BỘ GIÁO DỤC HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-
HÀNH CHÍNH
VÀ ĐÀO TẠO QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH Phan Huy Hùng
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG ĐẢM BẢO
SỰ TỰ CHỦ,
TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM
CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
Hà Nội - 2009 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận án “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự
chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của
tôi. Các nội dung nghiên cứu và kết quả được trình bày trong luận án là trung thực
và chưa từng được công bố.
Hà Nội, ngày … tháng … năm ……
Tác giả luận án
Phan Huy Hùng
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
6. Kết cấu của luận án
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1. Nghiên cứu trong nước
2. Nghiên cứu ngoài nước
9
9
11
12
13
14
14
15
15
18
Chương 1- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ
TỰ CHỦ ĐẠI HỌC
1.1. Tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học
343942
6265
4
1.2.4. Các mô hình quản lý nhà nước về giáo dục đại học
1.3. Kinh nghiệm một số nước trong quản lý nhà nước về giáo dục đại
học
1.3.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học bảo đảm
tự chủ, trách nhiệm xã hội của trường đại học một số nước
1.3.2. Bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước tăng cường tự chủ và
trách nhiệm xã hội của trường đại học
Kết luận Chương 1
65
76
81
85
88
8893103
103
115126
129
Chương 3- NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
BẢO ĐẢM SỰ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TRƯỜNG
ĐẠI HỌC
3.1. Đổi mới nhận thức về vai trò của Nhà nước, vai trò và địa vị pháp
lý của trường đại học, vai trò của thị trường định hướng XHCN
3.2.3. Phân định chức năng quản lý nhà nước và chức năng cung cấp
dịch vụ giáo dục đại học
3.3. Hoàn thiện thể chế và chính sách bảo đảm tự chủ, tự chịu trách
nhiệm của trường đại học
3.3.1. Xác lập tầm nhìn và chiến lược; quy định việc phối hợp và
phân cấp quản lý, cung cấp dịch vụ, chuyển đổi sở hữu và tham gia
giám sát và đánh giá trong giáo dục đại học
3.3.2. Xây dựng và ban hành luật giáo dục đại học, luật giảng viên
và các chính sách bảo đảm sự công bằng, hiệu quả và chất lượng.
3.3.3. Xây dựng thể chế và chính sách đảm bảo sự can thiệp phù
hợp, hạn chế trao quyền mang tính đặc quyền, tự chủ về học thuật,
tài trợ công tích cực, thành lập trường đạt yêu cầu chất lượng, và
trách nhiệm lãnh đạo.
3.4. Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học đối với chương
trình, tuyển sinh, văn bằng và giảng viên
3.4.1. Đổi mới quản lý nhà nước về chương trình, tuyển sinh và văn
bằng
3.4.2. Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học đối với giảng
viên
3.5. Đổi mới quản lý nhà nước về tài chính giáo dục đại học
3.5.1. Đổi mới chính sách tài chính giáo dục đại học
3.5.2. Đổi mới phương thức quản lý tài chính, tách bạch giữa quản
lý nhà nước và quản lý của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu
3.6. Tăng cường chức năng kiểm soát nhà nước nhằm bảo đảm trách
nhiệm xã hội của trường đại học được thực hiện
3.6.1. Đổi mới nhận thức và hoàn thiện thể chế, chính sách bảo đảm
trách nhiệm xã hội của trường đại học
3.6.2. Xây dựng khung bảo đảm trách nhiệm xã hội
141
170
170174177177
179
184
185
6
3.6.3. Đổi mới hoạt động kiểm soát và giám sát nhà nước về tài
chính
Kết luận Chương 3
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
7
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá
GATS General Agreement on Trade in Services
(Hiệp định chung về thương mại trong dịch vụ)
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GDĐH Giáo dục đại học
HE Higher education
(Giáo dục đại học)
KTTT Kinh tế thị trường
KT-XH Kinh tế-Xã hội
OECD Organization for Economic Cooperation and Development
(Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)
QLNN Quản lý nhà nước
TĐH Trường đại học
TW Trung ương
UNESCO United Nation Education Science Culture Organization
(Tổ chức văn hoá-khoa học-giáo dục Liên hợp quốc)
XHCN Xã hội chủ nghĩa
WB The World Bank
(Ngân hàng Thế giới)
WTO World Trade Organization
(Tổ chức thương mại thế giới)
Bảng 2.1: Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và quản lý nhà nước về GDĐH 87
Bảng 2.2: Quy mô trường đại học, sinh viên và giảng viên từ năm học 2004-
2005 đến năm học 2008-2009
89
Bảng 2.3: So sánh đặc điểm quản lý nhà nước về giáo dục đại học trước và từ
sau Đổi mới
92
Bảng 2.4: Thẩm quyền quyết định đối với một số nội dung quản lý của
trường đại học công lập
98
Bảng 2.5: Quản lý nhà nước về giáo dục đại học 99
Bảng 2.6: Quản lý chủ quản các trường đại học năm học (1997-1998) và năm
học (2006-2007)
102
Bảng 2.7: Tự chủ và tự chịu trách nhiệm (b) 107
Bảng 2.8: Chi ngân sách nhà nước cho GD&ĐT và giáo dục đại học 109
Bảng 2.9: Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tài trợ công 112
Bảng 2.10: Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học 121
Hình 2.2: Trường đại học thành lập mới giai đoạn 2003-2007 118
Hình 2.3: Quản lý chất lượng giáo dục đại học và định hướng cải thiện 120
Hình 3.1: Mô hình bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm 143
cho các tổ chức đại học nhưng cách thức tác động thì rất khác nhau. Nó cũng là
11
nhân tố đặc biệt quan trọng bảo đảm phát huy mặt tích cực bên cạnh hạn chế
khuyết tật của thị trường; giúp cân bằng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của
trường đại học. Nghiên cứu nội dung, phương thức QLNN về GDĐH không chỉ
để tìm ra cách thức quản lý của nhà nước sao cho hiệu quả hơn mà còn giúp cho
chính nhà nước và nhà trường chủ động hơn cho bối cảnh cạnh tranh ngày càng
gay gắt. Trong bối cảnh mới, nhà nước giữ vai trò là chủ thể quản lý toàn diện hệ
thống đại học, tạo ra sự thuận tiện, dễ dàng để các trường cũng như các thành
phần có liên quan có thể phối hợp để đưa ra các chính sách và chiến lược phát
triển phù hợp. Đây chính là “chìa khoá” giúp giải quyết những khó khăn và vượt
qua thách thức trong công cuộc cải cách GDĐH.
Mục tiêu chiến lược đã được đặt ra như một dấu mốc lịch sử, đến năm
2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp và từng bước phát triển kinh tế tri
thức. Trong đó, GDĐH được xác định là lĩnh vực then chốt cần đột phá. Tầm
nhìn GDĐH Việt Nam đã trù tính quy mô toàn hệ thống sẽ tăng gấp 3-4 lần so
với hiện tại, sự quản lý và hội nhập quốc tế phải tốt hơn, dịch vụ đào tạo và
nghiên cứu phải mở cửa rộng hơn theo các cam kết quốc tế và đặc biệt là sự
thương mại hoá cũng được tính đến. Tất cả vấn đề này phụ thuộc rất nhiều vào
chất lượng của dịch vụ GDĐH và liên quan chặt chẽ đến yêu cầu đổi mới cơ chế
chính sách quản lý của Nhà nước về GDĐH. Nhà nước trong vai trò định hướng
giám sát thay cho sự kiểm soát tập trung chi tiết, đảm trách việc hướng dẫn, thúc
đẩy và bảo vệ lợi ích công của GDĐH. Muốn vậy, toàn hệ thống phải đổi mới tư
duy và cơ chế quản lý GDĐH, kết hợp hợp lý và hiệu quả giữa việc phân định rõ
chức năng, nhiệm vụ QLNN và việc bảo đảm quyền tự chủ, tăng cường trách
nhiệm xã hội, tính minh bạch của các cơ sở GDĐH theo nghị sự của Chính phủ
(Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005).
trường đại học công. Để đạt mục tiêu, luận án tập trung thực hiện những nhiệm
vụ sau đây:
- Cung cấp một số vấn đề lý luận về lợi ích công của trường đại học; bản
chất, tầm quan trọng, sự cân bằng và bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm; cơ cấu
tổ chức và thẩm quyền quản lý GDĐH; vai trò điều khiển và tài trợ hệ thống
13
GDĐH của nhà nước; mô hình và kinh nghiệm quốc tế QLNN về GDĐH. Hệ
thống quan điểm của Đảng và Nhà nước về tăng cường quyền tự chủ và nâng
cao trách nhiệm của trường đại học.
- Phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về GDĐH bảo đảm tự chủ của
nhà trường về học thuật, tổ chức bộ máy học thuật và tài chính; trách nhiệm xã
hội của trường đại học. Đồng thời, xác định nguyên nhân và hệ quả của những
thành tựu và tồn tại.
- Đưa ra một số giải pháp QLNN bảo đảm được sự tự chủ và tự chịu trách
nhiệm của trường đại học, thiết lập môi trường cung cấp dịch vụ GDĐH thuận
tiện, chủ động và bình đẳng, giới thiệu vai trò thích hợp của Nhà nước cũng như
thể chế, chính sách điều hành GDĐH tích cực.
- Cung cấp nguồn tư liệu tham khảo và gợi mở hướng nghiên cứu mới.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là QLNN về GDĐH, bao gồm thể chế, cơ cấu và
quá trình mà trong đó các nhân tố của hệ thống GDĐH (nhà nước, trường đại
học, các thực thể xã hội khác ) tương tác lẫn nhau và với thị trường định hướng
XHCN. Sự điều khiển, cách thức phối hợp thẩm quyền và mức độ can thiệp hợp
lý của Nhà nước bảo đảm tự chủ và trách nhiệm xã hội. Khái niệm đảm bảo
được hiểu như phương thức QLNN mà theo đó nhà nước định hướng, chỉ dẫn,
khuyến khích, bảo vệ và làm cho sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm được thực hiện.
Phạm vi nghiên cứu về không gian là những vấn đề lý luận, thực tiễn và
cứu, hướng đi, kiến thức và luận cứ; mô hình hóa nhằm tăng tính trực quan và
giúp nhận thức nội dung khái quát. Ngoài ra, để tăng tính khách quan, khoa học
và thuyết phục trong các vấn đề về lý luận, đánh giá thực trạng và lựa chọn giải
pháp, nghiên cứu sinh cũng tiếp cận khám phá (trên cơ sở tham khảo phương
pháp khảo sát của Meek và Goedegebuure (1998) về tái cấu trúc và định hướng
tương lai của GDĐH Úc [97]), thực hiện khảo sát ý kiến đối với 176 nhà quản lý
GDĐH Việt Nam của 106 tổ chức quản lý GDĐH. Trong số các nhà quản lý, số
người của các cơ sở GDĐH (cả công và tư) là 147, chiếm tỷ lệ 83,5%; số người
của các cơ quan QLNN và chủ quản là 29, chiếm tỷ lệ 16,5%. Trong số các tổ
15
chức quản lý, số trường đại học là 78, chiếm tỷ lệ 73,6%; đại học là 5, chiếm tỷ
lệ 4,7%; các vụ của các bộ và tương đương là 11, chiếm tỷ lệ 10,4%; UBND cấp
tỉnh là 8, chiếm tỷ lệ 7,5%; đoàn thể TW, ủy ban của Quốc hội là 4, chiếm tỷ lệ
3,8%. Trong tổng số 134 bảng câu hỏi khảo sát được phản hồi, chiếm tỷ lệ
76,13%, có 132 bảng câu hỏi được cho ý kiến đủ điều kiện được tiến hành xử lý
và phân tích thông qua công cụ hỗ trợ là phần mềm xử lý thống kê (SPSS). Khác
biệt ý kiến có ý nghĩa thống kê (0,05) giữa các nhà quản lý của trường đại học và
bên ngoài trường đại học cũng được xem xét. Các kết quả nghiên cứu có giá trị
và phù hợp cũng được kế thừa, bổ sung và phát triển trong quá trình nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, tuỳ từng phần, chương, các phương pháp sẽ được sử
dụng.
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
- Luận án được mong đợi góp phần làm phong phú lý luận QLNN về
GDĐH theo hướng giám sát, đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại
học công, về phương diện phân cấp, trao quyền và cơ cấu thẩm quyền; về
phương thức và phạm vi tác động hiệu quả của nhà nước tới hoạt động cung cấp
dịch vụ GDĐH; về bản chất, tính thực tế và điều kiện của tự chủ, tự chịu trách
17
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1. NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC
Các nghiên cứu liên quan tới QLNN về GDĐH Việt Nam theo hướng bảo
đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học xuất hiện nhiều từ khi Nhà nước
chủ trương đổi mới GDĐH. Lâm Quang Thiệp (2000), trong “Quyền tự chủ-trách
nhiệm xã hội và hệ thống đảm bảo chất lượng cho GDĐH Việt Nam”, đã giới thiệu
một số quan niệm về quyền này, cho rằng tăng quyền tự chủ là yêu cầu khách quan
nhưng không tách rời việc nâng cao trách nhiệm xã hội bằng cách duy trì tốt kiểm
toán và hệ thống đảm bảo chất lượng, và là nội dung cơ bản của phương thức quản
lý GDĐH trong nền KTTT [29, tr.48-58], nhưng chưa đi sâu vào nội hàm quyền tự
chủ cũng như những khía cạnh pháp lý đảm bảo khác. Còn trong “GDĐH Việt Nam
và tham khảo kinh nghiệm của GDĐH Hoa Kỳ” năm 2006, ông đã giới thiệu mô
thiệp đến mức độ nào vào các vấn đề của trường đại học, trách nhiệm của trường
đại học là đảm bảo chất lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực, điều kiện bảo đảm
thực hiện trách nhiệm này [53]. Thứ ba, đó là “thị trường GDĐH”, dịch vụ giáo dục
vẫn được gọi là hàng hoá và cần thị trường hoá GDĐH để làm cho các trường được
tổ chức và vận hành hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu KT-XH [54]. Tuy
nhiên, các vấn đề được nêu còn riêng lẽ, mang tính gợi ý, chưa đi sâu phân tích một
cách hệ thống từ gốc độ QLNN.
Ngo Doan Dai (2004), trong “Vấn đề quyền tự chủ và trách nhiệm của các
trường đại học trong đổi mới GDĐH Việt Nam”, đã làm rõ phần nào trách nhiệm
phải giải thích, phải chịu trách nhiệm của trường đại học [6, tr.16-24]. Tuy nhiên,
chưa đưa ra hình thức cũng như công cụ của trách nhiệm giải trình. Trong “Viet
Nam”, tác giả Doan Dai (2006), đã khái quát thực trạng cải cách GDĐH Việt Nam
đang đối mặt với nhiều thách thức, cho thấy sự xác lập địa vị pháp lý đặc biệt của
các đại học quốc gia, sự xuất hiện ngày càng nhiều các nhà cung cấp GDĐH ngoài
công lập, nhất là sự thay đổi trong quản lý và quản trị đại học theo hướng mở rộng
phân cấp cả chiều dọc lẫn chiều ngang [100]. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa nhà
nước và trường đại học công cũng như biện pháp QLNN bảo đảm sự tự chủ và trách
nhiệm được thực thi chưa được làm rõ.
19
Trong “Đổi mới GDĐH Việt Nam”, Trần Quốc Toản (2005) đã phác thảo
mục tiêu và nội dung khá toàn diện trong thập kỷ tới, đặt ra yêu cầu: đổi mới tư duy
quản lý, thực hiện ba chức năng và năm nhiệm vụ chính trong cơ chế thị trường
định hướng XHCN, tạo động lực bằng cách phân cấp quản lý phù hợp, xác định cơ
sở GDĐH là tâm điểm đổi mới (cơ chế tự chủ là điểm quy tụ cụ thể lợi ích của các
bên liên quan), thực hiện phương thức quản lý vĩ mô phù hợp, huy động sự tham gia
của cộng đồng, kiểm tra và điều chỉnh chính sách phù hợp [43, tr.14-30]. Tuy nhiên,
tác giả còn chưa xem xét sự tương tác của các yếu tố mang tính động lực và biện
ra sức ép đối với các trường và tự chủ đại học là giải pháp khắc phục những tồn tại
giúp các trường công lập phát triển bền vững [51]. Tuy nhiên, tác giả chỉ mới gợi ý
cho lộ trình thực hiện tự chủ. Lê Ngọc Đức (2009), trong “Bàn về quyền tự chủ và
trách nhiệm xã hội của các cơ sở GDĐH”, đã chỉ ra rằng nền KTTT có định hướng
XHCN đòi hỏi mọi tổ chức và quản lý GDĐH phải sản xuất ra nguồn nhân lực chất
lượng cao, GDĐH phải thể hiện trách nhiệm xã hội qua việc đảm bảo thoả mãn tiêu
chí hiệu quả cao với nội hàm: chất lượng cao, hiệu suất cao, phù hợp và công bằng
xã hội; cũng đã nêu một số điều kiện và giải pháp từ gốc độ quản lý vĩ mô thực hiện
quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội [34]. Tuy nhiên, nội hàm yêu cầu QLNN thông
qua các văn bản dưới luật có tính khung và mở chỉ đề cập một cách khái quát.
2. NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
Các nghiên cứu ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài thì còn ít do
GDĐH nước ta chỉ mới mở rộng cửa với thế giới những năm gần đây. Trước hết,
WB (1994), trong “HE: The lessons of experience”, đã đút kết kinh nghiệm qua
nghiên cứu GDĐH ở các nước đang phát triển mà trong đó có Việt Nam về quản trị
đại học ở cả cấp hệ thống và cấp trường; chỉ ra chìa khóa thành công cho các
chương trình cải cách GDĐH là xác định lại vai trò của Chính phủ và tăng cường
quyền tự chủ và trách nhiệm của các trường đại học công [111]. Nhưng đồng thời,
cũng khuyến khích quá trình tư nhân hóa, sự mở cửa thị trường GDĐH và các cách
tiếp cận quản lý ít có sự chi phối của nhà nước.
Institute of International education Vietnam (2004) đã đưa ra bức tranh
chung của hệ thống GDĐH Việt Nam với vai trò nổi trội của Bộ GD&ĐT trong
“HE in Vietnam”, chỉ ra dấu hiệu phi tập trung và khuyến cáo việc tăng cường đảm
21
chất lượng [90]. Tuy nhiên, không đưa ra giải pháp QLNN nào đảm bảo quyền tự
chủ cấp trường.
Hayden và Thiep (2006, 2007), trong “A 2020 vision for Vietnam” và
hai quan điểm: “đại học hàng hóa” và “chủ trương sống chung với khuynh hướng
của thời đại” qua lý giải các vấn đề: đại học là hàng hóa hay công ích, nhiệm vụ đào
tạo nhân lực mong đợi và lợi ích công của trường đại học [67]. Nhưng cần phải
được thảo luận trong khung cảnh chính trị và kinh tế cụ thể.
Hauptman (2008), trong “Tài chính cho GDĐH xu hướng và vấn đề”, đã
cung cấp bức tranh chung về chính sách tài chính GDĐH, phản ảnh những quan
điểm đang thay đổi trên thế giới và sự tác động sâu sắc đến phương hướng phát
triển của quốc gia [85]. Mặc dù tác giả có đề cập đến trường hợp của Việt Nam
nhưng cũng chỉ gợi mở một số vấn đề then chốt cần giải quyết nhằm trả lời câu hỏi:
“nên chăng Việt Nam đang cần một cuộc tái thiết tận gốc rễ hệ thống GDĐH”, như
cách đặt vấn đề.
Ngoài ra, có một số nghiên cứu tuy không liên quan trực tiếp đến đề tài
nhưng có giá trị trong nghiên cứu quản lý GDĐH và tự chủ đại học. Clark (1983),
trong “Quyền hành”, đã khái quát cơ cấu thẩm quyền trong hệ thống GDĐH và cho
thấy xu hướng tập trung thẩm quyền ra quyết định quản lý cấp trường hay cho giới
học thuật [19]. Nhưng chưa làm rõ thẩm quyền quản lý bên trong và bên ngoài
trường đại học, chưa đề cập đến thẩm quyền của các tổ chức trung gian tham gia
quản lý GDĐH và sự phân cấp quản lý. Mặc dù đây không phải là nghiên cứu riêng
về Việt Nam, quyền lực được tiếp cận ở gốc độ phân lập mà không thống nhất,
nhưng là cơ sở lý luận có ý nghĩa khi xem xét quyền tự chủ của trường đại học
trong bối cảnh nước ta.
Vught (1993), trong “Patterns of governnance in HE: Concepts & Trends”,
Neave & Vught (1994), trong “Government and HE across three continents: The
winds of change”, đã đút kết hai mô hình điều khiển hệ thống đại học của nhà nước
mang tính bao quát là kiểm soát và giám sát; nhấn mạnh sự hội tụ và ưu thế của
phương thức giám sát, nguyên lý tự quản và quản trị tốt [110], [99]. Tuy nhiên,
chưa nói đến quản lý GDĐH trong nền KTTT có định hướng. Scott (1995), được
Wongsamarn (2003) trích dẫn trong “The relationship between the state & the
cấp nội dung và phương thức QLNN nhằm tăng quyền tự chủ và nâng cao trách
24
nhiệm xã hội của trường đại học. Tuy nhiên, còn sơ lược, mang tính gợi mở hay đặt
vấn đề mà chưa làm rõ đảm bảo pháp lý về tự chủ và trách nhiệm, cơ cấu tổ chức và
thẩm quyền QLNN phù hợp, QLNN và quản lý cơ sở GDĐH hay chính sách tài
chính tích cực; chưa thấy nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề QLNN bảo đảm tự chủ,
tự chịu trách nhiệm một cách tổng thể, đó là tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng
cho mọi loại hình trường chủ động cung cấp dịch vụ GDĐH có trách nhiệm. Các
nghiên cứu ngoài nước cung cấp được một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm có giá
trị về quản lý vĩ mô, cách thức điều khiển trường đại học theo hướng đề cao tính tự
quản và trách nhiệm xã hội. Tuy nhiên, có khía cạnh không phù hợp với hoàn cảnh,
điều kiện và quan điểm trong nước. Những công trình này cũng là tài liệu tham
khảo được tác giả khai thác và sử dụng trong quá trình viết luận án.