Luận án tiến sĩ Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động của Việt Nam - Pdf 29

Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O
Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹OBé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O
Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O Tr−êng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n





NGUYỄN XUÂN HƯNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU
LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Mã số : 62310106
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Mai Quốc Chánh
PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai

HÀ NỘI - 2015iLỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, bản luận án với đề tài "Quản lý nhà
nước về xuất khẩu lao động của
Việt Nam
" là công trình
nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS Mai Quốc Chánh và PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai.
Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực,

phòng – Bộ Lao động Thương binh & Xã hội… đã nhiệt tình giúp đỡ,
tư vấn và cung cấp tài liệu, số liệu.
Tác giả cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên tinh
thần và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận án!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án Nguyễn Xuân Hưng iii
MỤC LỤC
MỤC LỤC
i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
viii
PHẦN MỞ ĐẦU
1
PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN
ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
5
1. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỂ TÀI 5
2. T
ỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 6
2.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài
7

44 iv
1.2.4. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động 53
1.3. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QLNN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 54
1.3.1. Những yếu tố thuộc ngoài nước xuất khẩu lao động
54
1.3.2. Những yếu tố thuộc về nước xuất khẩu lao động
57
1.4. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU
LAO
ĐỘNG 60
1.4.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động của một số
nước Châu Á
60
1.4.2. Một số bài học kinh nghiệm gợi ý cho Việt Nam 68

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM
71
2.1. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM THỜI
GIAN QUA 71

2.1.1. Khái quát tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam thời gian qua
71
2.1.2. Một số nét đặc trưng trong xuất khẩu lao động của Việt Nam thời gian
qua
72
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

ỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 146
3.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động tới hoạt động xuất khẩu lao động 146
3.1.2. Quan điểm và định hướng phát triển xuất khẩu lao động trong thời gian tới 152
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ N
ƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN T
ỚI 158
3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xuất
khẩu lao động 158
3.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế pháp luật về xuất khẩu lao động để
phù hợp và đáp ứng được các yêu cầu mới trong bối cảnh mới 161
3.2.3. Nhóm giải pháp đẩy mạnh hợp tác quốc tế và hỗ trợ phát triển thị
trường xuất khẩu lao động
166
3.2.4. Nhóm giải pháp về hỗ trợ và phát triển nguồn cho xuất khẩu lao động
169
3.2.5. Nhóm giải pháp xây dựng chương trình, chính sách hậu xuất khẩu
lao động nhằm sử dụng có hiệu quả lao động xuất khẩu về nước
173
3.2.6. Nhóm giải pháp quản lý và phát triển doanh nghiệp xuất khẩu
lao động
174
KẾT LUẬN
178
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
181
PHỤ LỤC
187


HNKTQT Hội nhập kinh tế quốc tế
9.

QLNN Quản lý nhà nước
10.

XKLĐ Xuất khẩu lao động
11.

XHCN Xã hội chủ nghĩa
12.

NĐ Nghị định
13.

NHCSXH Ngân hàng Chính sách xã hội
14.

NHTM Ngân hàng Thương mại
15.

NKLĐ Nhập khẩu lao động
16.

NLĐ Người lao động
17.

LĐXK Lao động xuất khẩu
18.


tắt
Viết đầy đủ
Tiếng Anh Tiếng Việt
26.

ASEAN
Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á
27.

FTA Free Trade Area Khu vực Thương mại tự do
28.

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
29.

DOLAB
Department of Overseas
Labour

Cục Quản lý việc làm ngoài
nước
30.

GATS
General Agreement on Trade
in Services
Hiệp định chung về Thương

thống nhất
37.

USD United State Dollar Đô la Mỹ
38.

WB World Bank Ngân hàng Thế giới
39.

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Số lượng lao động hợp tác tại một số thị trường từ 1980-1989 73
Bảng 2.2: Số lao động đi làm việc ở các nước XHCN giai đoạn 1980-1990 74
Bảng 2.3: Cơ cấu XKLĐ theo ngành nghề giai đoạn (1991-1999) 77
Bảng 2.4: Số lượng người lao động Việt Nam trên một số thị trường từ
1992-1999 77

Bảng 2.5: Cơ cấu XKLĐ theo trình độ tay nghề thời kỳ 2003-2005 81
Bảng 2.6: Cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam tại một số nước giai
đoạn 2000-2005 82

Bảng 2.7 : Cơ cấu XKLĐ theo giới tính giai đoạn 2000-2007 83
Bảng 2.8: Số lượng người lao động Việt Nam trên một số thị trường từ
2000-2005 84

Bảng 2.9: Tình hình XKLĐ của Việt Nam tại các thị trường từ 2006-2013 85

không về nước hàng năm (%) 141

Biểu 3.1: Triển vọng tăng trưởng của kinh tế thế giới và một số nền kinh tế
dẫn dắt đà tăng trưởng của nền kinh tế thế giới 2014-2020 (%) 148

DANH MỤC SƠ ĐỒSơ đồ 1.1: Mô hình quả lý lao động của VINACONEX tại Libya 38
Sơ đồ 1.2: Hệ thống quản lý lao động ở ngoài nước của Hàn Quốc 67
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý và thực hiện xuất khẩu lao
động giai đoạn 1980-1990 86

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý và thực hiện XKLĐ từ 1991
đến nay 107

Sơ đồ 2.3: Cơ cấu tổ chức Cục Quản lý lao động ngoài nước năm 2014 108 1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay ở Việt Nam, vấn đề lao động và giải quyết công ăn việc làm đang
là vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Tạo và giải quyết việc làm cho lao động xã hội
không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là trách nhiệm của các cấp, các
ngành, các tổ chức, các gia đình, bản thân người lao động và toàn xã hội. Đảng và

cơ quan chức năng chưa được đồng bộ và chặt chẽ; công tác tổ chức thực hiện và quản
lý XKLĐ còn bị buông lỏng; thiếu những chiến lược ở tầm quốc gia về XKLĐ, thủ tục
cấp phép hoạt động XKLĐ và chuyên gia, công tác khai thác, định hướng phát triển
TTLĐ ngoài nước còn nhiều bất cập… Do vậy, việc đánh giá thực trạng QLNN về
XKLĐ của Việt Nam và tìm ra nguyên nhân, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện
QLNN về XKLĐ là một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn HNKTQT hiện nay.
Với tất cả những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý nhà
nước về xuất khẩu lao động của Việt Nam”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng QLNN về XKLĐ của Việt Nam, luận án đề
xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về XKLĐ của Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá và xây dựng cơ sở lý luận về XKLĐ, QLNN về XKLĐ; khảo sát
và tổng kết kinh nghiệm quốc tế QLNN về XKLĐ.
Phân tích thực trạng QLNN về XKLĐ của Việt Nam những năm qua, rút ra
những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế trong QLNN về XKLĐ
của Việt Nam
Đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về XKLĐ
của Việt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề lý luận và thực thiễn quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động
của Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động QLNN về XKLĐ của Việt Nam trong giai đoạn từ
1980 đến nay, chủ yếu tập trung đi sâu phân tích thực trạng theo các nội dung của
QLNN về XKLĐ trong giai đoạn từ 1991 đến nay, tương ứng với cơ chế quản lý mới.
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu QLNN đối với hình thức XKLĐ trực tiếp, đó
là hình thức đưa NLĐ đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Hình thức XKLĐ tại

nước XKLĐ. Trong đó, bối cảnh quốc tế tiếp tục diễn biến phức tạp là yếu tố mà
QLNN về XKLĐ cần phải tính đến.
5.2. Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu
Từ việc làm rõ những ưu điểm, hạn chế của QLNN về XKLĐ của Việt Nam;
bối cảnh trong nước và quốc tế, dự báo về TTLĐ trong nước và quốc tế, luận án đã
đề xuất bốn quan điểm và sáu định hướng lớn cho hoạt động XKLĐ của Việt Nam 4
trong thời gian tới phù hợp với bối cảnh quốc tế và định hướng phát triển kinh tế -
xã hội của Việt Nam. Trong đó, như Chiến lược XKLĐ phải được coi là một bộ
phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, một trong
ba trụ cột trong chiến lược phát triển kinh tế; XKLĐ phù hợp với cơ chế thị trường,
xây dựng và hoàn thiện chính sách hậu XKLĐ.
Luận án đề xuất sáu nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về XKLĐ của
Việt Nam, trong đó tập trung vào kiện toàn, bổ sung thêm bộ phận và nhân sự cho
các khâu phân tích và dự báo về thị trường cũng như quản lý lao động ở nước ngoài
để hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN về XKLĐ; Về thể chế XKLĐ cần điều chỉnh,
sửa đổi và bổ sung về loại hình doanh nghiệp được phép tham gia hoạt động
XKLĐ, bổ sung thêm một số nội dung như chi hỗ trợ rủi ro, chi tái hòa nhập sau khi
lao động hoàn thành hợp đồng về nước để phù hợp vơi bối cảnh mới; Chính phủ
đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở đào tạo nghề trên cả 3 miền của đất nước, trong đó
mỗi miền có ít nhất 1 đến 2 trung tâm đào tạo mang tính chuyên nghiệp làm nòng
cốt để phát triển nguồn cho hoạt động XKLĐ; xây dựng chính sách hậu XKLĐ,
trong đó chú ý thực hiện tốt hoạt động tái XKLĐ.
6. Bố cục của luận án
Luận án bao gồm ba phần như sau:
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN

tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường hợp tác quốc tế giữa nước ta với
các nước XKLĐ và chuyên gia còn có vai trò quan trọng trước mắt và lâu dài, góp
phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ
CNH, HĐH "[1].
Với tình hình và bối cảnh mới hiện nay, để góp phần vào việc thực hiện thành công
chủ trương trên của Đảng và Nhà nước, tác giả chọn chủ đề QLNN về XKLĐ của Việt
Nam. Trong khuôn khổ chủ đề nghiên cứu này, tác giả hướng đến mục tiêu của luận án
là đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về XKLĐ của Việt Nam.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích thực
trạng QLNN về XKLĐ của Việt Nam thời gian qua, làm rõ cơ chế, sự điều chỉnh
chính sách quản lý của Nhà nước, tổ chức thực thi chính sách, tổ chức bộ máy
QLNN… đối với sự di chuyển lao động trong nước ra nước ngoài và cụ thể là
XKLĐ (loại trừ XKLĐ tại chỗ). Từ đó luận án sẽ trả lời các câu hỏi:
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới QLNN về XKLĐ của Việt Nam (cả ảnh
hưởng tích cực và tiêu cực ), mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng? 6
- Các điều chỉnh về cơ chế, chính sách trong QLNN về XKLĐ tác động đến
hoạt động XKLĐ như thế nào, đã phù hợp và đáp ứng được yêu cầu thực tế hiện
nay chưa?
- Năng lực thực hiện của các cơ quan QLNN về XKLĐ hiện như thế nào?
- Công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát hoạt động XKLĐ được thực hiện
như thế nào?
- Việc xây dựng và ban bành, đánh giá và điều chỉnh văn bản pháp luật về
XKLĐ được thực hiện như thế nào, đã phù hợp và đáp ứng với yêu cầu thực tế chưa?
Từ những mục tiêu thể hiện ở trên, luận án phải thực hiện được những nhiệm
vụ chủ yếu sau:
Thứ nhất, tổng quan các nghiên cứu và các đề tài nghiên cứu liên quan đến
XKLĐ và QLNN về XKLĐ cũng như di chuyển lao động quốc tế từ các giác độ

cơ quan nghiên cứu về di cư lao động quốc tế ở các nước cũng như của các tổ chức
quốc tế như Tổ chức Di cư quốc tế (IOM), các cơ quan nghiên cứu của Liên hợp
quốc, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ tiền
tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)Các nghiên cứu thường được thực hiện theo nhiều quan điểm khác nhau và tập
trung chủ yếu vào phân tích về mặt số học dựa trên các thống kê liên quan đến hoạt
động di chuyển lao động quốc tế như số lượng lao động di chuyển, xu hướng, số
tiền NLĐ gửi về nước để giải quyết các vấn đề như: Tìm hiểu nguyên nhân di
chuyển lao động quốc tế và các yếu tố tác động, ảnh hưởng; Đề cập và đánh giá vai
trò của di cư lao động quốc tế đối với sự phát triển của các nước thông qua hoạt
động của NLĐ ở nước nhập cư, các khoản tiền NLĐ gửi về nước, việc chuyển giao
các kỹ năng, thiệt hại do sự xuất cư của NLĐ có kỹ năng ; Nhận định và đánh giá
các xu hướng di chuyển lao động quốc tế, các tác động đối với NLĐ di cư và các
biện pháp bảo vệ quyền lợi của họ; Từ đó, đưa ra các khuyến nghị về chính sách
quản lý di cư lao động quốc tế có hiệu quả và đạt được lợi ích lớn nhất đối với sự
phát triển của các nước. Tuy nhiên, do xem xét chung là dưới giác độ di cư lao động
quốc tế nên các nghiên cứu đã có sự hạn chế trong việc xem xét và phân tách rõ
ràng các hình thức cụ thể của di chuyển lao động quốc tế, việc phân chia này chủ
yếu dựa theo góc độ luật pháp và quản lý như di cư lao động quốc tế hợp pháp và
bất hợp pháp, tạm thời hoặc lâu dài… Các đề xuất và gợi ý chính sách cũng chủ yếu
đều được tập trung vào việc quản lý sự di chuyển quốc tế của NLĐ, nhất là đối với
di cư lao động bất hợp pháp, giải quyết vấn đề bóc lột, phân biệt đối xử, lạm dụng,
xâm hại nhân phẩm của NLĐ di cư
8
Năm 2005, khi nghiên cứu về hệ thống chính sách đưa NLĐ sang Hàn Quốc
9
chung, các nghiên cứu cũng chưa làm rõ khái niệm, bản chất của hoạt động đưa
NLĐ đi làm việc ở nước ngoài hay XKLĐ và đặc điểm, vai trò, ảnh hưởng cụ thể
của riêng hoạt động này đối với các nước cũng như công tác QLNN về hoạt động
này. Xuất phát từ các quan điểm và cách tiếp cận như vậy nên hầu hết các nghiên
cứu này đều chưa đề cập hoặc đề cập rất hạn chế (không đề cập cụ thể) đến QLNN
về XKLĐ đối với các quốc gia thực hiện hoạt động XKLĐ.
2.2. Các nghiên cứu liên quan ở trong nước
Về mặt lịch sử, ở Việt Nam, việc di chuyển của NLĐ ra nước ngoài làm việc
vì các mục đích khác nhau đã có từ lâu, song để trở thành hệ thống và đặc biệt là có
sự tham gia của vai trò QLNN có thể được xem là bắt đầu từ đầu những năm 80 của
thế kỷ XX. Khi đó, hoạt động này gắn liền với những quan điểm, chủ trương của
Đảng và Nhà nước Việt Nam theo các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước trong từng giai đoạn. Cùng với đó, xuất hiện các tên gọi khác nhau và đi kèm
là các chính sách điều hành, quản lý khác nhau của Nhà nước về việc tổ chức cho
NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, như: hợp tác quốc tế về lao động, đưa
NLĐ đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, XKLĐ, đưa NLĐ Việt Nam đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng Gắn liền với sự phát triển đó của hoạt động này, trong
thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan về lĩnh vực XKLĐ. Các
công trình nghiên cứu chủ yếu giải quyết một các vấn đề như:
(1) Phân tích và xây dựng lý luận chung về di chuyển lao động quốc tế, hoạt
động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài hay hoạt động XKLĐ; Làm rõ tính tất yếu
của XKLĐ và sự cần thiết, vai trò của XKLĐ đối với nước ta; phân tích nguyên
nhân và tác động của di chuyển lao động quốc tế hay hoạt động XKLĐ.
(2) Khảo sát và phân tích kinh nghiệm quốc tế của một số nước khu vực Đông
Nam Á, châu Á về XKLĐ.
(3) Hệ thống hóa lý luận chung về QLNN về di chuyển lao động ra nước ngoài
làm việc.

Theo tác giả, hoạt động “đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài” chính là quá trình tạo
việc làm cho NLĐ ở ngoài nước, trong lĩnh vực sử dụng nguồn lao động (tạo việc
làm để sử dụng nguồn lao động). NLĐ đi làm việc có thời hạn rồi lại trở về thì
không nên sử dụng thuật ngữ “XKLĐ”, vì không phải cứ xuất đi là xong mà xuất đi
rồi lại nhận về và có thể lại tiếp tục tham gia XKLĐ.
Trước đó, tác giả Phạm Kiên Cường (1989) trong luận án tiến sỹ kinh tế "Tổ
chức sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội của Việt Nam trong lĩnh vực đưa
NLĐ đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài" đã cho rằng, “hợp tác quốc tế về lao
động” là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia thông qua các hiệp định được thỏa 11
thuận và ký kết giữa các quốc gia đó, là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các
quốc gia một cách hợp pháp và có tổ chức. Khái niệm “hợp tác quốc tế về lao động”
có nội dung rộng lớn, bao hàm nhiều lĩnh vực quan trọng trong quan hệ quốc tế về
lao động, không chỉ đơn thuần nhằm mục đích kinh tế mà còn cả những mục đích
khác. Việc sử dụng khái niệm “hợp tác quốc tế về lao động” ở Việt Nam chỉ còn
nguyên nghĩa trong phạm vi hợp tác lao động giữa các nước nằm trong cộng đồng
các nước XHCN với nhau. “Đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” là
một hình thức di chuyển lao động ra làm việc ở nước ngoài có thời hạn một cách
hợp pháp, đây cũng là một giải pháp tạo việc làm từ nước ngoài, nhằm tạo ra một
phần thu nhập quốc dân, tiếp thu khoa học công nghệ, kỹ thuật, nâng cao trình độ
NLĐ. Trên giác độ nào đó, tác giả cũng chỉ ra, thuật ngữ XKLĐ được hiểu là đưa
NLĐ ra nước ngoài làm việc hay làm thuê một cách hợp pháp, có tổ chức, thông
qua những hợp đồng ký kết giữa nước đưa NLĐ đi và nước tiếp nhận sử dụng lao
động (thuê mướn nhân công). Khái niệm “xuất - nhập khẩu lao động” chỉ đúng khi
sức lao động còn đóng tư cách như là một hàng hóa và hành vi tiến hành chỉ có một
mục đích duy nhất là đạt được lợi nhuận kinh tế cao; XKLĐ còn bao gồm cả XKLĐ
tại chỗ.
Theo tác giả Nguyễn Lương Trào (1993) trong luận án tiến sỹ kinh tế "Mở

cung-cầu về sức lao động. Nó như là một phương thức thực hiện sự phân công lao
động quốc tế. Đồng quan điểm này, tác giả Cao Văn Sâm (1994) trong luận án tiến
sỹ kinh tế của mình với đề tài "Hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý
XKLĐ ở nước ta trong giai đoạn tới" cho rằng, “XKLĐ” là một hình thức đặc thù
của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại mà hàng hóa đem
xuất khẩu là sức lao động của con người, còn khách mua là chủ thể người nước
ngoài. Tác giả cũng chỉ ra XKLĐ là một hoạt động tất yếu khách quan của quá trình
chuyên môn hóa và hợp tác quốc tế giữa các nước trong sản xuất nhằm phát huy lợi
thế so sánh của các nước. XKLĐ bao gồm XKLĐ ra nước ngoài và XKLĐ tại chỗ.
Tác giả Nguyễn Thị Phương Linh (2004) trong luận án tiến sỹ "Một số giải
pháp đổi mới quản lý tài chính về XKLĐ lao động Việt Nam theo cơ chế thị trường"
cho rằng "XKLĐ" là sự di chuyển lao động và chuyên gia đến làm việc có thời hạn
ở nước ngoài có tổ chức, hợp pháp thông qua những hiệp định chính phủ, hoặc các
tổ chức kinh tế được cấp giấy phép hoạt động cung ứng và tiếp nhận lao động, hoặc
thông qua các hợp đồng nhận thầu khoán công trình hoặc đầu tư ở nước ngoài. Từ
đó tác giả đề xuất nhằm đổi mới về công tác quản lý tài chính cho phù hợp. Tác giả
Trần Thị Thu (2006), sách chuyên khảo "Nâng cao hiệu quả quản lý XKLĐ của các 13
doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay", Nhà xuất bản lao động xã hội, thì cho rằng
XKLĐ chỉ hoạt động dịch chuyển lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác, bao
gồm cả XKLĐ tại chỗ. Tham gia vào hoạt động này gồm hai bên là bên NKLĐ và
bên XKLĐ.
Theo quan điểm của nhóm tác giả Lê Xuân Bá, Nguyễn Thị Kim Dung, Trần
Hữu Hân (2003) trong "Một số vấn đề về phát triển thị trường lao động ở Việt
Nam", Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội), XKLĐ còn được hiểu là hoạt
động di chuyển nhân lực (XKLĐ là một bộ phận của di dân quốc tế, song có đặc
trưng chủ yếu là sự di chuyển thuần tuý nguồn nhân lực), hay là hoạt động di
chuyển lao động quốc tế để cung cấp dịch vụ lao động (Xuất - NKLĐ trên TTLĐ

phát huy sức mạnh vốn có của mỗi quốc gia. Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Lan
(2013), trong luận án tiến sỹ kinh tế “XKLĐ của Việt Nam trước và sau khủng
hoảng kinh tế thế giới năm 2008”, trường Đại học ngoại thương, cho rằng “XKLĐ”,
thực chất là xuất khẩu HHSLĐ, là hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài
trong một thời hạn nhất định theo hợp đồng hoặc theo thỏa thuận được ký kết giữa
các bên có liên quan theo đúng quy định của luật pháp nước gửi và nước nhận lao
động nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho cả NLĐ lẫn người sử dụng lao
động. Như vậy, tác giả quan niệm XKLĐ là bán sức lao động ra thị trường nước
ngoài mà sức lao động lại gắn liền với NLĐ, do đó để XKLĐ thì việc đầu tiên cần
làm là đưa NLĐ ra nước ngoài để người này có thể bán sức lao động của mình cho
người sử dụng lao động ở nước ngoài. Chính với cách tiếp cận này, khi đề cập liên
quan đến vấn đề QLNN về XKLĐ, tác giả cho rằng Việt Nam không ban hành luật
XKLĐ mà ban hành luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Năm 2006, Việt
Nam ban hành Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Luật
này đưa ra khái niệm đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài, trong điều 1 của Luật này
quy định phạm vi điều chỉnh của Luật là “hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng; quyền và nghĩa vụ của NLĐ đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng; quyền nghĩa và nghĩa vụ của doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa NLĐ
đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các tổ chức, cá nhân liên quan”. Điều
này cũng có nghĩa là “đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài” cũng chính là “XKLĐ”.
Như vậy, qua các nghiên cứu đề cập ở trên, có thể thấy có nhiều cách tiếp cận
theo các quan điểm khác nhau về di cư lao động quốc tế, về di chuyển lao động
quốc tế, về hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài hay XKLĐ. Nhưng việc
tập trung phân tích biểu hiện bề ngoài của sự di chuyển HHSLĐ giữa các nước (di
cư lao động quốc tế), hoặc những phân tích mang tính kỹ thuật trong thương mại
quốc tế như cung ứng lao động cho nước ngoài theo các hợp đồng đã ký kết (đưa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status