VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN TRUNG
TỘI CƢỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
MIỀN ĐÔNG NAM BỘ: TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN
VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số
: 62.38.01.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS TRẦN HỮU TRÁNG
HÀ NỘI - NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả đề cập trong Luận án là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng
và chính xác.
Tác giả luận án
Phạm Văn Trung
KẾT LUẬN .............................................................................................................................. 150
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 153
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ANTT
An ninh trật tự
BCA
Bộ Công an
BLHS
Bộ luật hình sự
CAND
Công an nhân dân
CQĐT
Cơ quan điều tra
CSHS
Cảnh sát hình sự
Tòa án nhân dân
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
XDPT & PTX
Xây dựng phong trào và phụ trách xã
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Số liệu xét xử sơ thẩm số vụ án và bị cáo cướp giật tài sản từ năm 2007
đến năm 2016 trên địa bàn miền Đông Nam Bộ ................................... 2
Bảng 2.2. Tỷ lệ tình hình tội cướp giật tài sản trong tình hình tội phạm chung trên
địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 ...................... 3
Bảng 2.3. So sánh tỷ lệ tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ
với tỷ lệ này trên phạm vi toàn quốc từ năm 2007 đến năm 2016 ............ 4
Bảng 2.4. Số vụ, số bị cáo trên số diện tích, dân số từ năm 2007 đến năm 2016 của
Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ ............................................ 5
Bảng 2.5. Cơ cấu về mức độ của tình hình tội cướp giật tài sản từ năm 2007 đến năm
2016 của Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ xác định trên cơ sở
yếu tố dân cư và diện tích ....................................................................... 5
Bảng 2.6. Hệ số tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ . 6
Bảng 2.7. Số liệu xét xử tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ .... 6
Bảng 2.8.
Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản từ năm 2007 đến năm 2016 được
tính toán trên cơ sở số dân của các tỉnh, thành trên địa bàn miền Đông
Biểu đồ 2.1. So sánh số vụ cướp giật tài sản với số vụ cướp tài sản, cưỡng đoạt tài sản
trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 ........... 14
Biểu đồ 2.2. So sánh số vụ cướp giật tài sản với tội phạm nói chung trên địa bàn miền
Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 ........................................ 14
Biểu đồ 2.3. So sánh số bị cáo cướp giật tài sản với tội phạm nói chung trên địa bàn
miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 ............................... 15
Biểu đồ 2.4. Diễn biến của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam
Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 ........................................................... 15
Biểu đồ 2.5. So sánh tội cướp giật tài sản với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2016 ....... 16
Biểu đồ 2.6. Cơ cấu của tình hình tội cướp giật tài sản theo loại và mức hình phạt đã
được áp dụng ...................................................................................... 16
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Miền ĐNB là khu vực kinh tế trọng điểm năng động của cả nước, có đường biên
giới giáp Campuchia, đường hàng không, đường biển, đường sắt và là nơi giao cắt
nhiều tuyến giao thông đường bộ huyết mạch; tập trung nhiều khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu công nghệ cao; có nhiều trường đại học, bệnh viện, bến xe, bến tàu lớn
của khu vực và cả nước. Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, lượng dân di cư, sinh
viên tập trung về đây ngày càng đông, kéo theo nhiều dịch vụ nhà trọ, nhà cho thuê,
cầm đồ… khó quản lý.
Thực tiễn cho thấy, thời gian gần đây, ở các tỉnh, thành trên địa bàn miền ĐNB,
tình hình các tội phạm, như tình hình tội cưỡng đoạt tài sản, đâm thuê, chém mướn,
đòi nợ thuê, tội phạm núp bóng doanh nghiệp, tội giết người, cướp, cướp giật, trộm
cắp tài sản… đang có nhiều diễn biến phức tạp theo chiều hướng gia tăng. Theo số liệu
của TAND các cấp trên địa bàn miền ĐNB từ năm 2007 đến năm 2016 có 11.970 vụ
án CGTS được đưa ra xét xử, với 19.818 bị cáo, chiếm 14,07% số vụ án hình sự được
đưa ra xét xử và 12,15% tổng số bị cáo bị xét xử (xem bảng 2.2 – phần phụ lục). Trong
công tác của VKSND, của TAND và công tác thi hành án năm 2013; Chỉ thị 09-CT/TW
năm 2011 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh
tổ quốc trong tình hình mới do Ban Bí thư ban hành; Kế hoạch 271/KH-BCĐ138/CP thực
hiện chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2012-2015 do ban
chỉ đạo 138/CP ban hành; Thông tư liên tịch số 34/2009/TTLT-BGDĐT-BCA về hướng
dẫn phối hợp thực hiện công tác đảm bảo an ninh, trật tự tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ
thống cơ sở giáo dục quốc dân... và đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong quá
trình thực hiện vẫn chưa có được sự thống nhất giữa các địa phương nên việc triển khai thực
hiện các nội dung, mục tiêu, giải pháp ở một vài địa phương trong miền ĐNB đạt hiệu quả
chưa cao; các giải pháp phòng ngừa đã bộc lộ nhiều hạn chế; việc phân tích, đánh giá
nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội này chưa chính xác và đầy đủ; tội CGTS vẫn
đang có xu hướng gia tăng về tính chất và mức độ nguy hiểm. Vì vậy, việc nghiên cứu làm
rõ tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB, tìm ra những nguyên nhân và điều kiện, từ
đó làm cơ sở đề xuất những giải pháp phòng ngừa là một đòi hỏi hết sức cấp bách.
Từ những luận giải trên, tác giả chọn đề tài: “Tội cướp giật tài sản trên địa bàn
miền Đông Nam Bộ: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” làm đề tài
luận án tiến sĩ, chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, mã số: 62 38 01 05.
2
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng các giải pháp nhằm tăng cường
phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ cụ
thể sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài;
làm rõ những kết quả đã đạt được của các công trình nghiên cứu mà luận án có thể kế
cứu tài liệu, nghiên cứu hồ sơ vụ án, nghiên cứu điển hình... Tùy thuộc vào đối tượng
nghiên cứu trong từng chương, mục của đề tài, tác giả sẽ lựa chọn phương pháp nghiên
cứu phù hợp. Cụ thể là:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: Nghiên cứu phân tích, tổng hợp các văn bản,
tài liệu liên quan đến đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội CGTS nói riêng
đã được áp dụng trong thực tiễn; các kết quả nghiên cứu về tội phạm học, khoa học
luật hình sự, khoa học điều tra tội phạm về phòng ngừa tình hình tội CGTS đã được
công bố và áp dụng.
+ Phương pháp thống kê hình sự: Phương pháp này được sử dụng để thống kê
tình hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB, kết quả phòng ngừa tình hình tội CGTS
của các cơ quan chức năng trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian từ năm 2007 đến
năm 2016.
+ Phương pháp so sánh: Áp dụng phương pháp này để so sánh tình hình tội
CGTS trên địa bàn miền ĐNB với tình hình tội CGTS trên phạm vi cả nước, với địa
bàn Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và giữa các tỉnh, thành trên địa bàn miền ĐNB.
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống các báo
cáo sơ kết, tổng kết tháng, quý, năm, các báo cáo chuyên đề về công tác phòng, chống
tình hình tội CGTS của các cơ quan chức năng trên địa bàn miền ĐNB trong thời gian
qua, rút ra những vấn đề có tính quy luật về tội CGTS và công tác phòng ngừa tình
hình tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB.
+ Phương pháp nghiên cứu điển hình: Nghiên cứu các vụ án điển hình về tội
CGTS xảy ra trên địa bàn miền ĐNB để làm rõ tính chất, mức độ hành vi phạm tội,
động cơ phạm tội, phương thức thủ đoạn phạm tội, nhân thân người phạm tội…
4
+ Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu điều tra xã hội học để thu thập ý
kiến của một số đồng chí Điều tra viên, cán bộ trinh sát, CSKV, Công an XDPT & PTX
về những vấn đề có liên quan đến công tác phòng ngừa tình hình tội CGTS trên địa bàn
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, đề
tài được kết cấu gồm 4 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ
Chương 3: Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản và nhân
thân người phạm tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ
Chương 4: Các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
trên địa bàn miền Đông Nam Bộ
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Trong thời gian gần đây tình hình tội CGTS có nhiều diễn biến phức tạp, đã và
đang thu hút nhiều sự quan tâm của cộng đồng quốc tế và rất nhiều tổ chức, nhà
nghiên cứu tội phạm học ở hầu hết các quốc gia như: Liên bang Nga, Australia, Cộng
hòa dân chủ nhân dân Lào, Vương quốc Campuchia, Hoa Kỳ, Cộng hòa liên bang
Đức... Với nhiều cấp độ nghiên cứu và khía cạnh khác nhau về tội CGTS, các nhà
nghiên cứu đã đưa ra nhiều luận cứ khoa học, những giải pháp phòng ngừa, ngăn
chặn tình hình tội CGTS. Trong số đó có nhiều công trình mang tính khái quát cao ở
tầm quốc gia và có liên quan trực tiếp đến nội dung đề tài luận án. Qua nghiên cứu
một số công trình cho thấy, hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng
ngừa một số loại tội phạm cụ thể luôn là đối tượng nghiên cứu của khoa học pháp lý
và tội phạm học, trong đó có một số công trình nghiên cứu về tình hình tội CGTS
như sau:
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về nhân thân người phạm tội, nguyên
nhất định là những người chưa thành niên chứ chưa phân tích được nguyên nhân phạm
tội của người phạm tội nói chung. Đồng thời kết quả của nghiên cứu trên được rút ra
trong các nước tư bản chủ nghĩa ở những thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ trước. Vì vậy, với
tình hình kinh tế - xã hội và khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay thì các nguyên
nhân và điều kiện của THTP trong lứa tuổi thanh, thiếu niên được phân tích trong công
trình nghiên cứu trên đã không còn phù hợp.
- Crime and criminology in Japan (tạm dịch: Tội phạm và tội phạm học ở Nhật
Bản hiện đại) của Can Ueda, giáo sư, tiến sĩ luật học, Trường Đại học Tổng hợp
Ritsumeikan, dịch từ bản dịch tiếng Nga của Nhà xuất bản Tiến Bộ, Moskva, năm
1989 [112]. Với công trình khoa học này, nhà tội phạm học người Nhật cho rằng tội
phạm học không phải là khoa học duy nhất nghiên cứu tội phạm. Tội phạm là đối
tượng nghiên cứu của một số ngành khoa học khác như: Luật hình sự, Luật tố tụng
hình sự, Xã hội học, Tâm lý học, Thần kinh học... Tác giả đã đưa ra khái niệm “Tội
phạm học là khoa học nghiên cứu tội phạm và đề ra các biện pháp đấu tranh, phòng
chống”. Tác phẩm đã nghiên cứu chuyên sâu về nguyên nhân, điều kiện của tội phạm,
đưa ra các điều kiện cá nhân và xã hội của tội phạm như giới tính, lứa tuổi, cụ thể:
Trong số phụ nữ phạm tội bị Cảnh sát bắt giữ có 42,3% là nữ vị thành niên (năm
1980); trung bình cứ 100.000 người dân trên 15 tuổi thì có 65,6 người phạm tội, trong
8
số những người bị bắt giữ vì phạm tội năm 1981 có 0,7% người bị tổn hại về thần
kinh, sự bất bình thường nhiễm sắc thể giới tính và tội phạm không có mối quan hệ với
nhau. Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong quá trình đô thị hóa xã hội, quá trình
phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, sự di cư, tập trung dân cư do quá trình đô thị hóa
đã gây ra sự xáo trộn trong xã hội, gây ra sự mâu thuẫn giữa các giai tầng trong xã hội,
hạn chế sự đoàn kết dân cư trong khu vực về phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm.
- An introduction to Crime and Criminology (Tạm dịch: Giới thiệu về tội phạm
và tội phạm học), sách chuyên khảo của Hennessy Hayes và Tim Prenzler, xuất bản
của tội phạm trong cả nước. Thông qua các số liệu thống kê về tội phạm và tệ nạn xã
hội, tác giả đã làm rõ về thực trạng của THTP và các tệ nạn như mại dâm, rượu chè,
cướp giật... ngoài ra, tác giả còn đi sâu vào phân tích những nguyên nhân, điều kiện,
hoàn cảnh xã hội, các sự kiện diễn ra trong xã hội tác động đến sự gia tăng của THTP.
Tác giả cũng đi sâu phân tích về vai trò của những đặc điểm bên trong của người phạm
tội, như: Động cơ, nỗi sợ hãi, sự tự hào hay khát vọng… trong cơ chế hành vi phạm tội.
Như vậy, những công trình nghiên cứu của các tác giả người nước ngoài về nhân
thân người phạm tội và nguyên nhân và điều kiện của THTP đã chỉ ra được một số đặc
điểm nhân thân người phạm tội, các thông số của THTP và những nguyên nhân và
điều kiện của THTP nói chung, tội CGTS nói riêng. Kết quả nghiên cứu của các công
trình trên sẽ được nghiên cứu sinh tiếp thu và sử dụng để nghiên cứu về tình hình,
nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội CGTS cũng như các đặc điểm nhân thân
của người phạm tội CGTS trên địa bàn miền ĐNB.
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về giải pháp phòng ngừa tình hình tội
cướp giật tài sản
- Trong tác phẩm Crime prevention – Theory and Practice (Tạm dịch: Phòng
ngừa tội phạm – Lý luận và thực tiễn) của Stephen R. Schneider giáo sư về lĩnh vực
khoa học xã hội học và tội phạm, thuộc Đại học Saint mary, Halifax, Nova Scotia,
Canada, năm 2005 [124]. Tác giả nhấn mạnh các vấn đề lý luận về phòng ngừa tội
phạm, tình huống phòng ngừa tội phạm và phòng chống tội phạm thông qua thiết kế môi
trường. Theo tác giả, việc phòng ngừa tội phạm còn được thực hiện thông qua hoạt động
phát triển xã hội cho thanh, thiếu niên và người lớn, thông qua cộng đồng xã hội... Với
công trình này, Stephen R. Schneider đã đưa ra và giải thích một cách khoa học về hoạt
động phòng ngừa tội phạm như: Giảm nguy cơ phạm tội bằng cách thay đổi hành vi của
các nạn nhân tiềm tàng trong xã hội; giám sát mọi cơ hội tiếp cận để phòng ngừa hành vi
10
phạm tội; các biện pháp kiểm soát lãnh thổ, không gian, kiểm soát xã hội không chính
+ Tạo điều kiện thuận lợi nhất, vận động quần chúng tham gia rộng rãi và tích
cực vào việc phòng ngừa tội phạm;
+ Nghiên cứu tội phạm học và các biện pháp phòng ngừa tội phạm một cách sâu
sắc và toàn diện, có kế hoạch, chiến lược cụ thể cho từng giai đoạn; phân loại các biện
pháp phòng ngừa theo mức độ, nhân thân người phạm tội, kết hợp các biện pháp tác
động chung, tác động theo nhóm và tác động cá nhân;
+ Bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền công dân trong phòng ngừa
tội phạm.
Trong hệ thống các biện pháp phòng ngừa, có các biện pháp phòng ngừa riêng
được áp dụng với các chủ thể cụ thể nhằm: Loại trừ những sự tác động không tốt đối
với cá nhân đó; làm thay đổi cách ứng xử tiêu cực không được sự chấp thuận của xã
hội hoặc các học thuyết, quan điểm, quan niệm, sở trường theo hướng sai lệch hoặc đề
phòng việc thực hiện hành vi phạm tội.
Theo quan điểm đó, các nhà luật học đã xác định những biện pháp phòng ngừa
riêng được áp dụng với các chủ thể có dấu hiệu đặc trưng sau:
+ Chưa phạm tội nhưng đang ở trong môi trường có đầy đủ những điều kiện
thuận lợi để có thể phạm tội;
+ Những người đang có quan điểm, lối sống tiêu cực, chống lại các giá trị đạo
đức, truyền thống tốt đẹp của xã hội, có những vi phạm nhỏ chưa đến mức phải truy
cứu trách nhiệm hình sự;
+ Những người có ý đồ phạm tội, đang hình thành động cơ phạm tội, đang chuẩn
bị phạm tội;
+ Đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa thực hiện hành vi phạm tội
đến cùng.
Về các biện pháp đặc biệt phòng ngừa tội phạm, các tác giả cho rằng đó là những
biện pháp do các tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân
tiến hành nhằm trực tiếp loại trừ các yếu tố tội phạm học, các nguyên nhân, điều kiện
làm nảy sinh tội phạm, nhằm giáo dục và cải tạo những người có thể phạm tội hoặc đã
Phnômpênh vương quốc Campuchia, Ly SuViChhay, Luận văn thạc sỹ luật học, Học
viện CSND, năm 2005 [117]. Nội dung của luận văn đã xác định những nguyên nhân
và điều kiện của tội phạm CGTS trên địa bàn Phnômpênh và hệ thống các biện pháp
phòng ngừa nhằm kéo giảm, hướng tới xóa bỏ loại tội phạm này ra khỏi đời sống xã
hội. Tác giả chỉ rõ, để phòng ngừa đối với loại tội này cần áp dụng đồng bộ, có hiệu
quả các biện pháp phòng ngừa sau:
13
+ Thực hiện tốt công tác xây dựng đặc tình và CSBM trên những tuyến, khu vực
phức tạp nhằm chủ động phát hiện các đối tượng phạm tội CGTS;
+ Công tác sưu tra quản lý đối tượng có nhiều khả năng gây ra các vụ CGTS
công dân, trong đó chú ý đến các đối tượng thuộc loại nguy hiểm như: Lưu manh
chuyên nghiệp, có tiền án, tiền sự...;
+ Tuần tra, kiểm soát công khai các khu vực thường xuyên xảy ra các vụ CGTS,
trong đó chú ý các tuyến trọng điểm, tổ chức phục kích, đón lõng vào những thời gian
cao điểm ở các khu vực, tuyến thường xảy ra tội phạm.
Như vậy, có thể khẳng định đây là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về
cơ sở lý luận, đặc điểm hình sự của tội CGTS công dân, tác giả đã đưa ra được một hệ
thống các biện pháp phòng ngừa đối với tội phạm này. Tuy nhiên, đây là một công
trình nghiên cứu với chủ thể phòng ngừa chính là lực lượng CAND nên các biện pháp
đưa ra còn mạng nặng tính nghiệp vụ đặc thù mà chưa đưa ra được các biện pháp
phòng ngừa xã hội mang tính chuyên sâu.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc
1.2.1. Nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về tội cướp giật
tài sản và công tác phòng ngừa loại tội này
Thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu những vấn đề lý luận
về tội CGTS, có thể kể đến các công trình khoa học tiêu biểu sau đây:
- Bình luận khoa học BLHS, của Nguyễn Ngọc Điệp, Nhà xuất bản Thanh niên,
lịch sử phát triển của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm này, khái niệm, các dấu hiệu
pháp lý và trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Những kết luận của tác giả là
nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu sinh khi nghiên cứu về tội CGTS
trong luận án của mình.
- Giáo trình tội phạm học, của Trường Đại học Huế [100], GS.TS.Võ Khánh
Vinh đã xác định “Công tác đấu tranh với THTP có hai phương hướng tác động
chặt chẽ với nhau: Phòng ngừa và việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các tội
phạm”[100, tr.154]. Tác giả nhấn mạnh “Việc phòng ngừa THTP là hệ thống nhiều
mức độ các biện pháp mang tính chất nhà nước, xã hội và nhà nước xã hội nhằm
khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm
yếu, hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ THTP” [100,
tr.155].
Theo tác giả, việc phòng ngừa THTP được thực hiện bằng cách giải quyết cả
những nhiệm vụ xã hội (phòng ngừa chung toàn xã hội) lẫn những nhiệm vụ chuyên
15
môn (chuyên ngành). Trong đó, phòng ngừa chung toàn xã hội được thực hiện một
cách nhất quán bởi quá trình phát triển và hoàn thiện về mọi mặt của xã hội chúng ta,
bởi việc thực hiện các quy luật và tính ưu việt của xã hội. Còn phòng ngừa chuyên
môn (chuyên ngành) được hiểu là tổng thể các biện pháp tác động pháp luật và các
biện pháp giáo dục, tổ chức kỷ luật hướng đến việc phòng ngừa THTP nói chung,
THTP của một loại tội phạm nào đó hoặc các tội phạm cụ thể như: Tội phạm giết
người, cướp tài sản, CGTS... Các biện pháp phòng ngừa THTP được phân loại theo:
Nội dung; khối lượng; phạm vi; khách thể và những người nhận sự tác động; cơ chế
tác động, cường độ (sự tương quan của các yếu tố thuyết phục và cưỡng chế). Trong
đó theo nội dung có các biện pháp phòng ngừa mang tính chất kinh tế, nhân chủng
học, chính trị, tư tưởng, tổ chức, kỹ thuật và pháp lý, theo khối lượng được chia thành
các biện pháp phòng ngừa chung, riêng và cá nhân, theo phạm vi gồm có các biện
phòng ngừa hoặc đảm bảo cho việc thực hiện nó.
- Tội phạm học Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của tập thể tác giả
Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật do TS. Phạm Hồng Hải làm chủ biên, Nhà
xuất bản CAND, năm 2000 [39]. Trong phần IV Vấn đề phòng ngừa tội phạm trong tội
phạm học. Tác giả đã phân tích và đưa ra khái niệm: “Phòng ngừa tội phạm là tổng
hợp các biện pháp khác nhau của Nhà nước, xã hội nhằm khắc phục, hạn chế và loại
trừ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm để ngăn chặn, hạn chế và tiến tới thủ tiêu
tội phạm trong xã hội. Như vậy, khái niệm phòng ngừa tội phạm được tác giả xây
dựng phù hợp với các nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc nhân đạo
xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc bảo đảm sự phối hợp đồng bộ trong phòng ngừa tội
phạm” [39, tr.237].
- Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản
chính trị quốc gia, năm 1994 [94], cuốn sách chuyên khảo của tập thể các nhà khoa
học Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật do GS. TSKH Đào Trí Úc chủ biên đã liệt
kê các cơ quan, tổ chức sau có thể coi là những chủ thể chính của hoạt động phòng
ngừa tội phạm: Các tổ chức của Đảng cộng sản Việt Nam; Hội đồng nhân các cấp; các
cơ quan quản lý hành chính, kinh tế nhà nước; các cơ quan Công an, Viện kiểm sát và
Tòa án; các cơ quan thuộc Bộ tư pháp, các tổ chức xã hội, tập thể lao động và cá nhân.
Theo tác giả, trong tội phạm học Việt Nam có thể có những biện pháp phòng ngừa sau:
Phòng ngừa tội phạm theo cấp độ xã hội chung; phòng ngừa tội phạm theo cấp độ
chuyên ngành; các biện pháp phòng ngừa tội phạm theo phạm vi lãnh thổ. Công trình
đã nghiên cứu và chỉ rõ nội dung của các biện pháp phòng ngừa tội phạm được xác
17
định trên cơ sở tính chất của sự phòng ngừa. Theo đó, có: Biện pháp kinh tế, chính trị
xã hội, văn hóa tư tưởng, tổ chức quản lý, pháp luật và biện pháp phòng ngừa theo
chức năng.
1.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến tình hình tội cướp giật