VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VN
VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
VÀ NHÂN VĂN
******** PHẠM NGỌC HƯỜNG NGHIÊN CỨU VĂN BẢN
HOÀNG VIỆT LUẬT LỆ TOÁT YẾU DIỄN CA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH HÁN NÔM
MÃ SỐ: 60.22.40
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS. LÃ MINH HẰNG
2.1 Giới thiệu khái quát nội dung của HVLL 24
2.1.1 Vai trò của HVLL trong việc xây dựng và củng cố nhà nƣớc quân
chủ trung ƣơng tập quyền. 25
2.1.2 Sự kết hợp giữa lễ và hình trong HVLL. 26
2.1.3 Tƣ tƣởng đạo đức Nho giáo trong HVLL. 27
2.1.4 Tính nhân đạo trong HVLL. 28
2.2 Giới thiệu khái quát về HVLLTYDC 30
2.2.1 Thể loại 30
2
2.2.2 Nội dung HVLLTYDC 32
2.3 Từ HVLL đến HVLLTYDC 34
2.3.1. Cắt bỏ chƣơng, phần mục, nội dung trong HVLL 34
2.3.2 Tóm lƣợc nội dung khi diễn ca các điều luật 40
Tiểu kết chƣơng 2 48
Chƣơng 3: CHỮ NÔM TRONG HVLLTYDC 50
3.1 Khái quát về chữ Nôm và văn học Nôm 50
3.2 Chữ Nôm trong HVLLTYDC 52
3.2.1 Cơ sở thực hiện việc thống kê và phân loại chữ Nôm 52
3.2.2 Các loại chữ Nôm trong HVLLTYDC 54
a) Chữ Nôm cấu trúc A1 54
b) Chữ Nôm cấu trúc A2 55
c) Chữ Nôm cấu trúc B 57
d) Chữ Nôm cấu trúc C1 57
e) Chữ Nôm cấu trúc C2 58
g) Chữ Nôm cấu trúc D1 59
h) Chữ Nôm cấu trúc D2 60
i) Chữ Nôm cấu trúc E 60
k) Chữ Nôm cấu trúc G1 61
l) Chữ Nôm cấu trúc G2 62
Bảng 2: Thống kê tình trạng chuyển dịch tên điều luật 39
Bảng 3: Mô hình cấu trúc chữ Nôm 53
Bảng 4: Thống kê loại chữ A2 trong HVLLTYDC 55
Bảng 5: Các loại chữ Nôm trong HVLLTYDC 63
Bảng 6: Chữ Nôm có hai cách viết 65
Bảng 7: Chữ Nôm có hai cách đọc 66
Bảng 8: Đối chiếu loại chữ Nôm có bộ thủ biểu ý và loại chữ Nôm có chữ Hán
biểu nghĩa 68
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay sau khi giành độc lập, để củng cố vƣơng triều, các triều đại phong
kiến Việt Nam đều rất coi trọng việc chế định pháp luật. Hình thư thời Lý
đƣợc xem là một bộ sƣu tập luật lệ có tính pháp điển, là một mốc quan trọng
trong lịch sử lập pháp ở Việt Nam. Bộ luật này ngày nay không lƣu giữ đƣợc
bản gốc, tuy nhiên nội dung của nó vẫn còn đƣợc ghi chép trong các bộ sử cũ.
Kế thừa và phát triển tƣ duy lập pháp từ thời Lý, các vƣơng triều Trần tiếp tục
quan tâm đến vấn đề xây dựng luật pháp. Vua Trần Thái Tông cho ban hành
Quốc triều thông chế. Năm 1341, vua Trần Minh Tông lại cho biên soạn
Hoàng Triều đại điển. Vua Trần Dụ Tông cho biên soạn bộ Hình luật thư.
chữ Nôm; khóa luận cũng làm rõ thêm một số vấn đề chính trị, pháp luật thời
Nguyễn, đặc biệt là vấn đề đƣa tƣ tƣởng, chính sách và pháp luật của triều
đình Nho giáo vào xã hôi Việt Nam truyền thống.
Có thể thấy, việc tìm hiểu kĩ hơn về tác giả của HVLLTYDC; phiên âm
chú giải văn bản để từ đó góp phần tìm hiểu nội dung, ngôn ngữ văn tự đƣợc
thể hiện qua tác phẩm thì chƣa giành đƣợc sự quan tâm thích đáng. Trên cơ sở
giới thiệu toàn bộ bản phiên ra quốc ngữ văn bản HVLLTYDC, bản luận văn
tiến hành khảo cứu các vấn đề liên quan đến tác giả và văn bản; vị trí của
HVLLTYDC trong hệ thống các văn bản cổ luật Việt Nam; đối chiếu hai văn
bản HVLL và HVLLTYDC để thấy rõ ƣu thế của thể loại diễn ca trong việc
phổ cập luật lệ ở xã hội đƣơng thời. Bên cạnh việc đối chiếu hai văn bản
HVLL và HVLLTYDC, phiên âm toàn bộ HVLLTYDC, luận văn còn chú ý
khảo cứu cấu tạo chữ Nôm để tìm hiểu diện mạo của chữ Nôm thời Nguyễn
thể hiện trong văn bản; tìm hiểu đặc trƣng của chữ Nôm trong các văn bản
hành chính thông qua việc đối chiếu cấu tạo của chữ Nôm đồng đại và lịch đại. 7
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
HVLLTYDC là một tác phẩm bằng chữ Nôm với dung lƣợng chữ Nôm
tuy không lớn (1806 câu thơ Nôm song thất lục bát) nhƣng đã tóm lƣợc đầy
đủ 398 điều luật của HVLL. Đây quả là nguồn tƣ liệu xác thực để tìm hiểu
luật pháp phong kiến Việt Nam, góp phần tìm hiểu hệ thống các văn bản cổ
luật Việt Nam.
Lâu nay, trong dân gian cũng nhƣ trong giới nghiên cứu chữ Nôm thƣờng
hay nhắc đến câu “Nôm na mách qué” khi nói về bản thân chữ Nôm cũng nhƣ
vai trò hành chức của nó. Sự xuất hiện của chữ Nôm trong các văn bản hành
chính nói chung và HVLLTYDC nói riêng đã chứng minh cho sự “lên ngôi”
của chữ Nôm. Kết quả khảo cứu chữ Nôm trong văn bản sẽ góp phần tìm hiểu
diện mạo chữ Nôm thời Nguyễn, đặc trƣng của chữ Nôm quan phƣơng, góp
của HVLL. Để giúp cho độc giả đƣơng đại hiểu đƣợc sâu hơn các văn bản
pháp luật thời Nguyễn, nhóm dịch giả Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Văn
Tài đã dịch toàn bộ HVLL ra tiếng Việt. Đặc biệt, để có thể giới thiệu một
bức tranh tổng thể về các văn bản cổ luật, vị trí của HVLL trong hệ thống các
văn bản pháp luật Việt Nam. Điển chế pháp luật Việt Nam (từ thế kỷ XV -
XX) do nhóm dịch giả Nguyễn Ngọc Nhuận - Viện Nghiên cứu Hán Nôm
thực hiện đã giới thiệu toàn bộ các văn bản pháp luật Việt Nam từ thế kỷ
XV – XX [60]. Toàn bộ văn bản HVLL đã đƣợc giới thiệu và dịch chú lại
trong Cổ luật Việt Nam Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ [61].
Có thể nói, cho đến nay, HVLLTYDC chƣa giành đƣợc sự quan tâm thích
đáng của các nhà nghiên cứu. Trên cơ sở phiên âm, chú thích đầy đủ văn bản
này, tiến hành đối chiếu hai văn bản HVLL và HVLLTYDC để thấy rõ tính
toát yếu của HVLLTYDC; phân tích tìm hiểu các dạng chữ Nôm trong văn
bản, từ đó thấy rõ vị trí của HVLLTYDC trong hệ thống các văn bản cổ luật
9
Việt Nam, thấy rõ diện mạo của chữ Nôm đời Nguyễn, cũng nhƣ đặc trƣng
của chữ Nôm có tính quan phƣơng thể hiện trong các văn bản luật pháp. Đó
cũng là góp phần tích cực tìm hiểu kĩ hơn về các văn bản cổ luật Việt Nam
nói chung và HVLLTYDC nói riêng.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và những đóng góp mới của luận văn.
HVLLTYDC chỉ có một văn bản Nôm duy nhất mang ký hiệu AB.321
hiện lƣu giữ tại Thƣ viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN). Vì là độc
bản nên trong luận văn không thể đƣa ra vấn đề dị bản, nguyên bản, hay vấn
đề chọn một văn bản quy phạm nhất. Do vậy, đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu
của luận văn này là văn bản HVLLTYDC (ký hiệu AB.321). Các vấn đề đƣợc
tiến hành nghiên cứu, gồm: phiên âm, chú giải toàn bộ nội dung các điều luật,
tìm hiểu tính “toát yếu” khi diễn Nôm từ một văn bản Hán. Ngoài ra, thông
qua việc phân tích cấu trúc chữ Nôm có thể hình dung đƣợc toàn bộ diện mạo
chữ Nôm trong HVLLTYDC.
Nôm mang tính chất quan phƣơng.
7. Bố cục và nội dung của luận văn
Phần mở đầu:
Trình bày về tính cấp thiết của đề tài; mục đích nghiên cứu; ý nghĩa
khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài; đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu;
các phƣơng pháp nghiên cứu; lịch sử vấn đề và bố cục của luận văn.
Chƣơng 1. NGUỒN TƢ LIỆU HÁN NÔM VỀ CỔ LUẬT VIỆT NAM
Chƣơng này trình bày các vấn đề:
1. Các văn bản pháp luật ghi bằng chữ Hán
11
2. Các văn bản pháp luật ghi bằng chữ Nôm
3. Đôi nét về văn bản, tác giả HVLLTYDC
Chƣơng 2. KHẢO CỨU VỀ NỘI DUNG HVLLTYDC
Chƣơng này sẽ trình bày 3 vấn đề lớn sau
1. Giới thiệu khái quát nội dung của HVLL
2. Giới thiệu khái quát về HVLLTYDC
3. Từ HVLL đến HVLLTYDC
Đây là phần trọng tâm của chƣơng. Phần này sẽ tiến hành đối chiếu hai
văn bản HVLL và HVLLTYDC để thấy rõ tính chất toát yếu về nội dung của
HVLLTYDC khi tiến hành diễn Nôm một văn bản luật pháp. Dựa trên mức
độ của sự giản lƣợc câu chữ nội dung của bản HVLL có thể tạm chia thành:
3.1. Cắt bỏ chƣơng, phần mục, nội dung trong HVLL
3.2. Tóm lƣợc nội dung khi diễn ca các điều luật
Chƣơng 3. CHỮ NÔM TRONG HVLLTYDC
Phần này trình bày về các vấn đề sau:
1. Khái quát về chữ Nôm và văn học Nôm
2. Chữ Nôm trong HVLLTYDC
3. Nhận xét chung về chữ Nôm trong HVLLTYDC
KẾT LUẬN
những bộ luật dƣới các triều đại phong kiến Việt Nam. Bộ luật không chỉ là
13
thành tựu chung của nền pháp luật thời Lê mà còn đóng vai trò quan trọng
trong lịch sử pháp quyền phong kiến Việt Nam. Bộ luật bao gồm phạm vi luật
pháp trên những điều luật về hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, tố tụng.
Có thể đánh giá bộ QTHL đƣợc biên soạn và ban hành dƣới thời Lê là
một thành tựu xuất sắc trong lịch sử nhà nƣớc và pháp quyền Việt Nam. Bộ
luật mang nhiều điểm tiến bộ do đƣợc kế thừa luật pháp Trung Hoa, luật thời
Lý, thời Trần, ngoài ra bộ luật còn kết hợp đƣợc những nét đẹp trong tập tục,
truyền thống văn hoá dân tộc. Bộ luật cùng với hệ thống các văn bản pháp
luật thời Lê đã góp phần tạo nên sự phát triển của quốc gia Đại Việt thế kỷ
XV.
- Thiên Nam dư hạ tập: Hiện nay Thƣ viện VNCHN còn lƣu tàng đƣợc
một số sách gọi là Thiên Nam dư hạ tập (ký hiệu A.334), gồm nhiều quyển,
đóng thành 10 tập. Bộ sách ghi chép về điển chƣơng chế độ thời kỳ đầu của
nhà Lê về các điển lệ, chế độ chính trị, kinh tế đƣợc biên soạn vào niên
hiệu Hồng Đức đời vua Lê Thánh Tông. Trải qua những biến thiên của lịch sử,
đến nay bộ sách chỉ còn lại chút “tàn biên soạn giản”. Phan Huy Chú trong
Lịch triều hiến chương loại chí chép rõ là: “Thiên Nam dư hạ tập, 100 quyển.
Năm Hồng Đức thứ 14 (1438), Lê Thánh Tông sai các quan phụ trách về văn
từ là Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận soạn tập. Trong sách ấy ghi chép đủ các
chế độ luật lệ, văn hàn (cũng nhƣ văn thƣ) điển lệ, cáo sắc; đại khái phỏng
theo lối Hội yếu của các đời Đƣờng, Tống”.
- Hồng Đức thiện chính thư: là một trong những văn bản cổ luật còn lại
nói về lịch sử, văn hoá và pháp luật thời Lê. Sách tuy mang niên hiệu Hồng
Đức nhƣng lại chép cả các điều luật đƣợc ban hành trƣớc và sau niên đại này.
Hiện nay Thƣ viện VNCHN lƣu giữ 3 văn bản mang tên Hồng Đức thiện
chính thư, đều là các văn bản chép tay với các ký hiệu: A.330, VHv.1278 và
VHt.29. Bộ luật tuy không có giá trị lớn để tìm hiểu đầy đủ về các hoạt động
15
Sách chép một số điều lệ về từ tụng của niên hiệu Quang Thuận thứ 9
(1468) đời vua Lê Thánh Tông, ngoài ra còn chép các quy định về sắp xếp bài
trí trong công đƣờng, về hành vi ứng xử của quan và lại khi đến nhậm chức và
làm việc tại công đƣờng, các cách thức viết văn án đơn từ cả bằng chữ Hán và
chữ Nôm. Tuy không phải là một văn kiện pháp luật chính thức, song các vấn
đề đƣợc tập hợp trong văn bản này rất có giá trị tham khảo về công đƣờng và
một số vấn đề liên quan đến luật pháp trƣớc thế kỷ XIX.
- Nhân mạng tra nghiệm pháp, sách mang ký hiệu A.2034 của Thƣ
viện VNCHN. Sách do Lâm Quận công Phạm Trạc ở Bộ Hình biên tập,
không phải là sách biên soạn. Về tiểu sử tác giả, hiện chƣa có đƣợc thông tin
gì. Sách gồm 49 mục. Nội dung sách ghi lại: phƣơng pháp lấy chứng cứ,
khám nghiệm hiện trƣờng, có thêm các dẫn chứng thực tế về phƣơng pháp
khám nghiệm pháp y. Chẳng hạn ở phƣơng diện kiểm tra thƣơng tích, không
những đã đoán định đƣợc khá chính xác mức độ tổn thƣơng mà còn xác định
đƣợc hung khí gây thƣơng tích, từ đó định ra những chế tài xử phạt khác nhau,
đề ra các phƣơng pháp phân tích về thai nhi, những tổn thƣơng trong cơ thể
phụ nữ một cách khá khoa học. .
- Quốc triều Hồng Đức niên gian chư cung thể thức: Là bản viết tay,
hiện đƣợc lƣu giữ tại Thƣ viện VNCHN, ký hiệu A.957. Kết cấu cuốn sách
gồm 2 phần, phần đầu là Quốc triều Hồng Đức niên gian chư cung thể thức
gồm 66 tờ, phần sau chép sách Sĩ hoạn châm quy gồm 25 tờ. Nội dung sách
cung cấp cung cấp cho ngƣời đọc những hiểu biết về: thể thức làm đơn từ,
biên bản các vụ án dân sự, hình sự; thể thức lấy cung, biên bản khám nghiệm
các vụ án; các điều về luật hình sự; thể thức lấy cung, biên bản khám nghiệm
các vụ án; các điều về luật hình dƣới thời Hồng Đức, cách xử phạt việc đánh
ngƣời gây thƣơng tích hoặc tử thƣơng.
- Lê triều quan chế: Hiện lƣu trữ tại Thƣ viện VNCHN, sách mang ký
hiệu A.51. Lê triều quan chế quy định lại các chức tƣớc, phẩm trật cho từng
17
- Đông Dương đại pháp lược biên: Sách có ký hiệu VHv.1945, hiện
đang lƣu giữ tại Thƣ viện VNCHN, gồm 104 trang. Nội dung sách ghi lại các
chính sách bảo hộ của Pháp ở Đông Dƣơng, về luật pháp của Nhà nƣớc Việt
Nam dƣới thời phong kiến.
- Lại trị tân biên: Sách có ký hiệu VHv.1388, hiện đang lƣu giữ tại
Thƣ viện VNCHN, nội dung ghi chép các quy tắc và lề lối làm việc quy định
cho giới quan lại trong khi giải quyết các vấn đề về tiền lƣơng, hình luật, học
chính, quân chính, thuỷ lợi, khai hoang ; các báo cáo về trị an, trừng trị bọn
quan lại tham nhũng ; cách thức xét xử các vụ kiện về trộm cắp, hôn nhân,
tội giết ngƣời, phá mồ mả ; một số mẫu văn kiện hành chính nhƣ tấu, sớ, dụ,
từ, trát, cáo thị
- Luật hình An Nam thi hành ở Bắc kỳ: Sách có ký hiệu VNv. 275,
hiện đang lƣu giữ tại Thƣ viện VNCHN, gồm 240 trang, nội dung gồm 321
điều lệ (28 chƣơng) về bộ Hình luật dƣới thời Pháp thuộc, thi hành ở miền
Bắc Việt Nam, có quy định cụ thể đối với các trƣờng hợp mắc tội nặng, tội
nhẹ, tội tái phạm, tòng phạm, giả mạo, du đãng, tụ tập trái phép, công chức
phạm tội
- Hoàng Việt hình luật: Sách có ký hiệu VHv.198, sách hiện đang
lƣu giữ tại Thƣ viện VNCHN, sách gồm 496 trang, nội dung nói về phần Hình
luật, bao gồm 424 điều, 29 chƣơng, đƣợc thi hành ở Trung kỳ vào niên hiệu
Bảo Đại thứ 8 (1933). Có nghị định của toàn quyền Đông Dƣơng và chỉ dụ
của Bảo Đại về việc thi hành bộ luật này.
- Hoàng Việt tăng san tân luật: Sách có các ký hiệu VNv.123 (gồm
516 trang), ký hiệu VNv.98 (bao gồm 393 trang), ký hiệu VNv.17 (gồm 275
trang). Sách hiện lƣu giữ tại Thƣ viện VNCHN. Nội dung bao gồm toàn bộ
Hình luật về dân sự, thƣơng nghiệp, tố tụng thi hành tại các toà án Bắc kỳ
dƣới triều vua Khải Định (1916-1925); Những hƣớng dẫn liên quan đến đơn
kiện và giới hạn chức năng của các cơ quan luật pháp.