Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động của việt nam - Pdf 29



1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Trong thời gian qua công tác XKLĐ của Việt Nam đã đạt được những kết quả
nhất định, thu về cho đất nước hàng tỷ USD, đã chuyển đổi và mở rộng được sang
các thị trường mới… Song XKLĐ của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương
xứng với tiềm năng của đất nước cũng như tiềm năng tiếp nhận lao động từ các
TTLĐ quốc tế, hiệu quả trong công tác XKLĐ còn chưa cao Một trong những
nguyên nhân chủ yếu là hoạt động QLNN về XKLĐ còn nhiều hạn chế và bất cập
như hệ thống chính sách và luật pháp về XKLĐ còn chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng
và theo kịp được với những biến động của tình hình thực tế; sự phối hợp giữa các cơ
quan chức năng chưa được đồng bộ và chặt chẽ; công tác tổ chức thực hiện quản lý
XKLĐ còn bị buông lỏng; thiếu những chiến lược ở tầm quốc gia về XKLĐ, thủ tục
cấp phép hoạt động XKLĐ, định hướng phát triển TTLĐ ngoài nước còn nhiều bất
cập… Do vậy, việc đánh giá thực trạng QLNN về XKLĐ của Việt Nam và tìm ra
nguyên nhân, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động QLNN về XKLĐ là
một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Với tất cả những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý nhà
nước về xuất khẩu lao động của Việt Nam”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích của đề tài
Trên cơ sở phân tích thực trạng QLNN về XKLĐ của Việt Nam, luận án đề xuất
hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về XKLĐ của Việt Nam
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá và xây dựng cơ sở lý luận về XKLĐ, QLNN về XKLĐ; khảo sát
và tổng kết kinh nghiệm quốc tế QLNN về XKLĐ.
Phân tích thực trạng QLNN về XKLĐ của Việt Nam những năm qua, rút ra

1. Khái niệm quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động
2. Nội dung QLNN về XKLĐ, bao gồm: (1) Xây dựng và ban hành hệ thống luật
pháp tạo môi trường pháp lý cho hoạt động XKLĐ, (2) Xây dựng và tổ chức thực hiện
chiến lược, kế hoạch và chính sách về XKLĐ, (3) Tổ chức hoạt động XKLĐ, (4) Hợp tác
quốc tế và phát triền thị trường XKLĐ,(5) Giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt XKLĐ.
3. Các yếu tố tác động đến QLNN về XKLĐ theo hai nhóm nhân tố tác động
chủ yếu là: Nhóm các yếu tố thuộc ngoài nước XKLĐ và nhóm các yếu tố thuộc về
nước XKLĐ.
Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu
Luận án đã đề xuất bốn quan điểm và sáu định hướng lớn cho hoạt động XKLĐ
của Việt Nam trong thời gian tới phù hợp với bối cảnh quốc tế và định hướng phát
triển kinh tế-xã hội của Việt Nam. Trong đó, như Chiến lược XKLĐ phải được coi là
một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
phát triển XKLĐ phải gắn với phát triển bền vững; chính sách XKLĐ phải ưu tiên
các huyện nghèo; XKLĐ phù hợp với cơ chế thị trường,hoàn thiện chính sách hậu
XKLĐ.
Luận án đề xuất sáu nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về XKLĐ của Việt
Nam, trong đó tập trung vào kiện toàn, bổ sung thêm bộ phận và nhân sự cho các
khâu thông tin và dự báo về thị trường cũng như quản lý lao động ở nước ngoài để
hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN về XKLĐ; Về thể chế XKLĐ cần điều chỉnh, sửa
đổi và bổ sung về loại hình doanh nghiệp được phép tham gia hoạt động XKLĐ, bổ
sung nội dung chi hỗ trợ rủi ro, chi tái hòa nhập sau khi lao động hoàn thành hợp
đồng về nước; Chính phủ đẩy mạnh hợp tác quốc tế và hỗ trợ phát triển thị trường
XKLĐ; đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở đạo tạo nghề mang tính chuyên nghiệp trên
cả 3 miền của cả nước để phát triển nguồn cho hoạt động XKLĐ; xây dựng chính
sách hậu XKLĐ; hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp XKLĐ nhằm thúc đẩy và nâng
cao hiệu quả hoạt động XKLĐ của nước ta trong thời gian tới. 3

lao động góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát
triển đất nước. Cho đến nay, chủ trương của Đảng và nhà nước Việt Nam vẫn là tiếp
tục đẩy mạnh XKLĐ, coi XKLĐ là một quốc sách. Với tình hình và bối cảnh mới
hiện nay, để góp phần vào việc thực hiện thành công chủ trương trên của Đảng và
Nhà nước, tác giả chọn chủ đề QLNN về XKLĐ của Việt Nam.
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới, sự di chuyển quốc tế về lao động chủ yếu được nghiên cứu và đề
cập trên góc độ di dân hay di cư lao động quốc tế, ít được đề cập đến dưới hình thức
xuất - nhập khẩu lao động, tại các tài liệu các cơ quan nghiên cứu về di cư lao động
quốc tế ở các nước cũng như của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Di cư quốc tế
(IOM), các cơ quan nghiên cứu của Liên hợp quốc, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO),
các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới
(WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)… Các nghiên cứu thường được thực hiện
theo nhiều quan điểm khác nhau và tập trung chủ yếu vào mô tả, phân tích về mặt số
học dựa trên các thống kê liên quan đến hoạt động di chuyển quốc tế của NLĐ để giải
quyết các vấn đề như: Tìm hiểu nguyên nhân di chuyển quốc tế của NLĐ và các yếu
tố tác động, ảnh hưởng… Từ đó, đưa ra các khuyến nghị về chính sách quản lý di cư
lao động quốc tế có hiệu quả và đạt được lợi ích lớn nhất đối với sự phát triển của các
nước. Xuất phát từ các quan điểm và cách tiếp cận như vậy nên hầu hết các nghiên
cứu này đều chưa đề cập hoặc đề cập rất hạn chế đến QLNN về XKLĐ đối với các
quốc gia thực hiện hoạt động XKLĐ.
2.2. Các nghiên cứu liên quan ở trong nước
Về mặt lịch sử, ở Việt Nam, việc di chuyển của người lao động ra nước ngoài
làm việc để kiếm sống hoặc vì các mục đích khác đã có từ lâu, song để trở thành hệ
thống và đặc biệt là có sự tham gia của vai trò QLNN có thể được xem là bắt đầu từ
thập kỷ 80 của thế kỷ XX. Khi đó, hoạt động này gắn liền với những quan điểm, chủ
trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam theo các điều kiện phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. Theo đó, xuất hiện các tên gọi
khác nhau và đi kèm với đó là các chính sách điều hành, quản lý khác nhau của Nhà

Với đề tài QLNN về XKLĐ của Việt Nam, tác giả xác định câu hỏi quản lý là
cần phải hoàn thiện công tác QLNN về XKLĐ của Việt Nam như thế nào?
3.2. Câu hỏi nghiên cứu
Để trả lời câu hỏi quản lý và đạt được mục tiêu trên của luận án, cần làm rõ các
câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Chất lượng (hiệu quả) quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động của Việt Nam
hiện nay như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động của
Việt Nam?
3.3. Lý thuyết nghiên cứu
Các lý thuyết liên quan đến XKLĐ như: Lý thuyết về lao động, hàng hóa sức lao
động, thị trường, thị trường hàng hóa sức lao động, thị trường lao động, XKLĐ;
Các lý thuyết liên quan đến QLNN về XKLĐ: Lý thuyết về quản lý, quản lý
kinh tế, QLNN, QLNN về XKLĐ; lý thuyết về các yếu tố tác động tới hoạt động
XKLĐ cũng như QLNN về XKLĐ 6

Có thể khái quát sơ đồ khung lý thuyết như sau:

PHẦN C: NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU LAO
ĐỘNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

XKLĐ

QLNN
XKLĐ
Các nhân tố
tác động
Các nhân tố
tác động 7

1.1.2. Các hình thức xuất khẩu lao động
1.1.2.1. Căn cứ vào cách thức thực hiện bao gồm
XKLĐ theo hiệp định Chính phủ giữa hai Nhà nước; XKLĐ trực tiếp thông qua hợp
đồng cung ứng lao động; XKLĐ đi làm các công trình bao thầu ở nước ngoài
1.1.2.2. Căn cứ vào cơ cấu hàng hoá sức lao động, gồm có:
Chuyên gia, kỹ thuật viên trình độ cao; Thợ lành nghề và lao động giản đơn.
1.1.2.3. Căn cứ vào việc di chuyển sức lao động (di chuyển lao động), gồm có:
XKLĐ trực tiếp ra nước ngoài làm việc và XKLĐ tại chỗ
1.1.3. Nội dung của công tác xuất khẩu lao động
Tìm kiếm, khai thác thị trường
Đàm phán và thực hiện các hợp đồng cung ứng lao động
Công tác tuyển chọn, đào tạo, giáo dục, huấn luyện NLĐ trước khi đi
Tổ chức thực hiện dịch vụ kinh tế, hành chính, luật pháp để đưa NLĐ ra nước
ngoài làm việc
Về chế độ tài chính đối với NLĐ và tổ chức xuất khẩu lao động
Công tác quản lý lao động ở nước ngoài
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động

1.2.4. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động
1.2.4.1. Chỉ tiêu chung: Quy mô thị trường, số lao động tuyển chọn, số lao
động đào tạo, giáo dục định hướng, chỉ tiêu về quản lý lao động, cơ cấu bộ máy hoạt
động của doanh nghiệp.
1.2.4.2. Chỉ tiêu cụ thể
Số lượng lao động được giải quyết việc làm ở ngoài nước hàng năm
Mức tiết kiệm vốn đầu tư tạo việc làm trong nước
Thu nhập do lao động đi làm việc ở nước ngoài đem lại bổ sung vào thu nhập
quốc dân
1.3. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI QLNN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.3.1. Những yếu tố thuộc ngoài nước xuất khẩu lao động
Một là, bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay. Hai là, sự phát triển nhanh chóng của
khoa học - công nghệ. Ba là, sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nước XKLĐ. Bốn là,
đặc điểm thể chế chính trị, văn hóa, xã hội, luật pháp, phong tục tập quán đa dạng,
phức tạp của các nước nhập khẩu lao động. Ngoài ra, còn các yếu tố không thường
xuyên và bất khả kháng khác
1.3.2. Những yếu tố thuộc về nước xuất khẩu lao động
Một là, môi trường kinh tế-chính trị và xã hội trong nước. Hai là, chủ trương và
định hướng của Đảng và Nhà nước. Ba là, chất lượng nguồn lao động trong nước.
Bốn là, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức và thực hiện hoạt động XKLĐ
như. Năm là, quan hệ chính trị với các nước. Sáu là, chất lượng của các doanh nghiệp
XKLĐ.
1.4. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU
LAO ĐỘNG
1.4.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động của một số nước
Châu Á: Philippines, Thái lan, Trung Quốc, Indonexia, Hàn Quốc
1.4.2. Một số bài học kinh nghiệm gợi ý cho Việt Nam
Về chủ trương và cơ sở pháp lý đối với hoạt động XKLĐ; về quản lý chung, về
công tác quản lý đào tạo LĐXK; về quản lý lao động, về quản lý thị trường XKLĐ


có chủ trương như sau: Hợp tác sử dụng lao động với các nước XHCN để giải quyết
việc làm cho một bộ phận lao động nước ta; Cử chuyên gia sang giúp các nước đang
phát triển ở châu Phi và Trung Cận Đông.
Trong giai đoạn này chúng ta đã đưa được gần 30 vạn người đi làm việc có thời
hạn ở nước ngoài theo các hình thức sau:
+ Đi theo Hiệp định liên Chính phủ là: 236.872 người, trong đó có 91.595 lao
động nữ.
+ Đi theo hợp đồng cung ứng lao động: Tổng số là 30.782 người.
+ Thực tập sinh học nghề tại các nước Đông Âu chuyển sang XKLĐ là 23.713
người.
+ XKLĐ theo các công trình bao thầu ở nước ngoài (số lượng đi theo hình thức
này còn rất nhỏ)
Cơ cấu thị trường: Thời kỳ này lao động Việt Nam chủ yếu được đưa sang các
nước XHCN như Liên Xô cũ, CHDC Đức, Tiệp Khắc và Bungari. Một bộ phận lao
động không nhỏ được đưa đi làm việc tại IRắc, Libya. Mốt số chuyên gia trong các
lĩnh vực y tế, giáo dục, nông nghiệp được đưa đi làm việc tại các nước Châu Phi như
Angieri, Angôla, Mozambique, Côngo 10

Nhìn chung lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài giai đoạn này có tỷ
trọng lao động không nghề lớn (63,1%).
2.1.2.2. Giai đoạn 1991 đến 1999
Đặc trưng của giai đoạn này là sự thay đổi về cơ chế XKLĐ và qui mô XKLĐ
phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của TTLĐ quốc tế.
Hình thức XKLĐ: XKLĐ theo Hiệp định Chính phủ; XKLĐ thông qua các hợp
đồng cung ứng lao động; XKLĐ theo hình thức bao thầu có sử dụng nhân công
Cơ cấu ngành nghề: Ngành nghề trong LĐXK của nước ta là rất đa dạng, chủ
yếu trong ngành xây dựng, cơ khí, đánh bắt xa bờ, sỹ quan thuyền viên, chuyên gia y

n
g
(
n
g

ê
i
)
N¨m

Biểu 2.1. Quy mô XKLĐ của Việt Nam thời kỳ 1991 - 1999
Nguồn: Cục QLLĐNN
Như vậy, thời kỳ này số lượng LĐXK tăng đều hàng năm, riêng năm 1998 giảm
đáng kể là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực.
2.1.2.3. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Chủ trương trong giai đoạn này là đẩy mạnh XKLĐ, duy trì và mở rộng XKLĐ
trên thị trường đã có và phát triển trên thị trường mới. Cho phép các thành phần kinh
tế tham gia XKLĐ và làm dịch vụ XKLĐ trong khuôn khổ pháp luật dưới sự quản lý
chặt chẽ của Nhà nước.
Hình thức XKLĐ trong giai đoạn này cũng tương tự như giai đoạn 1991-1999.
Quy mô xuất khẩu: Nhìn chung quy mô XKLĐ của nước ta trong giai đoạn này
có xu hướng tăng dần. Nhìn biểu 2.2 ta thấy có 3 thời điểm sụt giảm vào các năm
2004, 2009 và 2012 trong xu hướng tăng của XKLĐ của nước ta. 11

31500
36186

dần từ nông nghiệp, ngư nghiệp, giúp việc gia đình với tính chất nặng nhọc, đơn lẻ, có
nhiều rủi ro cho người lao động sang khu vực ít rủi ro, ổn định hơn như công nghiệp và
dịch vụ. Về cơ cấu XKLĐ theo vùng miền, địa phương không có nhiều thay đổi trong giai
đoạn gần đây. Hiện nay cả 64 tỉnh, thành đều có lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Giai đoạn này công tác thị trường đã được đặc biệt coi trọng, đã có sự tham gia
của cơ quan Nhà nước vào công tác mở thị trường. Chúng ta đã xây dựng và thực
hiện các đề án cụ thể cho từng thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đoài Loan,
Malaysia, Trung Đông, Châu phi, lao động trên biển Nhìn chung, số lượng LĐXK
Việt Nam tăng qua các năm. So với những năm cuối của giai đoạn 1991-1999, nếu
như năm 1998 ta chỉ đưa được 12.240 lao động đi làm việc ở nước ngoài thì đến năm
2002 đã tăng gần gấp 4 lần (46.122 người) và năm 2003 với việc khai thông thị
trường mới Malaysia và do nhu cầu lao động tại thị trường Đài Loan tăng mạnh nên
XKLĐ của năm này đã đạt mức cao nhất từ trước cho đến năm 2005 (75000 người).
Bảng 2.9: Tình hình XKLĐ của Việt Nam tại các thị trường từ 2008-2013
Đơn vị tính: Người
TT

Thị trường 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Tổng số

1 Đài Loan 14127

23640

31631

21677

28499

38796


7578

8628

15214

9228

5446

86999

4 Malaysia 37941

26704

7810

2792

11741

9977

9298

7564

113827


74

18

1735

7 Macao 1320

2132

3025

3275

3124

1982

2304

2294

19456

8 Trung Đông 5104

5448

8611


10 Đông Âu 07

755

3109

2660

973

522

452

993

9471

11 Nươc khác 4050

6762

5543

13300

9927

8211

2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
Hoạt động XKLĐ và cơ chế QLNN về XKLĐ ở nước ta về cơ bản được phân
thành hai thời kỳ, trước và sau năm 1991 với dấu mốc là sự ra đời của Nghị định số
370 - HĐBT, ngày 09/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng. Trong luận án này, tác giả
tập trung đi sâu phân tích thực trạng QLNN về XKLĐ ở nước ta từ sau năm 1990 trở
lại đây, còn giai đoạn trước đấy chỉ khái quát một số nội dung cơ bản.
2.2.1. Khái quát tình hình quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động trong giai
đoạn 1980-1990
Trong giai đoạn này, hoạt động XKLĐ của nước ta được thực hiện chủ yếu dưới
dạng hợp tác quốc tế về lao động với các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa lúc
bấy giờ theo hình thức ký kết Hiệp định giữa các chính phủ (chiếm khoảng 80%). Về
hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý XKLĐ của nước ta thời kỳ bấy giờ mang nặng
tính bao cấp, bộ máy cồng kềnh và kém hiệu quả, chưa có sự tách biệt giữa chức
năng QLNN với chức năng hoạt động kinh doanh của các tổ chức có nhiệm vụ đưa
lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Việc tổ chức thực hiện: Sau khi ký hiệp định liên chính phủ, Bộ LĐTBXH
thống nhất với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước phân bổ chỉ tiêu tuyển lao động cho các
ngành, các địa phương, các tổ chức xã hội. Cục hợp tác quốc tế về lao động (Trực
thuộc Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội) có nhiệm vụ trực tiếp theo dõi việc
tuyển chọn của các ngành, các địa phương; kiểm tra hồ sơ; làm thủ tục xuất cảnh và
biên chế lực lượng lao động thành các đội, các đơn vị. Việc quản lý lao động Việt
Nam ở nước ngoài được thực hiện bởi bộ máy như sau: Đứng đầu là ban quản lý lao
động, dưới là các trưởng vùng, đơn vị trưởng, đội trưởng. Cán bộ được cử sang Ban
quản lý lao động Việt Nam ở các nước do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
tuyển chọn, đề cử.
2.2.2. Tình hình quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động trong giai đoạn 1991
đến nay
2.2.2.1. Thực trạng xây dựng và ban hành hệ thống luật pháp về xuất khẩu lao động
Trước yêu cầu đổi mới và HNKTQT đã đặt ra phải xây dựng và hoàn thiện thể

về XKLĐ. Tuy nhiên, bên cạnh đó thì thể chế XKLĐ hiện nay vẫn còn bộc lộ một số
hạn chế nhất định.
2.2.2.2. Phân tích tình hình xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch
và chính sách về xuất khẩu lao động
Nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của hoạt động XKLĐ, Chính phủ đã giao
cho Bộ LĐTBXH phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng và trình các cấp có thẩm quyền
ban hành và tổ chức thực hiện một số đề án, dự án như đề án: “Dạy nghề cho lao động đi
làm việc ở nước ngoài đến năm 2015” (tại Quyết định số 33/2006/QĐ-TTg ngày
07/2/2006); đề án “Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh XKLĐ góp phần giảm nghèo bền
vững giai đoạn 2009-2020” (tại Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009); dự án
hỗ trợ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài trong Chương trình mục tiêu quốc gia việc
làm và dạy nghề giai đoạn 2012-2015 (Quyết định số 1201/QĐ-TTg ngày 31/9/2012);
chính sách hỗ trợ lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tham gia XKLĐ (tại Quyết định số
52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012)… các nội dung chủ yếu là:
Về tổ chức và thực hiện các chương trình, chính sách phát triển nguồn và
chính sách hỗ trợ cho hoạt động XKLĐ
Về các chương trình, chính sách hỗ trợ phát triển thị trường XKLĐ
Về thông tin, tuyên truyền về XKLĐ
2.2.2.3. Phân tích tình hình tổ chức hoạt động xuất khẩu lao động
a. Bộ máy quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động giai đoạn này
Như đã đề cập ở trên, cùng với việc việc chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế và
việc đẩy mạnh hội nhập nền kinh tế ở nước ta từ sau những năm 1990, hoạt động 14

XKLĐ cũng được thay đổi và phát triển theo cơ chế thị trường. Do đó, về tổ chức bộ
máy và cơ chế quản lý hoạt động về XKLĐ được hình thành theo hai giác độ chức
năng chủ yếu là quản lý vĩ mô của Nhà nước và quản lý vi mô của các tổ chức kinh tế
thực hiện hoạt động XKLĐ.

Giai đoạn từ 1999 đến 2003, thực hiện theo nghị định 152/1999/NĐ-CP, có hai
loại doanh nghiệp được phép đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài là doanh nghiệp
có giấy phép hoạt động chuyên doanh và doanh nghiệp không có giấy phép hoạt động
chuyên doanh nhưng có hợp đồng nhận thầu, khoán xây dựng công trình, hợp đồng
liên doanh, liên kết chia sản phẩm ở nước ngoài. 15

Từ năm 2003 đến năm 2006, theo quy định tại Nghị định số 81/2003/NĐ-CP
ngày 1/7/2003 của Chính phủ thì các doanh nghiệp được xem xét cấp phép hoạt động
XKLĐ bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần nhưng Nhà nước giữ cổ
phần chi phối, doanh nghiệp thuộc cơ quan Trung ương, các tổ chức chính trị - xã
hội, doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam và các doanh
nghiệp khác do Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.
Từ năm 2006 đến nay, thực hiện theo Luật số 72/2006/QH11 và Nghị định
126/2007/NĐ-CP, có 5 loại hình doanh nghiệp và tổ chức được phép đưa lao động đi
làm việc ở nước ngoài.
Bắt đầu từ năm 2007, thực hiện Luật 72, các cơ quan QLNN đã tiến hành rà soát
và kiểm tra để đổi giấy phép cho những doanh nghiệp đủ điều kiện, không đổi và thu
hồi với những doanh nghiệp không đủ điều kiện hoặc những doanh nghiệp không còn
hoạt động.
c. Công tác tổ chức đưa đi và quản lý lao động ở nước ngoài.
Về hoạt động cụ thể tổ chức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài do các doanh
nghiệp, tổ chức XKLĐ thực hiện đã được đề cập cụ thể tại mục 113 chương 1.
Về công tác quản lý lao động ở nước ngoài:
Các quy định của Luật về công tác quản lý và bảo vệ quyền lợi chính đáng của
người lao động làm việc ở nước ngoài đã được thể hiện ở các khoản 2 Điều 27, khoản
2 Điều 30, khoản 2 Điều 33, khoản 2 Điều 38, khoản 2 Điều 41 và khoản 4 Điều 69
của Luật 72; Mục 5 Thông tư 21/2007/TT-BLĐTBXH ngày 08/10/2007 của Bộ

bản ghi nhớ hợp tác lao động chính thức với hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ (xem
danh mục tại phụ lục 2).
Trong khi số lượng thị trường được mở rộng, quan hệ đối ngoại lao động đang
tiếp tục phát triển thì số lượng văn phòng quản lý lao động của Việt Nam ở nước
ngoài lại chưa tương xứng. Hiện nay, chúng ta mới thiết lập được 09 Ban Quản lý lao
động tại một số nước có đông lao động Việt Nam, còn tại các nước khác, nhiệm vụ
quản lý lao động do cơ quan ngoại giao kiêm nhiệm.
b. Công tác hỗ trợ hoạt động phát triển thị trường của doanh nghiệp XKLĐ:
Nhà nước đã có nhiều hoạt động tích cực để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị
trường. Trong các đoàn công tác của Bộ LĐTBXH ra nước ngoài thường có một số
doanh nghiệp tham gia, qua đó các doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với cơ quan
quản lý lao động, các đầu mối tuyển dụng của nước bạn, mở ra cơ hội phát triển thị trường.
Bộ LĐTBXH mà trực tiếp là Cục QLLĐNN đóng vai trò thẩm định hợp đồng, giúp doanh
nghiệp hạn chế rủi ro khi ký kết hợp đồng do thiếu thông tin cần thiết
Để góp phần vào việc phát triển thị trường tiếp nhận lao động Việt Nam, Bộ
Ngoại giao cũng đã tôt chức nhiều đoàn đi khảo sát tìm hiểu thực tế để trên cơ sở đó
đưa ra chủ trương thống nhất về công tác XKLĐ trong tình hình thế giới có nhiều
biến động về kinh tế, chính trị và xã hội; cùng Bộ LĐTBXH thúc đẩy việc ký kết
Hiệp định Hợp tác về lao động với nhiều quốc gia, vận động các nước tiếp nhận lao
động Việt Nam.
2.2.2.5. Giám sát, thanh tra và kiểm tra hoạt động xuất khẩu lao động
Theo qui định tại Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH ngày 8/10/2007 về chế
độ báo cáo trong hoạt động XKLĐ, các doanh nghiệp phải báo cáo về số lượng lao
động đi làm việc ở nước ngoài, lao động hoàn thành hợp đồng về nước, lao động phá
hợp đồng hàng tháng; báo cáo về số lượng lao động được tuyển dụng ở các địa
phương định kỳ 6 tháng và 01 năm. Các Sở LĐTBXH cũng phải báo cáo số lượng lao
động được tuyển chọn tại địa phương theo chu kỳ 03 tháng/01 lần và số lượng lao
động ở địa phương đi nước ngoài làm việc theo hợp đồng cá nhân 01 lần/năm.
a. Về tình hình giải quyết đơn thư, tranh chấp
Từ năm 2007 đến nay, các cơ quan chức năng đã tiếp nhận và xử lý trên 1900

đã áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như sau (bảng 2.13):
Bảng 2.13: Nội dung và số lượt doanh nghiệp bị áp dụng các biện pháp
khắc phục hậu quả từ khi luật 72 ra đời đến nay
TT

Nội dung xử lý
Số lượt doanh
nghiệp bị xử lý

1 Đình chỉ hợp đồng cung ứng lao động trong thời gian 03 tháng 06
2 Đình chỉ hợp đồng cung ứng lao động trong thời gian 06 tháng 01
3 Đình chỉ hoạt động XKLĐ trong thời gian 06 tháng 04
4 Đình chỉ hoạt động XKLĐ trong thời gian 12 tháng 01
5 Buộc bồi thường thiệt hạt và chịu mọi chi phí liên quan 01
Nguồn: Cục QLLĐNN, báo cáo hàng năm

18

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XUẤT KHẨU
LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
2.3.1. Những ưu điểm
Thứ nhất là, về tổ chức bộ máy QLNN về XKLĐ đã được đổi mới toàn diện,
thống nhất từ Trung ương tới các địa phương với sự phân công, phân cấp rõ ràng.
Thứ hai là, thể chế về XKLĐ được đổi mới toàn diện và ngày càng hoàn thiện:
Hệ thống văn bản pháp luật ngày càng được hoàn thiện, phù hợp và đáp ứng tốt hơn
với yêu cầu của thực tế; Hình thành cơ chế quản lý và hệ thống doanh nghiệp XKLĐ,
giúp các doanh nghiệp từng bước thích nghi và phát triển trong cơ chế mới.


19

Một số quy định của Luật 72 liên quan đến Tổ chức sự nghiệp đưa lao động đi
làm việc ở nước ngoài chưa rõ nhưng không có văn bản hướng dẫn nên việc thực
hiện còn lúng túng.
2.3.2.3. Về tổ chức thực hiện
Tổ chức quản lý chưa chặt chẽ, thiếu sự phối hợp kiểm tra, kiểm soát giữa các
cơ quan chức năng. Các Bộ, ngành, địa phương chưa quan tâm quản lý, chỉ đạo các
doanh nghiệp trực thuộc làm XKLĐ.
Công tác nghiên cứu, xây dựng chiến lược và kế hoạch tổng thể về XKLĐ, từ
tạo và phát triển nguồn, quản lý LĐXK và giải quyết các vấn đề sau khi lao động
XKLĐ về nước còn nhiều hạn chế.
Công tác quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động ở nước ngoài của các
doanh nghiệp còn yếu, còn bỏ mặc cho cơ quan đại diện ngoại giao ở nước sở lại.
Nhà nước, Bộ, ngành, địa phương chưa thực sự đầu tư mở rộng thị trường, chưa
quan tâm đầy đủ các vấn đề "hậu XKLĐ".
2.3.2.4. Công tác thanh tra, kiểm tra và điểu chỉnh văn bản pháp luật
Việc tổ chức quản lý trong nước còn lỏng lẻo, thiếu sự phối hợp kiểm tra, kiểm
soát giữa các cơ quan chức năng, nhất là cơ quan chủ quản nên chưa xử lý triệt để các
hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, tranh giành đối tác; Trên thực tế nhiều khi
chưa kiểm soát được hoạt động của doanh nghiệp; Công tác QLNN về XKLĐ chưa
kịp thời rút ra những kinh nghiệm và những hạn chế của chính sách và pháp luật về
XKLĐ để điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế.
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế
2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan
Một là, XKLĐ là một lĩnh vực kinh tế đối ngoại đặc thù, ta chưa có nhiều kinh
nghiệm, lại là quốc gia đi sau trong lĩnh vực này.
Hai là, do sự phát triển mang tính bùng nổ của khoa học công nghệ và những tác
động của nó nên xu hướng cũng như chính sách tiếp nhận lao động của các nước có

3.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động tới hoạt động xuất khẩu lao động
3.1.1.1. Bối cảnh quốc tế và tác động của nó đến xuất khẩu lao động

Một là, xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới với các cấp độ khu vực hóa
và toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, cùng với sự phát triển mang tính bùng
nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
Hai là, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang dần đi qua nhưng những ảnh
hưởng của nó còn tồn tại rõ trong nền kinh tế thế giới.
Ba là, mặc dù đã xảy ra và đang còn tiềm ẩn một số nguy cơ có thể xảy ra chiến
tranh, xung đột như chiến tranh ở Libya, hay tình hình không ổn định và nguy cơ xảy
ra chiến tranh ở Irag, Syria, Ukraina, diễn biến phức tạp tại Biển Đông khi Trung
Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981
Bốn là, càng ngày sự cạnh tranh giữa các nước XKLĐ diễn ra càng gay gắt.
Theo số liệu của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), trong hơn thập kỷ qua ước tính lao
động thế giới tăng 1,7%/năm và phần lớn là ở các nước đang phát triển và đặc biệt là
các nước kém phát triển. Trong khi đó tốc độ tăng việc làm trên thế giới lại có xu
hướng giảm vì nhiều lý do. Theo báo cáo của ILO, tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu sẽ
không thể thay đổi nhiều trong vòng 5 năm tới, có thể tăng 0,5% điểm so với trước
thời kỳ khủng hoảng và số lao động thiếu việc làm có thể sẽ lên tới hơn 215 triệu vào
năm 2018 (Bảng 3.2). 21

Bảng 3.2: Dự báo thất nghiệp theo khu vực & thế giới từ năm 2014-2018
Đơn vị tính: Triệu người
TT

44,4

4 Đông Nam Á và Thái Bình Dương 13,9

14,2

14,5

14,8

15,0

5 Nam Á 29,6

27,7

28,8

28,7

29,2

6 Mỹ La Tinh và Caribbean 19,7

19,9

20,2

20,4


31,1

Thế giới 206,0

208,8 211,0 213,1 215,2
Nguồn: ILO, Global Employment Trend, Jun 2014

3.1.1.2. Bối cảnh trong nước
Một là, phát triển XKLĐ đã và sẽ tiếp tục là chủ trương, chiến lược lâu dài của
Đảng và Nhà nước.
Hai là, việc nước ta đẩy mạnh tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập
kinh tế thế giới, với chính sách mở cửa, đa phương hoá trong quan hệ đối ngoại, sẵn
sàng hợp tác với tất cả các nước.
Ba là, nhận thức về vị trí, vai trò của XKLĐ trong đại bộ phận NLĐ và các cấp
chính quyền, đoàn thể đã chuyển biến theo hướng tích cực.
Bốn là, Sau một thời gian thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2001-2010, nước ta đã chính thức thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Điều đó
đã đặt ra yêu cầu mới cho XKLĐ, đòi hỏi trong thời gian tới TTXKLĐ nước ta cần
phải có sự phát triển mới về chất phải được tính đến trong công tác QLNN.
3.1.2. Quan điểm và định hướng phát triển xuất khẩu lao động trong thời gian tới
3.1.2.1. Quan điểm về xuất khẩu lao động trong thời gian tới
Thứ nhất là, XKLĐ là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển
nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, QLNN về XKLĐ phải luôn quán triệt yêu cầu tôn
trọng các nguyên tắc của kinh tế thị trường và đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa
của nền kinh tế. Thứ hai là, XKLĐ phải phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và phân
công lao động quốc tế, là một bộ phận của hợp tác quốc tế. Thứ ba là, trong QLNN
về XKLĐ, cần tạo môi trường thuận lợi cho sự tham gia của doanh nghiệp và NLĐ. 22

hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về XKLĐ.
3.2.3. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và hỗ trợ phát triển thị trường xuất khẩu lao động
Một là, nâng cao năng lực nghiên cứu, phân tích, dự báo về thị trường XKLĐ.
Hai là, tăng cường và hoàn thiện công tác xúc tiến phát triển thị trường XKLĐ. Ba là,
củng cố và mở rộng thị phần tại các thị trường truyền thống. Bốn là, tăng cường công
tác marketting, xây dựng thương hiệu cho XKLĐ nước ta.
23

3.2.4. Nhóm giải pháp về hỗ trợ và phát triển nguồn cho xuất khẩu lao động
+ Trước hết, về phía Nhà nước, các cơ quan chức năng, chính quyền các địa
phương phối hợp đẩy nhanh việc triển khai các đề án, chương trình về đạo tạo nghề
cho XKLĐ đã có. Thứ hai là, tiến hành đầu tư thêm để xây dựng hệ thống đào tạo
nghề phục vụ cho mục tiêu XKLĐ. Thứ ba là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ
thống tiêu chuẩn nghề, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia phù hợp với
tiêu chuẩn nghề của khu vực và quốc tế. Thứ tư là, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ,
giảm bớt khó khăn kinh tế cho NLĐ khi tham gia thị trường LĐXK. Thứ năm là,
hàng năm các cơ quan QLNN về XKLĐ phối hợp tổ chức tổng kết để đánh giá việc
thực hiện các đề án, chương trình đào tạo LĐXK để có cơ sở điều chỉnh hoặc xây
dựng và ban hành các chính sách mới cho phù hợp.
3.2.5. Xây dựng chương trình, chính sách hậu xuất khẩu lao động nhằm sử
dụng có hiệu quả lao động xuất khẩu về nước
Về phía nhà nước, thực hiện các chính sách, biện pháp khuyến khích, hỗ trợ cho
LĐXK hết hợp đồng về nước sử dụng nguồn tài chính từ XKLĐ để đầu tư sản xuât
kinh doanh, tạo việc làm cho bản thân và người khác Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài
nước cũng nên bổ sung nội dung chi hỗ trợ hòa nhập cộng đồng.
3.2.6. Nhóm giải pháp quản lý và phát triển doanh nghiệp xuất khẩu lao động



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status