Chí Phèo (Nam Cao) - Pdf 43

Nam cao
I. Tiểu sử và con ng ời
1- Tiểu sử:
- Nam Cao tên thật Trần Hữu Tri sinh năm 1915 tại làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân
tỉnh Hà Nam trong một gia đình nông dân. Quê Nam Cao xa kia thuộc vùng chiêm
trũng nên quanh năm nghèo đói. Nam Cao học hết bậc Thành trung (cấp II) nhng không
tìm đợc việc làm phải kiếm sống bằng nhiều nghề. Nghề gắn bó cả đời của ông là nghề
viết văn.
- Nam Cao bắt đầu cầm bút từ khoảng 1936. Khi mới bớc vào làng văn, Nam Cao
sáng tác theo khuynh hớng LM.
- Cũng nh bao thanh niên hồi đó, NC cũng ấp ủ những ớc mơ đợc hấp thụ qua
những sách báo đơng thời. Không chấp nhận cuộc sống quanh quẩn tù túng, NC cũng
khao khát xê dịch, thích phiêu lu giang hồ say mê đến những miền đất hứa.
- Dấu vết của tâm hồn đầy mơ mộng ấy đợc thể hiện khi thì qua những trang viết
thấm đẫm cảm xúc LM về một mối tình trong trẻo và cảm động buổi xuân đời, khi
thì qua một mối tình u ẩn mà nồng nàn tha thiết (Những cánh hoa tàn), khi lại thể
hiện qua những mảnh tâm trạng buồn vơ vẩn, thầm yêu trộm nhớ:
Tâm hồn tan tác làm trăm mảnh
Vơng vấn theo ai bốn góc trời
Rồi để một chiều theo gió thổi
Bay lên thành những mảnh mây trôi
- Tất nhiên những sáng tác theo khuynh hớng này của ông không thành công.
Chính vì thế ông đã chuyển sang khuynh hớng hiện thực và với khuynh hớng này ông
đã gặt hái đợc rất nhiều thành công bất ngờ.
- Năm 1943 NC tham gia hội văn hoá cứu quốc do ĐCS tổ chức và lãnh đạo,
tham gia cớp chính quyền địa phơng. Sau CM ông tham gia nhiều công tác khác nhau:
công tác ở hội văn hoá cứu quốc, Nam tiến, làm tuyên truyền, tham gia chiến dịch biên
giới.
1
- Tháng 11 năm 1951 NC đã bị địch phục kích và bắt đợc trên đờng vào công tác
vùng sau lng địch thuộc liên khu III và bị chúng bắn chết ở gần Hoàng Đan thuộc tỉnh

2
tàn phá cuộc đời con ngời. Mặt khác ông cũng thể hiện niềm khát khao vơn tới cuộc
sống cao đẹp, ở đó con ngời có cơ hội phát triển tâm đức, tài trí của mình để xứng đáng
với danh hiệu cao quý là CON NGƯờI. Có thể nói, trong lịch sử văn học Việt Nam cha
có cây bút nào viết về trí thức vừa chân thực, dũng cảm vừa sâu sắc nh Nam Cao.
- Sau CM: NC là cây bút tiêu biểu nhất của chặng đầu nền văn học mới. Sau CM
NC sáng tác để phục vụ cuộc kháng chiến . Truyện ngắn Đôi mắt (1948), Nhật ký ở
rừng(1948),và tập bút ký Chuyện biên giới (1950) là những sáng tác thành công của NC
góp phần vào thành công của nền văn học mới sau CM tháng T8.
III. Vị trí của Nam Cao trong dòng văn học HTPP
- Khi NC ra đời với t cách một nhà văn - thì trong xu hớng VHHTPP 1930
1945 đã có biết bao cây bút nổi danh. Viết về ngời nông dân ? Đã có Chị Dậu của Ngô
Tất Tố, anh Pha của Nguyễn Công Hoan, Thị Mịch của Vũ Trọng Phụng Viết về ngời
TTS trí thức ? Thì văn học hợp pháp thời ấy có vô số tác phẩm Viết về cuộc sống lang
thang vất vởng bên hè phố ? đã có Tám Bính trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng
- Phải thừa nhận đúng là về thời gian Nam Cao là ngời đến muộn. Nhng có lẽ
chính vì đến muộn Nam Cao lại có dịp để phát huy mạnh mẽ bản sắc độc đáo của mình.
Khi Tắt đèn của Ngô Tất Tố và Bớc đờng cùng của Nguyễn Công Hoan ra đời ít ai nghĩ
rằng thân phận ngời nông dân dới ách đế quốc Phong kiến lại có thể có một nỗi khổ nào
hơn nỗi khổ của chị Dậu và Anh Pha, hay, Tám Bính. Nhng đúng nh nhà nghiên cứu
Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: Khi Chí Phèo ngật ngỡng bớc ra từ những trang sách
của Nam Cao, thì ngời ta liền nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gì là
khốn khổ, tủi nhục nhất của ngời nông dân cùng ở một nớc thuộc địa bị giày đạp, bị cào
xé, bị huỷ hoại từ nhân tính đến nhân hình. (Chị Dậu bán con, bán chó, bán sữa nh-
ng chị còn đợc làm ngời. Chí Phèo phải bán cả linh hồn và diện mạo của mình để trở
thành con quỷ giữ của làng Vũ Đại
- Cho nên bức tranh rộng lớn của VH phản ánh xã hội, đất nớc những năm 30
45 chắc chắn sẽ không đợc toàn diện nếu thiếu cây bút sắc sảo của NC. Cùng với những
tác phẩm mang giá trị đặc sắc của mình, NC xứng đáng đợc đánh giá ở vị trí một nhà
văn lớn trong dòng VH HTPP 30 45 nói riêng trong nền văn xuôi hiện đại VN nói

- Thứ nhất: Nam Cao đã bộc lộ sự cảm thông lạ lùng của một trái tim nhân đạo
lớn. Với ông, thế giới, cuộc đời, con ngời, mối quan hệ giữa những con ngời đợc nhìn
nhận bằng những con mắt của chính họ. Nhà văn trong những đánh giá và nhận xét, đã
xuất phát từ lợi ích và yêu cầu của chính những con ngời cùng khổ nhất, không có
quyền bị xã hội áp bức chà đạp xuống tận bùn đen.
4
- Thứ hai: nh GS Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét: Nam Cao là ngời hay băn
khoăn về vấn đề nhân phẩm,về thái độ kính trọng đối với con ngời. Anh thờng dễ bất
bình trớc tình trạng con ngời bị lăng nhục chỉ vì bị đầy đoạ vào cảnh nghèo đói cùng
đờng. Nhiều tác phẩm xuất sắc của anh đã trực diện đặt ra vấn đề này và anh quyết
đứng ra minh oan,chiêu tuyết cho những con ngời bị miệt thị một cách bất công.
- Thứ ba: Với trái tim đầy yêu thơng của mình, Nam cao tin rằng ở những con
ngời không còn đợc là ngời - những con ngời bề ngoài đợc miêu tả nh những con vật
vẫn còn nhân tính, vẫn còn những khát khao nhân bản. Ông nhận ra đằng sau những bộ
mặt xấu xí đến Ma chê quỷ hờncủa Thị Nở (Chí Phèo), của mụ Lợi (Lang rận ), của
Nhi( Nửa đêm),vvvẫn là một con ngời, một tâm tính ngời thực sự, cũng khao khát yêu
thơng, cũng mong muốn hạnh phúc đời thờng.Và khi đợc ngọn lửa tình yêu ởi ấm,
những tâm hồn tởng nh đã cằn cỗi, khô héo ấy cũng ánh lên những vẻ đẹp với những
hồi hộp, vui mừng, sung sớng. Trong quan niệm của Nam Cao, con ngời có thể bị tiêu
diệt, nhng nhân tính, bản chất lơng thiện của con ngời là bất diệt! (Chẳng hạn,
trong đáy sâu tâm hồn đen tối của một kẻ cục súc, u mê nh Chí Phèo- một kẻ đã bị
cuộc đời tàn phá, huỷ hoại từ nhân hình đến nhân tính- nhà văn vẫn nhìn thấy những
rung động thực sự của tình yêu, của niềm khao khát muốn trở lại làm ngời lơng thiện).
+ Có thể nói, cùng với việc lên án gay gắt những thành kiến, định kiến tồi tệ,
những sự nhục mạ danh dự và phẩm giá của con ngời, chính việc phát hiện ra cái
phần con ngời còn sót lại trong một kẻ lu manh, trân trọng những khát khao nhân bản
và miêu tả những rung động trong sáng của những tâm hồn tởng chừng đã bị cuộc đời
làm cho cằn cỗi, u mê đã làm cho Nam Cao trở thành một trong số những nhà nhân đạo
lớn nhất nền văn học hiện đại Việt Nam .
- T tởng nhân đạo khi viết về ngời trí thức:

sâu sắc giữa tính chân thực khách quan của một chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo, nghiêm
ngặt với một tấm lòng thiết tha sôi nổi. NC yêu thơng những con ngời bình thờng với
tất cả những mặt tốt và mặt xấu của nó. Xã hội cũ làm cho ông đau xót khi mà đa số
những nhân vật của ông bị đẩy vào cảnh khốn cùng, không đạt đợc gì trong cuộc đời,
không có điều kiện để bộc lộ, phát huy những khả năng tiềm tàng u việt của mình. Có
thể nói chủ nghĩa nhân đạo là một đặc điểm cơ bản trong sáng tác của NC.
*- Quan điểm NT là một hoạt động nghiêm túc và công phu
* - Văn ch ơng đồng nghĩa với sự tìm tòi không ngừng cả về hình thức nghệ
thuật và nội dung
6
- Bình sinh Nam Cao là ngời hiền lành ít nói, thậm chí bề ngoài còn nh lạnh lùng,
nhng đời sống nội tâm lại rất phong phú. Ông thờng day dứt hối hận vì những sai lầm
và luôn nghiêm khắc đấu tranh để thoát khỏi lối sống tầm thờng nhỏ nhoi, khao khát v-
ơn tới một cuộc sống tốt đẹp. Nam Cao gắn bó sâu nặng với quê hơng và những ngời
nghèo khổ. Điều này góp phần quan trọng khiến ông giữ đợc nhân phẩm, nhân cách tr-
ớc sự cám dỗ của đời sống vật chất tầm thờng và tạo nên những tác phẩm giàu giá trị
nhân đạo.
5. Phong cách NT
- Tính đời thờng là nét nổi bật nhất trong các sáng tác nghệ thuật của Nam Cao.
Nhiều ngời cho rằng một trong những đặc sắc của ngòi bút NC là đã mạnh dạn đa cái
hàng ngày vào văn học, nghĩa là chẳng cần kịch tính gì lớn lao, tác phẩm chỉ dệt toàn
bằng những chi tiết vặt vãnh, từ xung đột vô nghĩa giữa những con ngời bé nhỏ tội nghiệp.
Nhng thiết nghĩ, viết đợc nh thế thật là khó, nếu nh vẫn muốn trung thành với chủ nghĩa hiện
thực. Phải là một bản lĩnh Sêkhốp, nghĩa là phải xuất phát từ t tởng sâu, những tình cảm lớn, từ
cõi thơ cao khiết mà quan sát và mô tả cái văn xuôi phàm tục của cuộc đời.
- Tính triết lý cũng là đặc điểm rất độc đáo của riêng Nam Cao. Tất nhiên sức hấp
dẫn sẽ không thể có đợc nếu ông chỉ lắp lại những nguyên lý chung chung, quen nhàm.
Cho nên ngời ta nhận thấy những lý lẽ của ông bao giờ cũng phải hay ho chính xác cả.
Nó phải là những tìm tòi, những phát hiện của riêng ông về sự sống. Cho nên triết lý mà
không khô khan, triết luận mà nh mở ra chân trời thơ bát ngát. Sáng tác của ông vì thế

+ Phong tục tập quán dân quê (Trần Tiêu, Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân là
những cây bút phong tục sắc sảo)
+ Truyện luận đề về mối quan hệ trong gia đình (mẹ chồng nàng dâu, dì
ghẻ con chồng, vợ cả vợ lẽ, cháu nội cháu ngoại) tiêu biểu có thể kể đến Thanh
Tịnh với tập Quê Mẹ.
Tuy nhiên những hớng khai thác kể trên có cái hạn chế là không cho phép
các tác giả khái quát diện mạo xã hội ở phạm vi rộng.
+ Tắt đèn của NTT, Bớc đờng cùng của NCH, Giông tố của VTP ra
đời chính là để khắc phục các khuynh hớng này.
+ Tác phẩm Chí Phèo của NC ngay từ khi ra đời đã đợc xem là một hiện t-
ợng đột xuất. Nó gây ấn tợng trớc hết bởi sự đầy đặn, đa dạng, nhiều màu sắc của
một bức tranh về đời sống xã hội nông thôn VN.
- Nếu nhìn góc độ con ngời là sản phẩm của XH thì CP, Bá Kiến, Năm
Thọ, Binh Chức, Thị Nở và cả đám đống đùn ra khi CP rạch mặt ăn vạ chính là
sản phẩm của làng thôn VN cụ thể là làng VĐại.
8
- Nếu nhìn vào kết cấu làng xã thì thấy làng Vũ Đại là một làng có mối
quan hệ làng xã lỏng lẻo, đơn điệu:
+ Làng VĐ không nhiều kiểu loại ngời (ở đây không có nhà Nho,
chỉ có cờng Hào nên trong quan hệ xã hội không có tôn ty, thứ bậc mà chỉ
có quan hệ giữa các thế lực, giữa kẻ thống trị và ngời bị trị), chính vì thế
mà sự tiếp xúc quan hệ giữa họ không phong phú, đời sống tinh thần, đời
sống tâm hồn của các cá nhân cũng đơn giản, nghèo nàn.
+ Trong quan hệ cùng loại nh Bá Kiến, Đội Tảo thì luôn luôn thờng
trực ý thức tranh chấp, hạ bệ nhau để giành địa vị trong làng (rình cơ hội
để trị nhau, chờ nhau lụn bại để cỡi lên đầu lên cổ nhau).
+ Trong quan hệ giữa những ngời có hành vi cùng loại nh Chí Phèo,
Binh Chức, Năm Thọ thì không phải cùng phát lộ hoặc có mối liên kết với
nhau mà chỉ có mối quan hệ dọc với Bá Kiến. Sau thất bại chúng cũng
không biết liên hệ với nhau mà chỉ có Bá Kiến mới biết tổng kết, phân tích

ngời đọc đã bị ám ảnh bởi một ấn tợng lạ. Cái lạ trớc hết là so sánh với những nhân vật
cùng thời: Anh Pha của NCH, chị Dậu của NTT đều là những con ngời tốt, thuần nhất.
Những thử thách, những cảnh ngộ chỉ là điều kiện để họ khẳng định thêm phẩm chất
của mình. Họ thăng trầm về số phận, nhng khá tĩnh tại về tính cách. Trong khi đó đến
CP thì hình nh NC bắt đầu đập vỡ cái nhìn nguyên phiến ấy để tạo ra một cái nhìn phức
tạp hơn và vì thế cũng sâu sắc hơn về con ngời.
Về nhân vật CP: Mới chỉ đọc qua một lợt TP, ngời đọc đã thấy hơi rợn ngời về
con đờng đi của Chí. Con đờng ấy mảnh và mủn nh một sợi chỉ mục. Nó đứt đoạn, gẫy
nát và gớm ghiếc. Nếu con ngời bao gồm phần ngời và phần con thì CP luôn bị chao
đảo giữa hai phần ấy. Lúc tỉnh táo đứng bên thế giới ngời, lúc say, mê muội ngả sang
thế giới vật. Cứ thế CP ngật ngỡng giữa hai bờ say tỉnh, vô thức ý
thức. Có ngời gọi hiện tợng đặc biệt này là lỡng hoá tính cách, là nét tuyệt bút của
NC khi thể hiện ý tởng về con ngời bị từ chối quyền làm ngời, con ngời tha hoá trong
xã hội cũ
Về phơng pháp tiếp cận: Có nhiều cách khác nhau để tiếp cận NV CP.
+ Có ngời phân tích đánh giá cuộc đời CP qua 3 chặng: chặng 1 từ khi sinh ra
đến khi đi tù; chặng 2 là từ sau khi ra tù đến khi gặp Thị Nở; chặng 3 là sau khi gặp Thị
Nở đến chết.
+ Có ngời quan tâm tới sự vận động tính cách của CP; Hoặc cho rằng CP đi từ l-
ơng thiện đến lu manh, tức là đánh giá sự vận động tính cách CP nghiêng về quá trình
vật hoá. Hoặc cho rằng CP đi từ lu manh đến lơng thiện nghĩa là nghiêng về đánh
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status