BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC TRUNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG CỘNG ĐỒNG HUYỆN AN DƯƠNG,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC TRUNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG CỘNG ĐỒNG HUYỆN AN DƯƠNG,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành:
Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số:
Thí điểm
GDTC
:
Giáo dục thể chất
HS
:
Học sinh
NXB
:
Nhà xuất bản
THCS
:
Trung học cơ sở
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người. Người có sức khoẻ thì có
nước”. Tư tưởng của Bác đã, đang và vẫn luôn được cụ thể hoá trong các chỉ
thị và nghị quyết của Đảng, chính phủ về nâng cao chất lượng giáo dục thể
chất (GDTC) cho người dân Việt Nam mà đặc biệt là thế hệ trẻ - những chủ
nhân tương lai của đất nước.
Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại
điều 41 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục
thể thao, quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích và
giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức thể dục thể thao tự nguyện của nhân
dân, tạo điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục
thể thao quần chúng, chú trọng hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng
các tài năng thể thao”. Chỉ thị 17-CT/TW ngày 23/10/2002 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng (khoá IX) nêu rõ: “Đẩy mạnh hoạt động thể dục thể thao ở
trường học. Tiến tới bảo đảm mỗi trường học đều có giáo viên thể dục chuyên
trách và lớp học thể dục đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng
giáo dục thể chất; xem đây là một tiêu chí xét công nhận trường chuẩn quốc
gia”. Luật Thể dục, Thể thao số 77/2006/QH11 được Quốc Hội Nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI thông qua ngày 29/11/2006 quy định:
“GDTC là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp
kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và
trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”.
Học sinh Trung học cơ sở (THCS) là những học sinh có độ tuổi từ 1112 đến 14-15 tuổi. Ở giai đoạn này, chiều cao của các em tăng lên một cách
đột ngột, hàng năm có thể tăng từ 5 – 6 cm; trọng lượng cơ thể hàng năm có
thể tăng từ 2,4 – 6 kg; tăng vòng ngực…Đây là những yếu tố đặc biệt trong sự
phát triển thể chất của các em ở lứa tuổi này. Nói cách khác, đây là giai đoạn
vàng trong quá trình phát triển thể chất của mỗi cá nhân.
4
Giáo dục thể chất cho học sinh THCS là quá trình tác động hướng vào
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác GDTC cho học sinh THCS trong cộng đồng.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức hoạt động GDTC cho học sinh THCS trong cộng
đồng. huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
4. Giả thuyết khoa học
Công táctổ chức hoạt động GDTC cho học sinh THCS trong cộng đồng
huyện An Dương, thành phố Hải Phòng chưa thực sự đạt hiệu quả. Nếu nghiên
cứu, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng, trên cơ sở đó đề ra những
biện pháp mang tính khoa học và hợp lý thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và
chất lượng công tác tổ chức hoạt động GDTC cho học sinh THCS trong cộng
đồng. huyện An Dương, thành phố Hải Phòng..
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về tổ chức hoạt động GDTC cho học sinh
THCS trong cộng đồng.
5.2. Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động GDTC cho học sinh THCS
trong cộng đồng. huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
5.3. Đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động GDTC cho học sinh THCS trong
cộng đồng. huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Về nội dung nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu lí luận, thực trạng và biện pháp tổ chức hoạt
động GDTC cho học sinh THCS trong cộng đồng. huyện An Dương, thành phố
Hải Phòng.
6.2. Về địa bàn nghiên cứu
Huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
6.3. Về khách thể khảo sát
- Tổng số khách thể khảo sát: 240 người
- Cán bộ quản lý: 20 người
7.2.5. Phương pháp xin ý kiến chuyên gia về các biện pháp tổ chức hoạt
động GDTC cho học sinh THCS trong cộng đồng. huyện An Dương, thành phố
7
Hải Phòng.
7.2.6. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
7.2.7. Phương pháp khảo nghiệm.
7.3. Nhóm các phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng thống kê toán học để xử lý các số liệu nghiên cứu.
8. Dự kiến cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận vềtổ chức hoạt động GDTC cho học sinh THCS
trong cộng đồng.
Chương 2. Thực trạng tổ chức hoạt động GDTC cho học sinh THCS trong
cộng đồng. huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Chương 3. Biện pháp tổ chức hoạt động GDTC cho học sinh THCS trong
cộng đồng. huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
8
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG CÔNG ĐỒNG
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học đã thu hút sự
quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục chuyên môn ở
nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng các môn thể
5, đồng thời xây dựng được nội dung tập luyện TD,TT nội khóa, ngoại khóa
nhằm phát triển tầm vóc, thể lực cho học sinh.
Các tác giả Tạ Hồng Hải (2000) [14], Lương Thị Ánh Ngọc (2011) [27]
nghiên cứu phát triển thể chất, các năng lực thành phần cơ thể cho học sinh
phổ thông lứa tuổi 11 - 14, đã xây dựng được chương trình tập luyện thực
nghiệm ngoại khóa phù hợp với học sinh trung học cơ sở lứa tuổi 11 - 14 và
đánh giá là có tác dụng tích cực đến sự biến đổi về hình thái, chức năng, và
thể lực của nam, nữ học sinhTHCS.
Qua tổng quan nghiên cứu đề tài có thể rút ra một số nhận xét sau:
GDTC cho học sinh THCS nói riêng và học sinh nói chung luôn nhận
được sự quan tâm của các cấp, các ngành, các nhà trường và cộng đồng dân
cư. Đó cũng là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu.
Cho đến nay, số lượng các công trình nghiên cứu về GDTC cho học
sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng khá phong phú, song chủ yếu đề
cập đến phương diện GDTC cho học sinh trong nhà trường, số lượng các
công trình nghiên cứu về tổ chức hoạt động GDTC cho học sinh THCS trong
cộng đồng còn ít được quan tâm nghiên cứu.
Theo hiểu biết của nhà nghiên cứu, cho đến nay, chưa có công trình nào
nghiên về “Tổ chức hoạt động GDTC cho học sinh THCS trong cộng đồng
huyện An Dương, thành phố Hải Phòng”.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Tổ chức, hoạt động và tổ chức hoạt động
* Quan niệm về hoạt động [31;37]
10
Có nhiều quan niệm khác nhau về hoạt động.
- Về phương diện triết học, hoạt động là phương thức tồn tại của con
người trong thế giới.
- Về phương diện sinh học, hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần
tạo ra sản phẩm tinh thần.
Ngoài ra hoạt động còn có thể được phân thành bốn loại, bao gồm: hoạt
động biến đổi: hoạt động nhận thức; hoạt động định hướng giá trị; hoạt động
giao lưu.
* Vai trò của hoạt động đối với sự phát triển tâm lí người [31;40]
Hoạt động là nhân tố trực tiếp giải quyết sự hình thành và phát triển nhân
cách thông qua hai quá trình đối tượng hóa và chủ thể hóa. Thông qua hoạt
động con người lĩnh hội được kinh nghiệm lịch sử - xã hội để hình thành nhân
cách. Mặt khác, cũng thông qua hoạt động con người xuất tâm “lực lượng bản
chất” vào xã hội “tạo nên sự đại diện nhân cách của mình” ở người khác,
trong xã hội.
Tuy nhiên, không phải bất cứ hoạt động nào cũng có vai trò tích cực
trong việc hình thành nhân cách cá nhân, mà hoạt động phải được tổ chức
khoa học, phải dựa trên những kinh nghiệm, những tiền đề nhất định và phải
được thúc đẩy bởi những hoạt động cao đẹp. Trong công tác giáo dục, cần chú
ý thay đổi theo hướng làm phong phú nội dung, hình thức, cách thức tổ chức
hoạt động sao cho thực sự lôi cuốn cá nhân tham gia tích cực, tự giác vào hoạt
động đó. Hoạt động của con người luôn mang tính xã hội, tính cộng đồng,
nghĩa là hoạt động luôn đi với giao tiếp; do đó, đương nhiên giao tiếp cũng là
một nhân tố cơ bản trong sự hình thành và phát triển nhân cách.
1.2.2. Cộng đồng
* Khái niệm
Cộng đồng (community) được hiểu theo nghĩa chung nhất là: “một cơ
thể sống/ cơ quan/ tổ chức nơi sinh sống và tương tác giữa cái này với các
khác”. Trong khái niệm này, điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: cộng đồng là
“cơ thể sống”, có sự “tương tác” của các thành viên. Dấu hiệu/ đặc điểm để
phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác có thể là bất cứ cái gì thuộc về
12
- Sự dâng hiến về mặt tinh thần đối với những giá trị mà tập thể cho
là cao cả.
- Sự đoàn kết, hợp tác giữa cá nhân với người khác và với tập thể.
Theo quan điểm Mác – Xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các
cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hóa lợi ích giống nhau của các
thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành
cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác
của họ, sự gần gũi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực
cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt
động.
Quan niệm về cộng đồng theo quan điểm Mác – Xít là quan niệm rất
rộng, có tính khái quát cao, mang đặc thù của kinh tế - chính trị. Dấu hiệu đặc
trưng chung của nhóm người trong cộng đồng này chính là “điều kiện tồn tại
và hoạt động”, là “lợi ích chung”, là “tư tưởng”, “tín ngưỡng”. “giá
trị”chung…Thực chất đó là cộng đồng mang tính giai cấp, ý thức hệ.
Theo từ điển xã hội học của Harper Collins, cộng đồng được hiểu là
mọi phức hợp các quan hệ xã hội được tiến hành trong lĩnh vực kinh cụ thể,
được xác định về mặt địa lý, hàng xóm hay những mối quan hệ mà không hoàn
toàn về mặt cư trú, mà tồn tại ở một cấp độ trừu tượng hơn.
Theo UNESCO: Cộng đồng là một tập hợp người có cùng chung một lợi
ích, cùng làm việc vì một mục đích chung nào đó và cùng sinh sống trong
một khu vực xác định. Những người chỉ sống gần nhau, không có sự tổ chức
lại thì đơn thuần chỉ là sự tập trung của một nhóm các cá nhân và không thực
hiện các chức năng như một thể thống nhất.
Tóm lại, trong đời sống xã hội, cộng đồng là một danh từ chung chỉ tập
hợp người nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan trọng: 1/ họ cùng tương tác
với nhau; 2/ họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài
đặc điểm vật chất hay tinh thần nào đó.
núi) và tổ dân cư/ khu dân cư (địa bàn thành thị) cùng với hệ thống các đoàn
thể, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức nghề nghiệp… mà
15
những người dân đó là thành viên dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lí
của Nhà nước.
Như vậy, cộng đồng là một đơn vị hành chính, kinh tế - xã hội có tính
độc lập tương đối so với các cộng đồng khác trong một quốc gia. Trong mỗi
cộng đồng có các thành viên cộng đồng là các cá nhân hoặc gia đình đang
sinh sống trên địa bàn, có những tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức xã hội
mà các thành viên cộng đồng tham gia sinh hoạt trên địa bàn dân cư, các tổ
chức kinh tế, dịch vụ mà thành viên cộng đồng tham gia làm việc (cũng có thể
thành viên không làm việc ở đó).
Ở Việt Nam ngày nay, các tổ chức chính trị - xã hội đó có thể là các tổ
chức trong khối Mặt trận tổ quốc xã phường: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh phường/ xã; Hội/ Chi hội Phụ nữ; Hội/ chi hội người cao tuổi; Hội/
chi hội Cựu chiến binh; Hội nông dân (đối với địa bàn nông thôn); tổ chức tôn
giáo (nếu có)… Tổ chức chính quyền: Ủy ban nhân dân; Hội đồng nhân dân;
một số tổ chức kinh tế địa phương: Hợp tác xã nông nghiệp; Hợp tác xã thủ
công, Doanh nghiệp… Các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn có Trạm Y tế xã/
phường; bệnh viện, trường học; tổ chức Đảng, chi bộ Đảng.
1.2.2. Giáo dục và giáo dục thể chất
1.2.1. Giáo dục
Giáo dục theo từ tiếng Hán thì giáo nghĩa là dạy, là rèn luyện về đường
tinh thần nhằm phát triển tri thức và huấn luyện tình cảm đạo đức, dục là
nuôi, là săn sóc về mặt thể chất. Vậy giáo dục là một sự rèn luyện con người
về cả ba phương diện trị tuệ, tình cảm và thể chất. Theo phương Tây thì
education vốn xuất phát từ chữ educare của tiếng La tinh. Động từ educare là
dắt dẫn, hướng dẫn để làm phát khởi ra những khả năng tiền tàng. Sự dắt dẫn
học (dưới 25 tuổi) và giáo dục không chỉ diễn ra trong nhà trường. Ngày nay,
chúng ta hiểu giáo dục là cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ không
gian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng bằng các phương tiện
khác nhau, kể cả các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, truyền
thanh, video, trực tuyến qua inernet,…) với các hình thức đa dạng, phong phú.
Ngoài ra quá trình giáo dục không ràng buộc về độ tuổi giữa người giáo dục với
17
người được giáo dục.
1.2.2. Giáo dục thể chất
2.2.2.1 Khái niệm
Thể dục được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Thể dục theo nghĩa
rộng bao gồm giáo dục rèn luyện thân thể và giáo dục vệ sinh giữ gìn sức
khỏe. Rèn luyện thân thể nghiêng về bồi dưỡng cơ thể, còn giáo dục vệ sinh
giữ gìn sức khỏe lại nghiêng về bảo vệ sức khỏe. Thể dục theo nghĩa hẹp, chủ
yếu chỉ rèn luyện thân thể hoặc giáo dục vận động thể dục thể thao.
Giáo dục thể chất là sự tác động có mục đích, có nội dung, có phương
pháp, có tổ chức của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục nhằm nâng cao
sức khỏe, hình thành và phát triển các yếu tố thể chất cho họ.
Việc giáo dục thể chất có thể tiến hành theo nội dung chương trình môn
Thể dục ở nhà trường, cũng có thể tiến hành rèn luyện liên tục trong cuộc
sống cá nhân. Vì vậy giáo dục thể chất không chỉ chú ý đến việc rèn luyện
hay giáo dục giữ gìn sức khỏe mà phải chú ý đến giáo dục ý thức, thái độ rèn
luyện để tạo nên một thói quen, một nếp sống văn minh của con người hiện
tại. Việc rèn luyện thể chất, giữ gìn sức khỏe của mỗi người vừa là trách
nhiệm vừa là nghĩa vụ, nó không chỉ vì lợi ích của cá nhân mà còn vì lợi ích
cộng đồng và xã hội.
2.2.2.2. Ý nghĩa của giáo dục thể chất
Sức khỏe là vốn quý giá nhất của mỗi con người. Người có sức khỏe có
dục phát triển toàn diện. Thân thể khỏe mạnh là điều kiện cơ sở vật chất để
thực hiện các nhiệm vụ giáo dục khác. Giáo dục thể chất liên hệ mật thiết với
đức dục, trí dục, mĩ dục và lao động kĩ thuật. Thông qua vận động thể dục có
thể bồi dưỡng cho học sinh các phẩm chất tốt đẹp như: dũng cảm, chăm chỉ
lao động, tôn trọng kỉ luật, đoàn kết, nhân ái… Thể dục là đảm bảo quan
trọng để học sinh học tập tri thức văn hóa, khoa học. Rèn luyện thân thể có
thể duy trì đầu óc tỉnh táo, nâng cao năng lực làm việc của não, khi học tập có
thể tập trung sức chú ý cao và kéo dài, quan sát nhanh nhạy, tư duy sắc bén,
nâng cao chất lượng học tập. Luyện tập thể dục có thể nâng cao vẻ đẹp cho cơ
thể do chúng được phát triển hài hòa, cân đối. Thể dục còn làm cho tình cảm
19
thẩm mĩ của con người trong sáng hơn. Thể dục thể thao cung cấp điều kiện
tố chất sức khỏe cho giáo dục lao động kĩ thuật và tạo cơ sở hình thành thao
tác, kĩ năng cho nhiều hd khác.
- Giáo dục thể chất không những có thể bồi dưỡng phẩm chất đạo đức
cho học sinh như tính trung thực, cao thượng… mà còn làm cho tinh thần con
người minh mẫn, có cuộc sống lạc quan, vui vẻ, tạo nên hành vi và thói quen
văn minh như tôn trọng kỉ luật, trách nhiệm với tập thể, yêu thích tuân theo
trật tự công cộng, giữ gìn môi trường sạch đẹp, giữ gìn vệ sinh…
2.2.2.3 Nhiệm vụ và nội dung của giáo dục thể chất
* Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục thể chất trong nhà trường
Giáo dục thể chất trong nhà trường có một số nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tăng cường thể chất, tăng cường sức khỏe cho học sinh. Tổ chức cho
học sinh rèn luyện thân thể, thúc đẩy cơ thể học sinh phát triển bình thường,
tăng cường thể chất và sức khỏe cho học sinh, phát triển toàn diện năng lực
hoạt động cơ bản của cơ thể cũng như nâng cao thể chất: tố chất tốc độ, độ
nhạy cảm, sức mạnh, độ dẻo dai,… (các phẩm chất của vận động như nhanh,
mạnh, bền, khéo) hay các năng lực vận động cơ bản như chạy, nhảy, leo trèo,
Thể thao có rất nhiều loại: thể thao cơ bản và thể thao thi đấu. Đặc
điểm của nó là: nội dung phong phú, khả năng tiếp thu thực hiện tốt bài giảng
về vệ sinh sinh lí, vệ sinh học đường, nâng cao tính tự giác giữ vệ sinh cho
học sinh.
- Nhà trường cần xây dựng chế độ học tập, sinh hoạt hợp lí, kiểm soát,
khống chế chặt chẽ khối lượng hoạt động của học sinh trong nhà trường, bảo
đảm thời gian sinh hoạt, nghỉ ngơi và ngủ hợp lí, tạo nên thói quen sinh hoạt
tốt, có kỉ luật. Thiết bị sinh hoạt trong nhà trường như bàn ghế, cửa sổ, cửa ra
vào, hướng ánh sáng, độ phản quang của bảng, đèn chiếu sáng… đều đòi hỏi
phải phù hợp với mức độ học tập và tình trạng phát triển cơ thể của học sinh.
Cần làm cho học sinh hiểu rõ tri thức vệ sinh học tập, tạo nên thói quen
học tập tốt, tạo tư thế ngồi, đi, đứng, viết… đúng tư thế, đảm bảo cho cơ thể
học sinh phát triển bình thường, cân đối, đẹp. Bảo vệ thị lực cho học sinh
đang là vấn đề nổi cộm hiện nay, phải kiên trì bảo vệ sức khỏe đôi mắt, giúp
21
học sinh hiểu về vệ sinh mắt. Khi sắp xếp chỗ ngồi phải chú ý điều tiết thị lực
học sinh. Cũng cần làm cho học sinh hiểu về vệ sinh vận động, luyện tập theo
khoa học.
Thiết bị thể dục và sân bãi cần phù hợp với yêu cầu luyện tập và bảo
đảm an toàn, vệ sinh sạch sẽ. Cần tiến hành kiểm tra sức khỏe định kì cho học
sinh, làm tốt công tác phòng và trị bệnh để đảm bảo cho học sinh phát triển
mạnh khỏe.
Tóm lại, thể dục trong nhà trường bao gồm vận động thể dục và vệ sinh
giữ gìn sức khỏe với tôn chỉ là tăng cường thể chất, giữ gìn sức khỏe cho học
sinh. Thông qua giáo dục thể chất, tăng cường sức khỏe cho học sinh để giáo
dục các phẩm chất đạo đức, phát triển trí tuệ, tăng cường khả năng thẩm mĩ,
giáo dục lao động…
* Các con đường giáo dục thể chất
Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm những em bao gồm những em từ 11,12
tuổi đến 14,15 tuổi, đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 trường THCS. Trên thực
tế đa số các em học sinh THCS đã bước vào lứa tuổi thiếu niện nên người ta
gọi lứa tuổi này là lứa tuổi thiếu niên.
Thời kì này có một vị trí hết sức quan trọng và đặc biệt, vì đặc biệt là thời
kì chuyển từ cuối nhi đồng sang lứa tuổi thiếu niên. Sự chuyển tiếp này tạo
nên nội dung cơ bản và sự khác biệt đặc thù về mọi mặt ở thời kỳ này, được
biểu hiện như sau:
* Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lí ở lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở
Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đều về mặt cơ thể. Tầm
vóc của các em lớn lên trông thấy. Sự phát triển của hệ xương mà chủ yếu là
sự phát triển của các xương tay, xương chân rất nhanh nhưng ương ngón tay,
ngón chân phát triển chậm. Vì thế ở lứa tuổi này các em không mập béo, mà
cao, gầy và thiếu cân đối, các em có vẻ lóng ngóng, vụng về của mình mà cố
gắng che giấu nó bằng điệu bộ không tự nhiên, cầu kì, tỏ ra mạnh bạo, can
đảm để người khác không chú ý tới vẻ bề ngoài của mình.
Sự phát triển của hệ tim mạch cũng không cân đối; tuyến nội tiết bắt đầu
hoạt động hoạt động mạnh, thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh.
23