã đưa ra giả định


thì họ học thuộc lời Then thông qua truyền khẩu. Riêng đối với dòng Then nam
(còn gọi là “slàng” hoặc “dàng”) vì các thầy biết chữ (Nôm Tày) nên có thể học
nghề bằng cách ghi chép lại các lời hát trong nghi lễ Then để học và truyền lại cho
đời sau.
Theo đó, văn bản Then nói chung và văn bản Then cấp sắc nói riêng, là những
lời hát của Then thực hiện được văn bản hóa bằng chữ Nôm Tày. Với ý nghĩa đó,
“văn bản Then cấp sắc” mà chúng tôi giới hạn sử dụng để khảo sát trong luận án
này là những lời hát Then cấp sắc được văn bản hóa bằng chữ Nôm Tày, được triển
khai nghiên cứu ở góc độ văn bản học, còn các hình thức nghệ thuật khác (âm nhạc,
diễn xướng,…) không được đề cập trong luận án.
1.1.2.2. Nguồn gốc của Then, người làm Then và hệ thống nghi lễ
- Về nguồn gốc của Then: Các nhà nghiên cứu đi trước như Nông Văn Hoàn,
Hoa Cương, Dương Kim Bội, Triều Ân… đều có nhận xét gần giống nhau nhưng
chưa hoàn toàn nhất quán. Sau đây, chúng tôi xin nêu ra một số những luận điểm
tiêu biểu như sau:
Nông Văn Hoàn cho rằng: Then có từ thời Lê - Mạc tức là từ cuối thế kỷ XVI,
đầu thế kỷ XVII, khi Mạc Kính Cung lên chiếm cứ đất Cao Bằng đánh lại nhà Lê
(1598 - 1625). Then do ông Bế Phùng người làng Đám Vạn (Hòa An) đặt ra; Giàng
do ông Hoàng Quỳnh người Trùng Khánh đặt ra. Hai ông đều làm quan cho nhà
Mạc và đặt ra Then, Giàng để tiến hành chầu mua vui cho vua Mạc. Vua thấy Then
múa hát làm cho mình được vui vẻ, khỏe mạnh hơn, bèn truyền cho phổ biến trong
nhân dân. Dần dần biến nó thành thứ cúng lễ cầu khấn cho được khỏi bệnh, đạt
được những ước vọng tốt lành [84, 15]. Đồng quan điểm với ý kiến này, Hoa
Cương cho biết thêm: Ông Bế Văn Phùng rất thông minh tài giỏi, am hiểu cả về
thiên văn địa lý, nên được gọi là quan Tư Thiên Quản nhạc. Còn ông Nông Quỳnh
Vân thì tài nghệ thi phú cũng rất giỏi mà còn có tài lặn xuống nước được lâu nên
nhân dân còn gọi là ông vua Ca Đáng (nghĩa là vua của loài quạ khoang chuyên lặn
bắt cá). Hai ông là bạn thân với nhau và thường xuyên xướng họa thi ca cùng nhau.
Về sau vua Ca Đáng thành lập đội xướng ca nam ở vùng Trùng Khánh gọi là Giàng,

từ Hán Việt có pha trộn tiếng Kinh [138, 19]
Như vậy, nhìn lại những đánh giá về nguồn gốc Then của các nhà nghiên cứu
đi trước, có thể nhận thấy các nhà nghiên cứu đều cho rằng, Then chính thức được
phổ biến rộng rãi vào cuối thế kỷ XVI khi nhà Mạc lên cát cứ Cao Bằng; nhưng
thực tế, trước đó đã được tồn tại trong dân gian. Luận án của chúng tôi kế thừa

12


những thành tựu nghiên cứu này. Tuy nhiên, chúng tôi thấy cần bổ sung thêm, cụ
thể như sau:
Đúng vậy, Then Tày nảy sinh từ thời đại phong kiến Việt Nam đã phát triển,
xã hội Tày đã có sự phân chia đẳng cấp rõ rệt, dân tộc Tày đã có tầng lớp trí thức
Nho học, văn hóa Tày đã có sự giao lưu rộng với các dân tộc anh em khác. Chúng ta
thấy trong Then có sự chồng chất và sự pha tạp của nhiều tầng lớp văn hóa: Tày có,
Kinh có, Hán có, cổ có, mới có, Phật giáo có, Đạo giáo... Chúng tôi cho rằng, ban
đầu sự hình thành của Then rất đơn giản, gắn với các yếu tố sinh hoạt, tập quán,
ngôn ngữ thông thường của người Tày. Dần dần các yếu tố sinh hoạt, tập quán,
ngôn ngữ của người Tày càng phát triển đưa Then phát triển phong phú hơn, điêu
luyện hơn qua những đóng góp và hoàn thiện của một số trí thức kết hợp cùng các
nghệ sĩ dân gian, mà đặc biệt là hai ông Hoàng Quỳnh Vân và Bế Văn Phụng người lập ra phường hát Then, Dàng. Chúng tôi nhất trí với quan điểm của Nguyễn
Thị Yên là khi nhà Mạc tan rã, Then ra ngoài dân gian thâm nhập vào các địa
phương khác nhau, trước hết là các khu vực kề cận như Bắc Kạn, Lạng Sơn rồi từ
đó tỏa đi các nơi khác. Dưới hình thức trao truyền bằng phương thức truyền miệng,
trải qua nhiều thế hệ mà Then đã có sự cải biến, bổ sung tùy vào từng khu vực cư
trú cụ thể [138, 227].
- Về những người làm Then: Người làm Then chủ yếu là nam giới hoặc có thể
là nữ giới và họ đều có khả năng đánh đàn tính rất thuần thục. Nhiệm vụ của họ là
thực hành các nghi lễ thờ cúng chuyển tải những thông điệp của trần gian tới thần
linh thông qua việc đàn và hát. Theo Nông Văn Hoàn trong bài “Bước đầu nghiên

nghi lễ khác nhau như: Then cầu an giải hạn, thường diễn ra vào dịp đầu năm;
Then nàng hai, thường diễn ra vào dịp Trung thu; Then cúng mụ, diễn ra vào dịp
cúng mụ khi đầy tháng sinh con; v.v… Theo cách chia hệ thống nghi lễ của Nông
Văn Hoàn [84, 7 - 41] gồm có 7 loại: 1/Then cầu mong, cầu mong được yên lành,
hạnh phúc, được sống lâu...; 2/Then chữa bệnh, nhà có người ốm đau thì mời Then
về cúng lễ; 3/Then bói toán, bói xem người ốm do ma gì quấy, do hồn vía bị thất
lạc nơi đâu để cúng cho đúng; 4/Then tống tiễn, nhà có người chết sau khi chôn
cất xong, chọn được ngày lành thì đón Then về làm lễ tiễn hồn người chết đi khỏi
nhà để không quấy rầy những người đang sống; 5/Then cầu mùa, cầu đảo, diệt
trùng, cầu cúng để mùa màng được tươi tốt; 6/Then vui mừng, chúc tụng ca ngợi,
chúc tụng những người thăng cấp có địa vị trong xã hội, hoặc làm được nếp nhà
mới, có đám cưới, sinh con đầu lòng...; 7/Then trung lễ, đại lễ cấp sắc, những
người làm Then thường 3 năm hoặc 5 năm phải làm lễ cấp sắc một lần.
14


Theo cách chia hệ thống nghi lễ qua hình thức diễn xướng của Nguyễn Thị
Yên trong cuốn Then Tày [138, 86 - 87] thì có bốn hình thức là: 1/Diễn xướng
Then chúc tụng, thường tổ chức trong các dịp vui mừng như đám cưới, vào nhà
mới; 2/Diễn xướng Then bói, là công việc thường xuyên của thầy Then; 3/Diễn
xướng Then đi hành nghề, thường được tiến hành khi có yêu cầu của gia chủ;
4/Diễn xướng hội Then (lẩu Then), là các đại lễ của Then, chủ yếu thực hiện ở nhà
thầy Then với các mục đích liên quan nghề nghiệp của nhà thầy Then.
Tuy nhiên, khi khảo sát ở các văn bản Then viết bằng chữ Nôm Tày, Trịnh
Khắc Mạnh trong bài viết “Giới thiệu các văn bản Then Nôm Tày lưu trữ tại Viện
Nghiên cứu Hán Nôm”[82, 3] đã chia hệ thống nghi lễ làm 3 loại chủ yếu là:
1/Then chúc tụng được sử dụng trong các nghi lễ: đầu năm mới, làm nhà mới, khi
làm ăn phát đạt...; 2/Then cầu an, giải hạn: cúng cầu an, cúng giải hạn để cầu mong
an lành và tránh khỏi tai họa; 3/Then lễ hội được sử dụng trong các nghi lễ: cầu
mùa, lễ cấp sắc...

ngày ba đêm. Theo Nguyễn Thị Yên [138, 101 - 140] thời gian và nội dung thực
hiện một nghi lễ cấp sắc có trình tự như sau:
Ngày, đêm thứ nhất: Các hoạt động và thủ tục ban đầu như lập đàn cúng, giải
uế, trình báo Thổ công và tổ tiên, mời các tướng, xin binh mã, v.v...
Ngày, đêm thứ hai: Khao binh mã, lên đường vào cửa các tướng nộp lễ, lại
tiếp tục lên đường tới đồng ve sầu thì nghỉ ngơi.
Ngày, đêm thứ ba: Tiếp tục lên đường, tiếp tục vào các cửa nộp lễ vệt, đến cửa
Ngọc Hoàng nộp lễ vật xin được cấp sắc và được cấp sắc, trở về trần gian.
Ngày thứ tư: Mời tổ tiên và chư tướng hưởng cỗ khao và khoản đãi mọi người
tham gia buổi lễ.
Nhìn chung, trong suốt quá trình của một đại lễ cấp sắc, thời gian, không gian
sẽ được diễn ra theo một trình tự có bài bản. Sự liên kết giữa các nội dung rất chặt
chẽ, khi thỉnh mời xong thì mới được vào lễ; khi quân Then lên đường thì phải qua
các cửa thánh, cửa tướng dưới sự điều hành chỉ dẫn của Then thầy; khi xong việc
thì tiễn tướng, khách về trời và quân âm binh về nhà thầy Then; không có công
đoạn này thì không có công đoạn kia. Các nội dung diễn ra rất phong phú, nên rất
cuốn hút người xem. Có thể nói, bối cảnh sinh hoạt của Then cấp sắc không chỉ tạo
nên một không gian tâm linh huyền bí mà còn thể hiện được nét uy nghi, sang
trọng, cũng như niềm hân hoan của gia chủ và mọi người.

16


1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong kho tàng văn hóa của người Tày, Then nói chung, Then cấp sắc nói
riêng thuộc loại dân ca nghi lễ gắn với tín ngưỡng, nên đã sớm thu hút được sự quan
tâm của nhiều nhà nghiên cứu khai thác từ nhiều góc độ, như: văn hóa, tôn giáo, dân
tộc học, v.v... Có thể nói, những thành tựu nghiên cứu này đã mở ra cách nhìn nhận
sâu sắc hơn về Then và Then cấp sắc. Để có cái nhìn tổng quan về những công trình
nghiên cứu này, chúng tôi xin chia làm các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản như sau:

hiện thực trong Then” in trong Tạp chí Văn học, tập trung phân tích vị trí của Then
trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Tày; giá trị phản ánh hiện thực trong
đời sống người dân trong xã hội có giai cấp của lời hát Then, quá trình chuyển hóa
của Then sang phục vụ đời sống sinh hoạt văn nghệ của người dân.
- Hà Văn Thư, Lã Văn Lô (1984), Văn hóa Tày Nùng (Nxb. Văn hóa), dành
một số trang giới thiệu về những người làm nghề cúng bái, trong đó có Then.
Qua đây các tác giả đã nêu được khá rõ những đặc điểm cơ bản của Then như sự
ảnh hưởng Đạo giáo; mối quan hệ với Tào, Mo, Pụt; đặc điểm làm nghề. Để
nhấn mạnh tính dân tộc của Then, các tác giả cho rằng: “Làm Then (tức là cúng
Then) vừa là một hình thức cúng bái, vừa là một hình thức văn nghệ để cho mọi
người đến thưởng thức” [70, 30]. Có thể nói tuy chưa thật đầy đủ nhưng bước
đầu các tác giả đã giới thiệu được một cách khái quát về nghề làm Then và bản
chất tín ngưỡng của Then mà các công trình trước đây chưa đề cập đến hoặc
chưa đề cập một cách đầy đủ.
- Hoàng Quyết (1995), Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc (Nxb. Văn
hóa Dân tộc), tập trung nghiên cứu sâu về đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc
Tày ở khu Việt Bắc, với những phong tục tập quán về ăn mặc, tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên, tang ma, cưới hỏi… từ xa xưa của người Tày, song công trình cũng chỉ đề
cập đến vấn đề một cách chung chung của vùng Việt Bắc.
- Hoàng Quyết, Triều Ân, Hoàng Đức Toàn (1996), Từ điển văn hóa cổ truyền
dân tộc Tày (Nxb. Văn hóa Dân tộc), là công trình nghiên cứu về văn hóa cổ truyền
của dân tộc Tày, bố cục được chia làm 3 phần. Phần 1: Phong tục, tập quán, sinh
hoạt, lễ hội. Phần 2: Chùa chiền, đền miếu. Phần 3: Văn hóa, nghệ thuật, sự tích.
- Đỗ Hồng Kỳ (1997), có bài “Những biểu hiện của tôn giáo, tín ngưỡng trong
truyện thơ Nôm Tày, Nùng” in trong Tạp chí Văn hoá dân gian, đã dành một phần
để phân tích truyện thơ Khảm hải dưới hình thức lưu truyền bằng phương pháp hát
trong các nghi lễ tôn giáo. Đây là bài viết đầu tiên đã đặt Khảm hải vào trong một
nghi lễ Then cụ thể để phân tích.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status