VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN KHAM DƯ HÁN NÔM VIỆT NAM
TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
Ngành: Hán Nôm
Mã số : 9.22.01.04
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. Trịnh Khắc Mạnh
Hà Nội - 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Luận án Tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS.Trịnh Khắc Mạnh, chưa từng được công bố trong các công
trình nghiên cứu của người khác.
- Luận án đã được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, cầu thị.
- Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác đã được tiếp thu chân
thực, cẩn trọng trong luận án.
Tác giả
KHXH
: Khoa học xã hội
NCS
: Nghiên cứu sinh
Nxb.
: Nhà xuất bản
t.
: tờ
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
tr.
: trang
VNCHN
: Viện Nghiên cứu Hán Nôm
MỤC LỤC
2.3.4. Nội dung về huyệt .........................................................................................63
2.3.5. Nội dung về Dương trạch.............................................................................73
2.3.6. Nội dung về Âm trạch ...................................................................................77
Tiểu kết chương 2 ...................................................................................................85
Chương 3: NGHIÊN CỨU MỘT SỐ TÁC GIA KHAM DƯ HÁN NÔM
VIỆT NAM ..........................................................................................87
3.1. Tác giả Chu Văn An ........................................................................................87
3.1.1. Thân thế và sự nghiệp ..................................................................................87
3.1.2. Trước tác về Kham dư ..................................................................................90
3.2. Tác giả Nguyễn Đức Huyên ...........................................................................94
3.2.1. Hoàn cảnh xuất thân ....................................................................................95
3.2.2. Trước tác về Kham dư ..................................................................................97
3.3. Tác giả Lê Hoàng ..........................................................................................108
3.3.1. Hoàn cảnh xuất thân ..................................................................................108
3.3.2. Trước tác về Kham dư ................................................................................111
3.4. Tác giả Trịnh Tùng ........................................................................................113
3.4.1. Thân thế và sự nghiệp ................................................................................113
3.4.2. Luận bàn về Kham dư ................................................................................114
Tiểu kết chương 3 .................................................................................................115
Chương 4: NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ NỘI DUNG CỦA TÁC PHẨM KHAM DƯ
HÁN NÔM VIỆT NAM.......................................................................117
4.1. Giá trị nội dung của tác phẩm .......................................................................117
4.1.1. Tinh thần hòa đồng tư tưởng Nho, Phật, Đạo ..........................................117
4.1.2. Văn hóa tín ngưỡng bản địa ......................................................................121
4.1.3. Tinh thần đạo hiếu của Nho gia ................................................................125
4.1.4. Những mạch đất phát về khoa cử ..............................................................127
4.1.5. Con người hòa hợp với cảnh quan môi trường ........................................130
4.2. Ứng dụng một số nội dung Kham dư trong đời sống văn hóa tâm linh của
phải là dưới chân núi lớn cũng là bên bờ sông lớn, cao nhưng không quá gần chỗ
khô khan khiến nước không đủ; thấp nhưng không quá gần nước thì không mất
công phòng lụt” 1 [225, tr.93]. Quản Tử - Đạc địa 管子-度地 lại viết: “Thánh nhân
khi tìm nơi đặt quốc đô ắt không ở nơi nghiêng dốc mà chọn nơi đất phì nhiêu” 2
[228, tr.958]. Nhân sĩ thời xưa rất chú trọng đến việc chọn đất làm nhà, coi trọng
môi trường nơi ở, dần dần đưa tư tưởng “trời người hợp nhất” phát triển thành một
dòng mạch quan trọng trong văn hóa truyền thống, đó chính là văn hóa Kham dư
hay văn hóa phong thủy.
1
凡立國都非於大山之下必於廣川之上高毋近旱而水用足下毋近水而溝防省
2
聖人之處 國者必于不傾之地而擇地形之肥饒者
1
Trong quá trình phát triển lâu dài của mình, Kham dư học đã tiếp nhận nhiều
nội dung mang sắc thái thần bí siêu hình, nhưng nếu như đi sâu vào tìm hiểu một
cách kỹ lưỡng trên tinh thần khoa học thì sẽ thấy những nét văn hóa tinh hoa ẩn
tàng ở trong đó, có thể kể đến như: Địa lý học, Kiến trúc học, Môi trường học,
Tâm lý học, v.v… Có thể nói, đó là những kết quả tinh hoa được chắt lọc qua rất
nhiều thế hệ, trải mấy nghìn năm lịch sử để lại cho đến tận ngày nay. Do đó, việc
tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu một cách có hệ thống về Kham dư nói chung và
của Việt Nam nói riêng; không chỉ giúp các nhà quản lý qui hoạch môi trường mà
còn có ý nghĩa to lớn trong việc khai thác, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa.
Việt Nam là một trong những nước từng chịu ảnh hưởng sâu sắc nền văn hóa
Trung Hoa, trong đó có môn Kham dư. Kham dư thời xưa còn được gọi bằng nhiều
đang lưu trữ tại VNCHN thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Ngoài
ra, có tham khảo một số tư liệu Kham dư lưu trữ ở một số địa điểm khác để tham
chiếu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu vào các vấn đề văn bản học của các văn
bản Kham dư Hán Nôm Việt Nam, giới thiệu một số tác giả Kham dư Hán Nôm
Việt Nam hiện còn tác phẩm lưu trữ tại VNCHN, giới thiệu các long mạch và huyệt
đạo ghi chép trong tác phẩm và tìm hiểu những giá trị khoa học đang ẩn chứa trong
các tác phẩm Kham dư Hán Nôm Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc sưu tầm,
bảo tồn, nghiên cứu khai thác và phát huy văn hóa truyền thống, xây dựng nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Những tri thức về ngữ văn Hán Nôm, văn bản học, văn hóa học, văn hiến
học, kham dư học, phiên dịch học,... được vận dụng lý thuyết nghiên cứu theo
hướng liên ngành trong từng chương của luận án.
Kế thừa thành quả nghiên cứu từ các công trình của giới nghiên cứu trong và
ngoài nước được công bố có liên quan đến đề tài, luận án tập trung khai thác sâu
về đặc điểm văn bản, tác gia Kham dư Hán Nôm Việt nam, giá trị nội dung tác
phẩm Kham dư Hán Nôm Việt Nam; nhằm góp phần vào các kết quả nghiên cứu
về giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
3
Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu tổng hợp khác nhau, trong
đó bao gồm một số phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp văn bản học: thống kê, so sánh các văn bản Kham dư Hán
- Giới thiệu thân thế, sự nghiệp và hành trạng một số tác giả Kham dư Hán
Nôm Việt Nam trên cơ sở tư liệu lịch sử và tác phẩm hiện lưu trữ tại VNCHN.
- Phân tích, đánh giá làm sáng tỏ giá trị nội dung mang tính khoa học của
Kham dư Hán Nôm Việt Nam góp phần vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc. Đồng thời giúp các nhà quản lý hữu quan hoạch định những kiến trúc
văn hóa truyền thống.
- Giới thiệu một số long mạch của các địa phương ở Đồng bằng Bắc Bộ.
- Cung cấp Bảng thuật ngữ Kham dư Hán Nôm Việt Nam.
- Tuyển dịch tác phẩm An Nam phong thủy (A.693) thuộc Kham dư Hán
Nôm Việt Nam.
6. Ý nghĩa khoa học của luận án
Việc nghiên cứu nhóm văn bản Kham dư Hán Nôm Việt Nam hiện lưu trữ
tại VNCHN mang lại những ý nghĩa khoa học như sau:
- Luận án không chỉ hệ thống hóa số lượng các văn bản Kham dư Hán Nôm
Việt Nam, mà còn hệ thống được số lượng các huyệt mạch tốt, các thế đất hay… mà
tiền nhân đã ghi để lại qua các trước tác viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.
- Qua việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá giá trị các tác phẩm Kham dư Hán
Nôm Việt Nam, luận án nêu ra ý nghĩa khoa học của Kham dư Việt Nam trong đời
sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam. Có thể nói địa hình sông núi Việt Nam ở
vào khu vực của trời đất sao Dực, sao Chẩn, đã tạo nên hệ thống tác phẩm Kham dư
Hán Nôm trong nền văn hóa trước thuật nước nhà. Kham dư Việt Nam so với Trung
Hoa, tuy các thuật ngữ giống nhau, nhưng có nội dung riêng phù hợp với văn hóa Việt
Nam.
- Luận án sẽ là hướng mở cho các công trình nghiên cứu liên quan về văn
hóa tâm linh, tín ngưỡng của người Việt.
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục; nội dung luận
án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
nghiên cứu các công trình liên quan đến đề tài của các nhà nghiên cứu đi trước,
trên cơ sở đó kế thừa và tiếp thu để phát triển hệ thống cho luận án.
1.1. Nguồn gốc, khái niệm Kham dư
1.1.1. Nguồn gốc của Kham dư
Kham dư khởi nguồn ở Trung Quốc từ hoạt động lựa chọn nơi cư trú của
người nguyên thủy, được thai nghén qua thời Tiên Tần, phát triển vào thời Hán,
lưu hành vào thời Ngụy - Tấn - Nam Bắc Triều và truyền bá rộng rãi dưới thời
Tùy - Đường Ngũ đại, hưng thịnh dưới thời Minh - Thanh. Về cơ bản, Kham dư
học có thể chia làm hai phái là Hình thế (phái Loan đầu) và Lý khí.
Phái Hình thế: Phái này do Dương Quân Tùng 楊筠松, Tăng Văn Thuyên 曾
文遄, Lại Đại Hữu 賴大有, Tạ Tử Nghĩa 謝子義… người Giang Tây sáng lập.
Phái Hình thế chú trọng long, huyệt, sa, thủy và định hướng, tìm long mạch, hình
tượng hóa đặc trưng của địa hình, địa thế, dựa vào hình thế tự nhiên mà đặt tên.
Ứng dụng thực tiễn của phái Hình thế rất phong phú, điều kiêng kỵ rất ít, nội dung
lại dễ hiểu, vì vậy được lưu truyền rộng rãi. Lý luận của phái Hình thế chủ yếu
liên quan đến môi trường tự nhiên như đất đai, mạch núi, hướng chảy, hình dáng
và số lượng dòng chảy. Sau thời nhà Đường, phái Hình thế chủ yếu phát triển
mạnh ở Giang Tây. Phái Hình thế chú trọng việc lựa chọn hình thế núi sông và
môi trường tự nhiên bên ngoài nhà ở, phương pháp chủ yếu là “phép xem núi nếm
nước 看山嘗水法” và “phép sơn hoàn thủy bão 山環水抱法”. Lý luận là Âm
Dương giao hòa, núi non bao bọc, gần nguồn nước ắt sẽ có khí. Khí dựa vào thế
mà vận hành, dựa vào hình mà dừng, hình là sự tổng kết về thế. Thế là chỉ hình
7
dáng mấp mô nối tiếp từ điểm khởi nguồn của long mạch tới long huyệt. So với
hình thì hình gần thế xa, hình nhỏ thế lớn, cho nên muốn bàn về hình thì trước tiên
phải quan sát thế.
Phái Lý khí: Nội dung của phái Lý khí rất linh hoạt và có khả năng ứng dụng
thực tiễn cao. Những kiến thức của phái Lý khí rất quan trọng trong việc tìm hiểu
洪武地稿 (VHv.1594), Vấn đáp sơn thủy phụ An Nam cửu long ca 問答山水附安
南九龍經歌 (A.1826), Địa lý di cảo 地理遺稿 (A.536), Địa lý tiện lãm 地理便覽
(A.605).
Trên thực tế, theo chúng tôi con đường du nhập của Kham dư vào nước ta
không chỉ dừng lại ở một lần du nhập, mà trải suốt quá trình lịch sử của đất nước thời
trung đại. Kham dư luôn luôn du nhập bằng nhiều hình thức khác nhau, như: Hành
10
trang của các quan lại đô hộ; người Việt Nam trực tiếp sang Trung Quốc học Kham
dư; sự tao loạn trong các cuộc nội chiến ở Trung Quốc đã khiến một số dòng họ di cư
chạy sang Việt Nam lánh nạn trong đó có những dòng họ chính tông môn phái về
Phong thuỷ học, Khí công học, Võ công và Tử vi học, v.v… hoặc cũng có thể một
phần do các nhà sư (cả Ấn Độ và Trung Quốc) khi sang thuyết giảng và truyền bá
đạo Phật cũng truyền bá luôn thuật Phong thuỷ cho người bản địa.
1.2.2. Tình hình phát triển của Kham dư ở Việt Nam
Về tình hình phát triển của Kham dư ở Việt Nam, sách Trùng đính thiên Nam
danh địa 重訂天南名地 (ký hiệu VHv.1927), [t.35a] viết: “Nước ta từ khi trời mở ra
“trời Nam” trở lại đây, thì địa dư và hình thế đã có sử sách ghi chép vào thời Đường
Hiến Tông (806 - 821) vào năm Hàm Thông có sai quan Thượng thư Bộ Công là Cao
Biền 高駢 làm chức An Nam Đô hộ tổng quản, Kinh lược chiêu thảo sứ viết ra sách
4
An Nam cửu long kinh 安南九龍經 và sách Vịnh cảo tập 詠稿集” .
Đến thời nhà Đinh (968 - 980), tình hình Kham dư đã phát triển. Vua Đinh
Tiên Hoàng (968 - 979) đã sai quan An phủ sứ Kiêm Đông Đô viện là Trần Quốc
Kiệt 陳國傑 biên soạn sách Thiên Nam hình thắng ca 天南形勝歌 và giao cho
ông chú giải sách cũ của Cao Biền.
Sang đến thời kỳ nhà Lý (1010 - 1125): Từ năm 1010 đã lấy Thăng Long
làm kinh đô, mà ngay vùng đất Thăng Long cũng đã nằm trong thuyết tầm long
[Thiên Ứng Chính Bình] năm thứ 17 (1248), tháng 6, sai các nhà Kham dư đi
xem khắp núi sông cả nước, chỗ nào có vượng khí đế vương thì dùng phép thuật
để trấn yểm, như các việc đào sông Bà Lễ đục núi Chiêu Bạc ở Thanh Hóa; còn
lấp các khe ở kênh mở đường ngang dọc thì nhiều không kể xiết” [32, tr.169].
Thời kỳ này, một trong những nhà Kham dư nổi tiếng phải kể đến Chu Văn An,
với tác phẩm Thanh trì Quang Liệt Chu thị di thư (chúng tôi đã mô tả ở sau).
Thời kỳ nhà Lê sơ - Mạc - Lê Trung hưng và Tây Sơn (thế kỷ XV - XVIII):
Nho giáo ảnh hưởng hết sức rộng lớn, có phần lấn át cả Phật giáo và Lão giáo.
Tinh thần Nho giáo thời phong kiến phân biệt người trong xã hội làm 2 thành
phần là Quân tử và Tiểu nhân (người quân tử lấy tam cương, ngũ thường làm gốc,
còn kẻ tiểu nhân thì không thể). Trong địa lý Phong thủy, xem quan niệm trên là
cứu cánh, nên có lý luận trong mỗi gia đình phải có trên có dưới, có đạo đức mới
trọn đạo thánh hiền, khi sống như khi chết, người gieo hạt nào sẽ nhận quả đó. Họ
cho rằng khi xương cốt tổ tiên, ông bà, cha mẹ chưa thành đất thì vong hồn luôn
trở về an vị trên bàn thờ và ở trong gia đình với con cháu, phù hộ độ trì cho con
cháu mình; sau nữa được đất kết, con cháu nhờ ngôi đất đó mà hưng phát, trở
5
… 况高王故都大羅城宅天地區域之中得龍蟠虎踞之勢正南北東西之位便江山向背
之宜其地廣而坦平厥土高而爽塏民居蔑昏墊之困萬物極繁阜之丰遍覽越邦斯為勝地誠四方
輻輳之要會為萬世帝王之上都…
12
thành người trâm anh thế phiệt. Bởi vậy, việc xem đất xây dựng hay nơi an táng là
do mọi người đi tìm sự đổi đời ấy. Họ tin khoa Kham dư sẽ giúp cho họ một cuộc
cải tạo gia phong, thay đổi từ hèn kém ra sang trọng, từ vô học sẽ được học rộng,
tài cao. Thời kỳ này, kẻ sĩ gọi thuật Kham dư là nghề chân chính, nghề của kẻ sĩ.
Sách Đại Nam thực lục (tập 1) ghi: “Tân sửu, năm thứ 44 [1601], mùa hạ, tháng 6
Cao Hữu Sung đem 2 người thợ vẽ giám thành cùng với Linh đài lang Mã Trinh
đến Quảng Nam hội khám đường sông tỉnh thành ấy. Trước đấy Phạm Phú Thứ
nói: Hạt ấy đặt tỉnh thành, đào sông Vĩnh Điện không hợp phong thủy, dân vật
kém yên. Sơn phòng sứ Quảng Nam Nguyễn Tạo dâng sớ xin dời đặt tỉnh thành ở
địa phận Quế Sơn hoặc Duy Xuyên. Lại xin lấp sông Vĩnh Điện, khai sông Ái
Nghĩa. Đến nay sai Hữu Sung đến cùng với quan tỉnh là Trần Văn Thiều hội
khám. Rồi bọn Thiều, Sung làm tập tâu: Tỉnh thành ấy thấp ẩm, không hợp
phong thủy, Mỹ Khê (thuộc Duy Xuyên) cao ráo, hình thế trung chính, đường sá
đều phẳng, dời đến đấy xem ra tiện hơn. [125, tr.83].
Từ thế kỷ XX đến nay, nền văn minh Tây phương xâm nhập vào nước ta, lối
sống Nho giáo giảm dần, nhưng bộ môn Kham dư vẫn rất phổ biến rộng rãi vừa có
tính nghệ thuật lại vừa có tính khoa học trong lĩnh vực kiến trúc. Những nhà kiến
trúc đã ứng dụng phong thủy trong các công trình xây dựng hiện đại và đã đứng
bên cạnh ngành Kham dư để lý giải nhiều vấn đề hòa hợp giữa thiên nhiên vào
không gian sống của con người.
1.3. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kham dư là bộ môn khoa học về môi trường sống, có nguồn gốc từ Trung
Quốc; nhưng không chỉ ở Trung Quốc, mà ở một số nước trên thế giới, như: Anh,
Mỹ, Pháp, Tây Ban Nha, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, v.v... cũng
đã nghiên cứu về bộ môn này. Bởi vậy, lượng ấn phẩm của các nhà nghiên cứu đi
trước là rất lớn, cho nên trong khuôn khổ luận án này chỉ xin tóm tắt, giới thiệu
một số ấn phẩm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Việt Nam có tính tiêu
biểu.
1.3.1. Tình hình nghiên cứu Kham dư ở Trung Quốc
Trung Quốc thời nào cũng có nhiều nhà nghiên cứu để lại những tác phẩm
nổi tiếng, như thời Tống có Lại Văn Tuấn 賴文俊 với tác phẩm Thôi quan thiên
催官 篇, thời Minh có Từ Bột 徐勃 với tác phẩm Kham dư biện hoặc 堪輿辨惑,
thời Thanh có Ngô Nguyên Âm 吳元音 với tác phẩm Táng kinh chú 葬經注,
v.v… Sau này, việc nghiên cứu Kham dư càng nở rộ, như: Năm 1923, Đàm
Dưỡng Ngô 談養吾 giới thiệu với độc giả cuốn Đại tam nguyên huyền không
để phát huy theo nét riêng. Điều đó được khẳng định bằng một loạt các tác phẩm
ghi bằng chữ Hán, chữ Nôm hiện lưu trữ tại VNCHN, như: Trùng đính thiên Nam
15
danh địa 重訂天南名地 (VHv.1927) soạn năm Chính Hòa thứ 3 (1678); Hòa
Chính địa lý 和正地理 (A.2153) của Lê Hoàng, hiệu Hòa Chính Tử, người xã
Thanh Cương, huyện Sơn Minh, trấn Sơn Nam biên soạn; hoặc như Bạch Vân Am
tiên sinh địa lý chính truyện 白雲先生地理正傳 đóng trong Quách thị gia tàng 郭氏
家藏 (A.606), v.v… Trên tinh thần đó, Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) và Nguyễn
Án (1770 - 1815), soạn bộ Tang thương ngẫu lục 桑滄偶錄 [56, tr.223] cũng đã
dành một số trang để giải thích về hành trạng thầy địa lý Tả Ao. Tự Đức thánh chế
tự học giải nghĩa ca 嗣 德 聖 制 字 學 解 義 歌 (VHv.626/1-4, VHv.627/1-4,
VHv.628/1-4, VHv.629/1-4, VHv.630/1-4, VHv.631/1-4, VHv.363/1-4, AB.5/1-2,
AB.311), sách in năm Thành Thái thứ 9 (1897); là sách dạy chữ Hán được giải
nghĩa bằng chữ Nôm thể lục bát, được sắp xếp thành 7 mục lớn, trong đó có mục
về Kham dư 堪與 (thiên văn, địa lý). Phan Huy Chú (1782 - 1840), soạn bộ Lịch
triều hiến chương loại chí, mục Văn tịch chí [22, tr.177], trong đó cũng có một số
trang để giới thiệu tác giả, tác phẩm chuyên về bộ môn địa lý Phong thủy. Tiếp
đến, Phan Kế Bính có sách Nam hải dị nhân và Việt Nam phong tục. Sách Liệt tiên
truyện 列僊傳 phần Nghệ địa lý phong thủy đề cập đến xuất danh hành trạng của
thầy Phong thủy Việt Nam như Tả Ao, v.v…
Đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XX, năm 1952, Hoàng Xuân Hãn biên soạn cuốn La
Sơn Phu Tử 羅山夫子 (Nxb. Minh Tân), giới thiệu về thân thế và sự nghiệp của
Nguyễn Thiếp, người từng xem đất làm đô ở Nghệ An cho vua Quang Trung. Năm
1984, Trần Văn Giáp viết cuốn Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - Nguồn tư liệu văn
học sử học Việt nam (tập 1), mục Sơn xuyên, lý lộ [41, tr.347], giới thiệu hai tác
giả tác phẩm của nước nhà, một là Tả Ao với tác phẩm Tả Ao địa lý luận 左泑地
理論; hai là tác phẩm Hình thế địa mạch ca 形勢地脈歌 do Quan An phủ sứ đời
Trần là Trần Quốc Kiệt 陳國杰 soạn, Hồ Tông Thốc 胡宗鷟 hiệu đính, tác phẩm
nhiên để chọn được một môi trường tốt nhất. Cơ sở lý luận của môn học là Dịch
học hậu thiên kết hợp với sự phân bố của khí trường, còn căn cứ khách quan là địa
lý tự nhiên của môi trường. Mục đích nghiên cứu của môn học là nhằm giúp mọi
người chọn được môi trường ở tốt nhất, từ đó làm thân thể khoẻ mạnh, tinh lực dồi
dào, tìm được điều tốt, tránh được điều xấu, đem lại lợi ích cho xã hội. Tiếp đến,
Lê Khánh Trường và Lê Việt Anh dịch cuốn Địa lý toàn thư của Lưu Bá Ôn (Nxb.
6
王玉德 (1993), 風向水脈地勢, 人民廣西出版社.
17
Văn hóa Thông tin, Hà Nội), là tác phẩm tổng hợp đầy đủ có tính cốt yếu về
Kham dư, như: địa lý đại toàn nhập môn yếu quyết, địa lý đại toàn tập yếu, địa lý
lục pháp đại toàn, địa lý Dương trạch đại toàn, v.v…
- Năm 2002, Anh Vũ và Kim Đồng dịch cuốn Phong thủy đại sư - Lưu Bá Ôn
(Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội), gồm 20 chương. Trong đó có những chương
về Phong thủy tìm long huyệt, mưu người và ý trời (chương 9); chương Hấp thụ
long khí, Chu Nguyên Chương đã ẩn hiện phong độ đế vương (chương 14);
chương Lưu Bá Ôn diễn dịch Sáu điềm thiên cơ; v.v…
Nguyễn Văn Đức dịch và Nguyễn Quốc Khánh hiệu đính cuốn Phong thủy
thực hành - Trang trí nội ngoại thất theo phong thủy của tác giả Tống Thiều
Quang7 (Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội), sách gồm 8 chương. Chương 1: Trạch
- mệnh tương phối; Chương 2: Cửa chính lành dữ; Chương 3: Nhà bếp lành dữ;
Chương 4: Nhà vệ sinh lành dữ; Chương 5: Sự cát hung của phòng ngủ; Chương
6: Sự cát hung về giường ngủ; Chương 7: Phòng ngủ của trẻ em; Chương 8: Sự
cát hung về phòng đọc; và phần phục lục: Năm điều nên về phòng ngủ và giường
ngủ; Mười điều kiêng về phòng ngủ và giường ngủ.
- Năm 2005, Trung tâm Biên soạn Dịch thuật sách Sài Gòn xuất bản cuốn
Quốc.
- Năm 2011, Cổ Đồ Thư và Minh Đường dịch cuốn Dương trạch thập thư cổ kim đồ thư tập thành (kinh điển truyền thế về văn hóa phong thủy Dương trạch)
của Vương Quân Vinh (Nxb. Thời Đại), tập hợp đầy đủ các yếu tố từ văn hóa môi
trường cho đến phương pháp chọn hình dáng bên trong nhà ở.
Nguyễn Văn Mậu dịch cuốn Chu dịch với dự đoán học của Thiệu Vĩ Hoa
(Nxb. Thời Đại). Cuốn sách giải thích về lời quẻ (quẻ từ) và lời hào (hào từ) của
64 quẻ trong Chu Dịch.
Thích Minh Nghiêm dịch cuốn Tự xem phong thủy của Thiệu Vĩ Hoa (Nxb.
Thời Đại), giới thiệu hệ thống những tri thức phong thủy cơ bản có giá trị thực
hành, tìm hiểu tổng quan về môi trường sống và trú trạch thuộc vấn đề cơ bản
của phong thủy Dương trạch, thế đất, cổng nhà, thuật trạch cát, linh vật phong
thủy, v.v…
Tiếp lại dịch cuốn Địa lý toàn thư của Vương Quân Vinh, Thiệu Vĩ Hoa
(Nxb. Thời Đại), gồm 9 chương, trong đó ở chương 1: Nhập môn phong thủy;
Chương 2: Loại hình nhà ở và cát hung trong phong thủy; Chương 3: Loại hình
nhà ở và hướng cửa theo phong thủy; Chương 6: Phong thủy phòng bếp - an khang
thịnh vượng; Chương 7: Phòng vệ sinh - bài trí không gian ảnh hưởng tới vận thế;
Chương 8: Phong thủy trong kinh doanh; Chương 9: Phong thủy âm phần.
19