báo cáo nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá chuối hoa ( chana maculata) tại khu vực thanh hóa - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
------  ------

NGUYỄN THỊ VIỆT AN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN CỦA CÁ
CHUỐI HOA ( Chana Maculata Lacépède,1802 ) TẠI KHU VỰC
THANH HÓA

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP NGỌT
NGHÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

HƯNG NGUYÊN, 4/2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo Bùi Hào Quang- Trưởng trại thực
nghiệm thủy sản nước ngọt khoa Nông - Lâm - Ngư đã nhiệt tình giúp đỡ tôi
thực hiện và hoàn thành chuyên đề cũng như toàn bộ nội dung thực tập tại trại.
Tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo ThS. Tạ Thị Bình đã tận tình và
hết lòng giúp đỡ chúng tôi thực hiện và hoàn thành chuyên đề này.
Xin chân thành cảm ơn đến cán bộ, nhân viên của Trại thực nghiệm nuôi
trồng thủy sản nước ngọt khoa Nông - Lâm - Ngư đã tạo điều kiện giúp đỡ
chúng tôi trong suốt thời gian thực tập và thực hiện chuyên đề.

1


Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ bộ môn Nuôi trồng
thủy sản nước ngọt cùng với các thầy cô trong khoa Nông - Lâm - Ngư đã tạo
điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ nhóm trong quá trình thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hưng Nguyên, tháng 4 năm 2015

Độ béo Fulton
Độ béo Clark
Chiều dài toàn thân từ mút mõm đến hết phần thùy đuôi
Sức sinh sản
Số thứ tự
Trung bình

3


DANH MỤC CÁC BẢNG

4


DANH MỤC CÁC HÌNH

5


MỞ ĐẦU

Cá Chuối Hoa (Channa maculata Lacépède, 1802) là một trong những loài
cá có giá trị kinh tế được nuôi phổ biến Việt Nam. Cá chuối hoa có thịt ngon được sử
dụng trong nội địa và xuất khẩu như là đặc sản. Sản lượng cá tự nhiên ở đồng bằng
Bắc Bộ khá cao, kể cả vùng nước lợ ven biển. Cá có triển vọng là đối tượng nuôi xuất
khẩu. Trong tự nhiên, chúng chủ yếu sống ở các sông ngòi, ao hồ, đồng ruộng ngập
nước, nơi có nhiều thực vật thủy sinh và có mặt ở hầu khắp các thuỷ vực ở miền núi,
đồng bằng cả ở vùng nước lợ nơi có nồng độ muối thấp. Trên thế giới chúng cũng
phân bố ở nhiều quốc gia Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Malaixia, Philipin.



6


CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vài nét về đối tượng nghiên cứu

1.1.1. Vị trí phân loại
Ngành : Chordata
Lớp cá vây tia : Actinopterigii
Bộ cá Vược : Perciformes
Họ cá quả : Channidae
Giống : Channa
Loài cá Chuối hoa : Channa maculata Lacépède, 1802
Tên Tiếng Anh: Snake - head mullet
Tên Tiếng Việt : Cá Chuối hoa

Hình 1.1. Cá Chuối hoa Channa maculata Lacépède, 1802
1.1.2. Đặc điểm hình thái
Cá có cỡ trung bình. Thân dài, tròn, bụng hơi trắng, về phía đuôi dẹp bên.
Chiều dài gấp 5÷6 lần chiều cao.
Đầu dài nhọn. Vảy hình tấm ở đỉnh đầu tương đối bé. Mắt lớn ở hai bên đầu. Khe
mang lớn. Que mang ở cung mang I là 6 - 11, phát triển không đều, dạng to, ngắn, có
nhiều chồi gai nhỏ và thường có 3 - 5 cái tương đối lớn. Rạch miệng xiên kéo dài về
phía sau quá viền sau của mắt. Toàn thân phủ vảy lớn. Đường bên gián đoạn, đoạn trước
chạy từ sau nắp mang tới khỏi tia thứ 5- 6 của vây hậu môn, đoạn sau chạy thấp hơn 1
hàng vảy và tiếp tục đi vào giữa cuống đuôi.



biệt là khu vực huyện Thiệu Hóa.

Hình 1.2. Bản đồ Thanh Hóa
1.1.4. Đặc điểm môi trường sống
Cá Chuối hoa thường sống ở thủy vực tĩnh hoặc chảy yếu, có nhiều động vật
thủy sinh. Tính thích nghi với môi trường xung quanh rất mạnh, nhờ có cơ quan hô



8


hấp phụ nên nó có thể hô hấp được O 2 trong không khí. Ở vùng nước hàm lượng O 2
thấp cũng vẫn sống được, có khi không cần nước chỉ cần da và mang cá có độ ẩm
nhất định vẫn có thể sống được thời gian khá dài.
1.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá thuộc loài cá dữ.Thức ăn là chân chèo và râu ngành, vồ mồi, ăn cá con,
ếch nhái, sâu bọ, động vật thủy sinh. Thân dài 3 - 8cm ăn côn trùng, cá con và tôm
con; thân dài trên 8cm ăn cá con. Khi trọng lượng nặng 0,5 kg có thể ăn 100 g cá.
Trong điều kiện nuôi nó cũng ăn thức ăn chế biến. Mùa đông không bắt mồi.
Ở nhiệt độ 20 - 350C, sau 3 ngày trứng nở thành cá bột, khoảng 3 ngày sau
cá tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài.
Sau khi nở, luân trùng Brachionus plicatilis được xem là thức ăn đầu tiên tốt
nhất của cá bột.
Giai đoạn kế tiếp cho ăn trứng nước (Moina), Daphnia hay trùng chỉ, ấu
trùng muỗi đỏ.
Giai đoạn cá giống, sâu gạo và dòi là thức ăn ưa thích của cá. Một số thí
nghiệm trên cá bột cho thấy cá có khả năng sử dụng thức ăn trứng nước kết hợp với
đạm đơn bào. Thức ăn Moina vẫn là thức ăn tốt nhất đối với cá bột trong 3 tuần lễ
đầu. Rhizopus arrhizus hay đạm đơn bào (125μm) được sản xuất từ kỹ thuật lên



10


CHƯƠNG 2
VẬT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Lưu vực và các khu vực ven sông thuộc khu vực Thanh Hóa.
+ Trung tâm nghiên cứu và thực hành nuôi trồng thủy sản Trường Đại học Vinh.
+ Phân viện nghiên cứu NTTS Bắc Trung bộ
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 4/2014 – tháng 5/2015
2. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Cá Chuối Hoa (Channa maculata Lacépède, 1802) được thu gom tại khu
vực ven các sông lớn thuộc khu vực Thanh Hóa.
- Vật liệu nghiên cứu:
 Dụng cụ thí nghiệm:
+ Bộ giải phẫu: dùi, kéo các loại, panh các loại, dao
+ Khay cốc thủy tinh 100ml, 200ml, 500ml
+ Cân, thước panme
+ Đĩa Petri, lam kính, lamen, pipet
+ Kính hiển vi, máy ảnh.
 Hóa Chất:
Muối NaCl tinh khiết, nước cất, nước muối sinh lí 0,85%, cồn 90 0 và
formalin, dung dịch Bouin.
3. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu một số đặc điểm về hình thái của cá Chuối Hoa
- Tìm hiểu một số đặc điểm về sinh trưởng của cá Chuối Hoa

hiện trường
Nghiên cứu trong
phòng thí nghiệm

Hình 2.1. Sơ đồ khối nghiên cứu
4.2. Phương pháp thu thập vật mẫu
Tiến hành thu mẫu từ ngư dân khai thác hoặc bến cá, chợ cá ở các vùng ven
sông ở khu vực Thanh Hóa. Tiến hành thu mẫu theo tháng và các mẫu thu sau khi
thu được xác định khối lượng bằng cân điện tử, đo chiều dài cá bằng thước đo có
độ chính xác đến mm. Tiến hành mổ cá ngay khi cá còn tươi để thu tuyến sinh dục.
Cá được mổ bụng theo hình vòng cung kéo dài từ hậu môn lên đến vây ngực. Sau
đó lấy tuyến sinh dục loại bỏ phần mỡ bám vào tuyến sinh dục và tất cả các phần
khác rửa sạch máu và cân tuyến sinh dục bằng cân điện tử. Tuyến sinh dục được cố
định bằng dung dịch Bouin, tuyến tiêu hóa và phần cơ thể còn lại được bảo quản
trong dung dịch formalin 10% hoặc cồn 700.



12


4.3. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học
* Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái: theo Pravdin (1961)
Các chỉ tiêu hình thái thu thập và ký hiệu gồm:
- Các số đo: Chiều dài toàn thân (L); chiều dài chuẩn (Lo); dài đầu (T); dài
cuống đuôi (Lcd); chiều cao lớn nhất của thân (H); chiều cao cuống đuôi
(ccd); đường kính mắt (O); chiều dài mõm (Ot); khoảng cách giữa 2 ổ mắt
(OO).
Các chỉ tiêu số lượng: Số tia vây ngực (P); số tia vây lưng (D); số tia vây
bụng (V); số tia vây hậu môn (A)

Q0 =
Trong đó:
Q: Độ béo Fullton.
Q0: Độ béo Clark.
BW: Khối lượng toàn thân (g)



13


W0: Khối lượng đã bỏ nội quan (g)
SL: Chiều dài toàn thân từ mút mõm đến hết phần thùy đuôi (cm)
*Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh sản.
+ Phương pháp xác định các giai đoạn phát triển của buồng trứng: Từ kết
quả chụp cắt lát tuyến sinh dục (hình ảnh) quan sát mức độ chín muồi sinh dục
(CMSD) theo thang 6 giai đoạn của K.A.Kixelevits (1923). Kiểm tra mức độ
CMSD của cá bằng tổ chức học. Dùng phương pháp nhuộm màu kép của
Heidenhai để xác định các giai đoạn CMSD theo quan điểm của O.F.Xakun và
A.N.Buxkaia (1968). tiến hành quan sát và xác định các giai đoạn phát triển của
tuyến sinh dục của các mẫu thu được.
+ Phương pháp xác định sức sinh sản và kích thước trứng: Các mẫu trứng sẽ
tiến hành đếm để ước tính số lượng trứng trên cá thể. Áp dụng các công thức để
tính sức sinh sản tương đối và tuyệt đối. Mỗi một buồng trứng, lấy khoảng 200
trứng, đo đường kính trứng qua kính hiển vi để xác định kích thước trứng.
- Xác định hệ số thành thục:
K (%) =
Trong đó:
K: hệ số thành thục (%)
Wo: Khối lượng cá bỏ nội quan (g)

3.1. Đặc điểm hình thái của Cá Chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1802)

Hình 3.1. Cá Chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1802)
Qua quá trình nghiên cứu và quan sát hình dạng bên ngoài của cá Chuối
hoa, có thể rút ra một số kết luận về đặc điểm hình thái của loài như sau: Cá
Chuối hoa (Channa maculata Lacépède, 1802) có thân trụ tròn, dài. Chiều dài
gấp 5÷6 lần chiều cao. Đầu lớn hơi dẹp bằng, đuôi dẹp bên. Miệng rộng kéo dài
về phía sau quá viền trước mắt. Hai hàm có nhiều răng nhỏ. Lưỡi nhọn và dài.
Có hai đôi mũi, lỗ mũi trước hình ống, lỗ mũi sau hình nón tù. Mõm ngắn, Mắt
lớn ở phía trước và trên của đầu. Vây hậu môn và vây lưng kéo dài gần tới vây
đuôi. Vây lưng có khởi điểm hơi sau vây bụng và vây ngực. Vây ngực tròn, vây
bụng nhỏ ở dưới vây ngực. Vây đuôi tròn. Toàn thân phủ vảy lược lớn. Đường
bên gián đoạn, đoạn trước chạy từ sau nắp mang quá khởi điểm vây hậu môn,
đoạn sau chảy thấp hơn đoạn trước 1 hàng vảy và đi vào giữa cán đuôi.
Khe mang lớn. Que mang ở cung mang I là 6 - 11, phát triển không đều, dạng
to, ngắn, có nhiều chồi gai nhỏ và thường có 3 - 5 cái tương đối lớn.
Số tia vây lưng: 42 - 44; Số tia vây hậu môn: 27 - 30; Số tia vây ngực: 14 - 15;
Số tia vây bụng: 5; Số tia vây đuôi: 18 - 19.
Chiều cao lớn nhất của thân 2,84 - 3,11; chiều dài đầu 5,70 - 7,14. Khoảng cách
trước vây lưng 9,01 - 12,40; chiều cao cán đuôi 1,69 - 1,87; khoảng cách trước vây
hậu môn 2,43 - 2,88; khoảng cách trước vây bụng 1,43 - 1,52. Chiều dài mõm 1,47 1,56; phần đầu sau mắt 4,02 - 4,81; khoảng cách giữa mắt 3,81 - 4,12.
Màu sắc: Cá có màu xám trên vùng lưng, hai bên thân có nhiều sọc trắng và
đen xen lẫn nhau. Phần đầu có một vạch đen gãy khúc. Gốc vây lưng có một hàng
chấm đen lớn. Vây lưng, vây hậu môn, vây đuôi có nhiều chấm đen nhỏ xếp thành
hàng.
So sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo (2005), đã mô tả cá
Chuối hoa có một số đặc điểm như sau: Cá có thân hình trụ tròn dài, đuôi dẹp bên.




Nhiệt độ
25 – 30
3.3. Tương quan chiều dài và trọng lượng của cá Chuối hoa
Sinh trưởng của cá là quá trình gia tăng về kích thước và tích lũy thêm về khối
lượng cơ thể. Quá trình này đặc trưng cho từng loài cá và thể hiện qua mối tương
quan giữa chiều dài và khối lượng cơ thể cá (Nikolski, 1963)
Kết quả chiều dài toàn thân và khối lượng toàn thân của 37 mẫu cá Chuối hoa
với 4 nhóm kích thước thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 3.2. Giá trị tương quan giữa chiều dài và khối lượng theo nhóm
kích thước của cá Chuối hoa (n = 120)
Tần số
Nhóm
Khối lượng toàn thân- BW (g)
Chiều dài toàn thân - TL (mm) xuất hiện
kích
(%)
thước
Trung bình
Max
Min
Trung bình Max Min

- Dạ dày có hình chữ Y, vách dày, mặt trong có nhiều nếp gấp nên có thể
giãn nở và lực co bóp rất lớn.
- Ruột cá Chuối hoa ngắn, vách tương đối dày.
So sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo (2005), cá Chuối hoa
có miệng rất lớn, rạch miệng xiên kéo dài về phía sau quá viền sau của mắt. Trên
hai hàm, xương lá mía và xương khẩu cái đều có nhiều răng.
Như vậy, đặc điểm của một số cơ quan tiêu hóa trong quá trình nghiên cứu
có sự tương đồng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác.



17


3.4.2. Thành phần thức ăn
Qua quan sát dưới kính hiển vi, nhận thấy cá Chuối hoa là một đối tượng ăn
thiên về động vật, với thành phần thức ăn trong dạ dày khá đa dạng.
Bảng 3.3. Tần số xuất hiện các loại thức ăn (n = 30)
Loại thức ăn
Số lần bắt gặp
Cá con
58
Tôm
39
Hến , ốc
24
Mùn bã hữu cơ
18
Thức ăn khác
23

Nhóm cá
Tên loài cá
Lr/Lt
Tác giả
Cá Chuối hoa
Channa
Nghiên cứu
0,63± 0,01
maculata Lacepede, 1802
Ăn thiên về

Ngạnh
Cranoglanis
Trương Thị Thu
0,83 ± 0,1
động vật
sinensis Peters, 1880
Trang (2012)
Cá Ngát
Plotosus canius Hamilton,
Trần Thị Diễm
1,129
1822
Trinh (2010)
Cá Rô Đồng

1,24




(2012)

Lộc

Như vậy khi so sánh theo thang bậc của Nikolski (1963) và số liệu ở bảng
3.4 thì có thể nhận định cá Chuối hoa là loài ăn thiên về động vật.
3.5. Hình thái và các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục
3.5.1. Hình thái ngoài cơ quan sinh dục
Việc xác định giới tính có sự khác nhau tùy theo từng loài. Đối với cá Chuối
hoa, giai đoạn còn nhỏ rất khó phân biệt được giới tính, nhưng khi trưởng thành,
đặc biệt là giai đoạn thành thục sinh dục thì tương đối dễ phân biệt đực cái. Qua
quan sát hình thái bên ngoài của nhóm cá trưởng thành, có thể mô tả về hình thái
ngoài của cá đực và cái như sau:
- Cá đực:
+ Có thân thon dài, đầu to, bụng nhỏ rắn chắc và thon hơn cá cái.
+ Khi cá đực thành thục lỗ sinh dục hẹp nhỏ và hơi lõm vào, lỗ hậu môn
riêng biệt.
- Cá cái:
+ Thân ngắn, đầu nhỏ, bụng to, mềm và hơi sệ xuống
+ Khi cá cái thành thục lỗ sinh dục cá cái tròn, to và hơi lồi, màu hồng, nằm
sát với lỗ hậu môn.

Hình 3.3. Cá Chuối hoa cái

Hình 3.4. Cá Chuối hoa đực

3.5.2. Cấu tạo tuyến sinh dục
* Cấu tạo buồng trứng



và OF Xakun & NA Butskaia (1968) làm tiêu chuẩn để xác định độ chín của tuyến
sinh dục cái được mô tả như sau:
Giai đoạn II
Tuyến sinh dục tiếp tục phát triển dày thêm ra. Hạt trứng nhỏ mắt thường
không nhìn thấy được. Ở giai đoạn này có thể phân biệt được đực cái. Kích thước
tuyến sinh dục bé, chiếm một phần rất bé trong xoang cơ thể.
Quan sát tiêu bản buồng trứng ta thấy: Noãn bào thời kỳ II (Thời kỳ sinh
trưởng của nguyên sinh chất) có kích thước lớn hơn các noãn nguyên bào ở thời kỳ
1, đặc điểm của các noãn bào là tỷ lệ thể tích của nhân so với tế bào giảm xuống.



20


Tế bào chất ưa kiềm yếu bắt màu tím bao quanh nhân. Nhân tròn, kích thước lớn
nằm ở giữa chiếm hầu hết noãn bào. Nhiều nhân nhỏ có hình dạng khác nhau phân
bố vùng ngoại biên của nhân, tạo thành vòng tròn xung quanh màng nhân. Giai
đoạn này chưa hình thành noãn hoàng và không bào.
II

Hình 3.7. Tiêu bản buồng trứng GĐ II
Giai đoạn III
Giai đoạn thành thục, tuyến sinh dục phát triển rất nhanh về kích thước và
khối lượng , bằng mắt thường có thể nhìn thấy các hạt trứng.
Quan sát trên tiêu bản thấy tế bào trứng chuyển sang giai đoạn dinh dưỡng
hay còn gọi là sự lớn lên về chất dinh dưỡng: Đặc điểm của các noãn bào thời kỳ
này là tăng về thể tích chất nguyên sinh và tích lũy các chất dinh dưỡng, noãn bào
gia tăng về kích thước và có hình dạng tròn, màng follicul xuất hiện cùng với các
không bào, các hạt mỡ và các hạt noãn hoàng. Số lượng các giọt mỡ gia tăng đáng

Tuyến sinh dục đực có dạng hình sợi mảnh màu trắng đục,mạch máu không
rõ ràng. Nằm sát vào phía trong của vách cơ thể theo 2 bên hông và dưới bóng hơi,
trên tuyến sinh dục có nhiều mỡ bám vào đặc biệt là gần phần cuối dẫn ra lỗ niệu.
Số lượng tinh nguyên bào tăng lên nhiều và xếp thành từng chùm hình thành ống
tinh nhỏ, đặc, giữa các ống được ngăn cách bởi mô liên kết.
Giai đoạn III
Tinh sào có kích thước lớn hơn, màu trắng đục. Trên bề mặt xuất hiện nhiều
vệt màu hồng đó là dấu hiệu của sự phát triển của mạch máu. Bắt đầu xuất hiện các
tinh nguyên bào thứ cấp đang trong thời kỳ phân chia thành các tinh tử.
Đoạn cuối của túi tinh hẹp hơn phần trước và có màu vàng. Dùng tay vuốt vào
bụng cá hoặc cắt tuyến sinh dục thì không thấy sẹ chảy ra.
Giai đoạn IV
Túi tinh có kích thước lớn hơn và phình to ra, có thể nhìn thấy rõ ràng các
mạch máu phân bố bao quanh túi tinh. Túi tinh có màu trắng sữa, các mạch máu
phát triển mạnh. Giai đoạn này hình thành túi sinh tinh trên tinh sào, ở giữa túi sinh
tinh là các tinh trùng xắp xếp dày đặc.
3.5.5. Tỷ lệ đực cái
Trong tự nhiên, về lý thuyết có cơ cấu giới tính là 50% cá thể cái và 50% cá
thể đực. Tuy nhiên thực tế tỷ lệ giới tính luôn có sự thay đổi. Sự thay đổi theo kết
quả điều tra được ghi nhận ở bảng 3.5:
Bảng 3.5. Tỷ lệ đực cái qua các tháng thu mẫu
Giới
Tháng2
Tháng 3
Tháng 4
tính
Số
Tỷ lệ Số
Tỷ lệ Số
Tỷ lệ

22


tháng 4 tỷ lệ này tăng lên là 1: 1,73.So sánh chung trong 4 tháng nghiên cứu tỷ lệ
đực: cái là 1 : 2,33. Sự sai khác này còn thể hiện rõ khi phân tích theo nhóm kích
thước như bảng 3.6:
Bảng 3.6. Tỷ lệ đực cái của cá Chuối hoa theo nhóm kích thước (mm)
Tỷ lệ đực cái theo nhóm kích thước (mm)
35
Tổng
Giới
Số
Số
Số
Tỷ Số
Số
tính
Tỷ
Tỷ
Tỷ
lượng
lượng
lượng lệ
lượng
lượng Tỷ
lệ
lệ

1
1,4

Từ bảng trên cho thấy cá cái chiếm tỷ lệ cao hơn so với cá đực. Đặc biệt là ở
nhóm kích thước<25mm, có tỷ lệ đực : cái là 1:1,9 Còn ở các nhóm kích thước >35
mm thì tỷ lệ đực cái là 1 : 1,3. Tổng tỷ lệ cá đực : cá cái là 1:1,4.
Như vậy tỷ lệ đực cái trong quần đàn cá Chuối hoa có sự sai khác theo nhóm
kích thước và theo thời gian trong năm.
3.6. Tuổi và kích thước thành thục
Mỗi loài cá đều trải qua những giai đoạn phát triển nhất định mới có thể đạt
tới sự thành thục và tham gia sinh sản lần đầu tiên.
+ Vòng tuổi của cá Chuối hoa trên vẩy đường bên
Việc xác định tuổi cá được nghiên cứu qua vẩy cá theo mô tả của Pravdin
(1973) : Vòng tuổi trên vẩy là các vòng sẫm màu hình thành vào thời kỳ cá tăng
trưởng chậm, còn các vòng sáng hình thành vào thời kỳ cá tăng trưởng nhanh, và
các vòng tối rất hẹp so với vòng sáng.
+ Phân biệt vòng tuổi và vòng phụ: Khi quan sát vẩy cá thấy có sự xuất hiện
vòng phụ. Các vòng phụ này là những lớp xương kế tiếp vòng tuổi, độ rộng, hẹp
của những vòng này có biến đổi, tuy nhiên các vòng phụ này là những vòng đứt
quãng, không liên tục và không song song với mép của lát cắt như vòng tuổi. Theo
Pravdin (1973) thì vòng phụ hình thành do kết quả thay đổi đột ngột, ngẫu nhiên,
không mang tính chất chu kỳ của điều kiện môi trường như dinh dưỡng kém hoặc
do bệnh tật.
Ở một số cá cái đã tham gia sinh sản, từ vòng tuổi năm thứ ba trở đi thường
xuất hiện một vòng nhỏ kế cận với vòng tuổi.
Bảng 3.7. Tỷ lệ các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục cá Chuối Hoa
nhóm Khối lượng TB Số
Tuổi
Tỷ lệ các giai đoạn phát triển
kích

± 23

3+
3+
4+

4
-

3
43,4
8

3
47,8
3

8,69

Qua nghiên cứu vẩy đường bên để xác định tuổi cá, có thể thấy ở cá tuổi 0+ 1+ các tế bào sinh dục ở các mẫu thu được tập trung chủ yếu ở giai đoạn II
(71,43%) của sự phân chia. Cá ở tuổi 1+ - 2+ chủ yếu thấy tuyến sinh dục ở giai
đoạn III (67,5%), còn tỷ lệ tuyến sinh dục ở giai đoạn II ở độ tuổi này lại ít hơn, chỉ
còn thấy 27,5%; cũng ở độ tuổi này thấy sự xuất hiện của tuyến sinh dục giai đoạn
IV với tỷ lệ chưa cao là 5%. Cá ở tuổi2+ - 3+ tuyến sinh dục chủ yếu tập trung ở
giai đoạn III (51,73%) và giai đoạn IV (31,03%); giai đoạn II chỉ còn 17,24%. Và ở
tuổi 3+ - 4+ thì các tế bào sinh dục ở giai đoạn III, IV chiếm 91,31%; xuất hiện
tuyến sinh dục giai đoạn V với tỷ lệ 8,69%. Vậy cá Chuối Hoa thành thụcở tuổi1+ 4+ với kích thước từ 30 cm trở lên. Ở nhóm kích thước này dễ dàng bắt gặpcác cá
thể có tuyến sinh dục đang ở các giai đoạn III, IV. Với nhóm kích thước 30 – 35 cm
thì tỷ lệ cá thành thục 82,76%. Kích thước càng lớn thì tỷ lệ thành thục càng cao và
với nhóm kích thước > 35 cm tỷ lệ thành thục là 100%.

16

19

84,21

>35

12

13

92,31

Bảng 3.9. Tương quan thành thục sinh dục theo nhóm kích thước
của cá đực
Số cá thể thành thục Tổng
số
Tỷ lệ thành
Nhóm kích thước
giai đoạn III, IV
cá thể
thục (%)


I
II
III
IV
V

Số con

%

7
9
3
6
5

63,33
30,00
7,66

Số
con
0
2
6
14
8

4

16,03

0,00
1,70
36,67
40,3
21,33

Kết quả khảo sát về sự biến đổi tỷ lệ thành thục sinh dục của cá Chuối Hoa
được trình bày ở Bảng 3.11 và Bảng 3.2 cho thấy: Trong tháng 2 chỉ xuất hiện các
cá thể ở giai đoạn I, II, III với tỷ lệ TSD giai đoạn I (63,33%), giai đoạn II (30%),
giai đoạn III (7,66%) còn các cá thể ở giai đoạn IV chưa thấy xuất hiện. Sang tháng
3 tuyến sinh dục ở giai đoạn II giảm xuống (26,67%), tỷ lệ giai đoạn III (36,67%)
và đã xuất hiện tuyến sinh dục ở giai đoạn IV (36,67%). Tháng 4 các cá thể ở giai
đoạn II bắt gặp trong quá trình thu mẫu với tỷ lệ giảm xuống chỉ còn 3,33%. Điều
này chứng tỏ mùa vụ sinh sản của cá Chuối hoa bắt đầu từ tháng 4.
Chu kỳ sinh dục và mùa vụ sinh sản của cá Chuối hoa được xác định thông
qua diễn biến của % số cá thể thành thục giai đoạn III, IV và chỉ số sinh dục. Số
liệu thu được được theo dõi và phân tích từ tháng 2 đến tháng 5/2014, lập nên sơ đồ
về chu kỳ sinh dục của cá Chuối hoa. Có thể thấy rõ tỷ lệ % cá thể thành thục ở giai
đoạn III và IV bắt đầu tăng lên từ tháng 4 (80,64%) do đó bước đầu nhận định thời
gian từ tháng 4 - 8 có thể là mùa vụ sinh sản của cá Chuối hoa.
Hình 3.10. Đồ thị biểu diễn sự biến thiên tỷ lệ thành thục
qua các tháng nghiên cứu
Qua bảng 3.10 và hình 3.10 trên cho thấy:
Trong tháng 3 chỉ xuất hiện các cá thể ở giai đoạn II, III với tỷ lệ TSD giai
đoạn II (72,72%), giai đoạn III (27,28%), còn các cá thể ở giai đoạn IV chưa thấy
xuất hiện. Sang tháng 4 tuyến sinh dục ở giai đoạn II giảm xuống (58,33%), tỷ lệ
giai đoạn III (33,33%) và đã xuất hiện tuyến sinh dục ở giai đoạn IV nhưng tỷ lệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status