Bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam - pdf 11

Download Đề tài Bất cân xứng thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam miễn phí



MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt Trang
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các hình v ẽ đồ thị
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN
1) Khuôn khổ lý thuyết về bất cân xứng thông tin . 1
1.1) Thông tin là gì ? . . . 1
1.2) Lý thuy ết về bất cân xứng thông tin. . 1
1.2.1) Giới thiệu sơ lược thông tin bất cân xứng . . 1
1.2.2) Các khái niệm thông tin bất cân xứng . . 3
1.2.3) Các hình thức thông tin bất cân xứng . . 3
2) Bất cân xứng thông tin trong thị trường chứng khoán . . 10
2.1) Tổng quan về thị trường chứng khoán . . 10
2.2) Tác động của bất cân xứng thông tin . 10
2.2.1) Tác động đến doanh nghiệp . . 11
2.2.2) Tác động đến thị trường chứng khoán . . 15
2.2.3) Tác động đến nền kinh tế . . . 15
3) Bất cân xứng thông tin và thị trường hiệu quả. . 16
3.1) Thế nào là thị trường hiệu quả? . . 16
3.2) Các dạng của thị trường hiệu quả . 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 . . 18
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM HIỆN NAY
1) Phân tích hiện trạng Thị trường chứng khoán Việt Nam . 19
2) Đánh giá tình trạng bất cân xứng thông tin trên
Thị trường chứng khoán Việt Nam . . . 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 . 31
CHƯƠNG 3: KIỂM ĐỊNH BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1) Thiết lập mô hình kiểm định . . . 32
1.1) Kiểm định thống kê về tính độc lập của tỷ suất sinh lợi. . 32
1.2) Kiểm định quy tắc giao dịch . . . 32
2) Thu thập dữ liệu. . . . 33
3) Kết quả kiểm định. . . 33
3.1) Kết quả kiểm định thống kê về tính độc lập. . . 33
3.2) Kết quả kiểm định quy tắc giao dịch . . 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 . . 36
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ NHẰM KHẮC PHỤC
TÌNH TRẠNG BẤT CÂN XỨNG THÔNG TIN TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1) Nâng cao chất lượng thông tin được công bố . 37
1.1) Đối với cơ quan quản lý . . . 37
1.2) Đối với các chủ thể khác tham gia trên TTCK . 40
1.2.1) Đối với công ty niêm y ết . . . 40
1.2.2) Đối với công ty chứng khoán . . 41
1.2.3) Đối với các phương tiện truyền thông đại chúng . 42
1.3) Nâng cao chất lượng kiểm toán . . 43
2) Tăng cường và hoàn thiện hệ thống thông tin tại SGDCK. . 44
2.1) Xây dựng hệ thống công bố thông tin tự động . . 44
2.2) Xây dựng hệ thống cung cấp thông tin qua mạng Internet. . 45
2.3) Nâng cấp website của SGDCK, TTGDCK và UBCKNN . 46
3) Một số giải pháp khác hạn chế bất cân xứng thông tin . . 46
3.1) Thành lập tổ chức định mức tín nhiệm. . 46
3.2) Giải quyết vấn đề nội gián trên TTCK Việt Nam. . . 46
3.3) Nhà đầu tư chọn nhà quản lý có năng lực . . 48
3.4) Khuyến khích và chế tài . . . 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 . . 49
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-16458/
++ Ai muốn tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho!

Tóm tắt nội dung:

a chúng. Người ta có thể dùng phân tích cơ
bản để biết chứng khoán đang được định giá thấp hay cao.
 Thị trường hiệu quả dạng vừa phải
Thị trường hiệu quả dạng vừa phải giả định rằng giá cả không chỉ phản ánh giá cả
quá khứ mà còn phản ánh tất cả thông tin đã công bố khác. Trong thị trường hiệu quả
dạng vừa phải, không có nhà đầu tư nào có thể đạt được lợi nhuận sau khi đã điều chỉnh
rủi ro trên mức trung bình từ các giao dịch của họ nếu việc mua bán dựa vào các số liệu
đã được công bố và những thông tin đoán mà cả thị trường đều biết
 Thị trường hiệu quả dạng mạnh:
Thị trường hiệu quả dạng mạnh giá định rằng giá cả phản ánh tất cả thông tin có
thể có được bằng cách phân tích tỉ mỉ về công ty và về nền kinh tế. Điều này nói lên rằng
thị trường phản ứng rất nhanh với bất kỳ thông tin nào, kể cả những thông tin mang tính
chất nội bộ hay cá nhân, khả năng đạt được lợi nhuận siêu ngạch là không thể. Tuy nhiên,
thực tế có một bộ phận cá nhân có thể có được những thông tin quan trọng trước khi
chúng được công bố ra công chúng, do đó sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch. Đây được
xem là một trong những biểu hiện của tình trạng bất cân xứng thông tin trên thị trường.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thông tin bất cân xứng là mức độ thông tin phản án không kịp thời, chính xác,
đẩy đủ về thị trường và diễn biến của nó. Thông tin bất cân xứng tạo ra những kỳ vọng về
giá khác nhau đối với mỗi chủ thể trên thị trường dẫn đến những hiếu quả về mặt kinh tế
khác nhau và thường là thiệt hại cho các nhà đầu tư có thông tin ít hơn hay thông tin
thiếu chính xác hơn. Hơn nữa, còn gây ra các hành vi tiêu cực như đầu cơ, giao dịch nội
bộ, giao dịch nội gián, tung tin đồn thất thiệt….làm cho thị trường kém hiệu quả, dễ chao
đảo, hoạt động đầu tư của nhà đầu tư cũng rủi ro hơn
CHƯƠNG 2
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG BẤT CÂN XỨNG
THÔNG TIN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM HIỆN NAY
1) Phân tích hiện trạng Thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vào hoạt động phiên giao dịch
đầu tiên tại TTGDCK TP. HCM vào ngày 28/07/2000. Từ đó đến nay, sau hơn bảy năm
hoạt động, thị trường đã trải qua nhiều biến đổi thăng trầm.
Để nhìn nhận rõ hơn sự biến đổi này, ta có thể chia thời gian hoạt động của Thị
trường chứng khoán Việt Nam thành năm giai đoạn như sau:
1.1) Giai đoạn 1: từ 28/07/2000 đến 25/06/2001
Đây là giai đoạn thị trường mới đi vào hoạt động. Nguồn cung cổ phiếu còn khá
hạn hẹp: chỉ có năm doanh nghiệp niêm yết là REE, SAM, HAP, TMS, LAF, giá trị niêm
yết chỉ đạt 466.9 tỷ đồng. Lượng cổ phiếu được phép giao dịch thấp, chỉ khoảng 30-40%
lượng cổ phiếu phát hành. Trong khi đó, cầu cổ phiếu khá cao (giai đoạn này có khoảng
15.000 tài khoản được mở tại các công ty chứng khoán ). Điều này tạo nên một áp lực
cung cầu rất lớn, giá cổ phiếu tăng liên tục và tăng kịch trần qua các phiên giao dịch. Chỉ
số VN-Index từ 100 điểm trong ngày giao dịch đầu tiên, đến ngày 25/06/2001 đã tăng lên
đỉnh điểm 571.04 điểm với giá trị giao dịch mỗi phiên đạt khoảng 24 tỷ đồng, một con số
đáng kể so với thị trường mới và còn rất khan hiếm hàng hoá. Một điểm đáng nói, giá các
cổ phiếu biến động hầu như cùng chiều nhau và cùng chiều với chỉ số VN-Index.
Để giảm bớt áp lực cung cầu, UBCKNN đã điều chỉnh biên độ giao dịch cổ phiếu.
Tuy nhiên, việc mở rộng biên độ lớn trong khi khối lượng hàng hóa đưa vào thị trường
không đáp ứng được nhu cầu nhà đầu tư nên giá chứng khoán vẫn còn tăng mạnh. Mặt
khác, do giá tăng liên tục nên những người nắm giữ cổ phiếu cũng không muốn bán ra.
Điều này càng đẩy giá lên cao hơn nữa ( mỗi phiên tăng 7% ).
Đồ thị 1: Chỉ số VN-Index giai đoạn 1
Nguồn: www.vietstock.com.vn
1.2) Giai đoạn 2: từ 25/06/2001 đến 24/10/2003
Giai đoạn này thị trường đã tuột dốc. Giá chứng khoán thường rớt ở mức sàn, một
số phiên đứng giá và khối lượng giao dịch giảm hẳn. Mặc dù UBCKNN đã tăng biên độ
giao dịch lên + - 5% từ đầu tháng 01/2003 ( sau khi hạ thấp biên độ xuống + - 3% từ
09/10/2001) đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật để phát triển thị trường như giảm
lô giao dịch, cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mở tài khoản giao dịch tại các công ty
chứng khoán…nhưng thị trường vẫn không có dấu hiệu phục hồi. Chỉ số VN-Index giảm
liên tục và giảm đến mức “đáy” là 130.9 điểm vào ngày 24/10/2003, giảm hơn 440 so với
“đỉnh” của nó ở năm 2001. Ước tính mỗi phiên giao dịch, chỉ số VN-Index mất khoảng
0.29%. Cũng giống như giai đoạn trước, sự biến động của các cổ phiếu cũng không có sự
tách biệt. Các cổ phiếu cùng giảm theo chỉ số VN-Index. Nguyên nhân là do “ tâm lý bầy
đàn” của nhà đầu tư bất chấp những giá trị tính toán thực tế, triển vọng phát triển, tình
hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Họ thường đưa ra quyết định mua, bán
chứng khoán rất giống nhau. Hậu quả là gây ra những biến động lớn trên thị trường, khi
các cổ phiếu cùng nhau tăng giá, khi thì đồng loạt giảm giá. Thị trường còn biến động
như thế là do tính thanh khoản của các cổ phiếu niêm yết rất thấp. Điều này là vì số lần
khớp lệnh trên thị trường còn rất thấp. Giai đoạn này thị trường chỉ áp dụng cách
khớp lệnh định kỳ. Độ thanh khoản thấp như vậy khiến nhà đầu tư rất khó bán cổ phiếu
khi giá đang giảm và cũng rất khó mua cổ phiếu khi giá đang tăng.
Đồ thị 2: Chỉ số VN-Index giai đoạn 2
Nguồn: www.vietstock.com.vn
1.3) Giai đoạn 3: từ 24/10/2003 đến 03/08/2006
Giai đoạn này thị trường đã có xu hướng phục hồi. Nhưng lại có dấu hiệu hoạt
động cầm chứng. Chỉ số VN-Index không có biến động nhiều. Ngoài mức cao nhất đạt
được là 632.69 điểm vào ngày 25/04/2006, nhìn chung VN-Index dao động quanh mức
200-350 điểm. Giá giao dịch của từng loại cổ phiếu niêm yết cũng không có sự biến động
mạnh. Tuy nhiên, các cổ phiếu vẫn còn cùng tăng, cùng giảm.
Đồ thị 3: Chỉ số VN-Index giai đoạn 3
Nguồn: www.vietstock.com.vn
1.4) Giai đoạn 4: từ 03/08/2006 đến 13/03/2007.
Đây có thể xem là giai đoạn thị trường chứng khoán hoạt động sôi nổi nhất. Thị
trường mở rộng cả về quy mô, chất lượng hàng hóa lẫn số lượng cổ phiếu. Số cổ phiếu
niêm yết đã tăng hơn 303% so với năm 2005 ; tổng giá trị vốn hóa thị trường chứng
khoán đạt 16 tỷ USD, chiếm khoảng 22,7% GDP. Bên cạnh đó là sự ra đời của các định
chế tài chính: 23 quỹ đầu tư tài chính, hơn 40 công ty chứng khoán, 12 công ty quản lý
quỹ, 3 quỹ đầu tư và 6 ngân hàng hoạt động lưu ký chứng khoán. Ngoài ra, số tài khoản
của nhà đầu tư tăng gấp 3 lần năm 2005.
Chỉ số VN-Index tăng rất nhanh, đạt mức kỷ lục cao nhất từ trước đến nay là
1170,67 điểm vào ngày 13/3/2007. Nguyên nhân của sự gia tăng mạnh mẽ và có vẻ bất
hợp lý này chủ yếu là do tính không chuyên nghiệp của các nhà đầu tư dẫn...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status