Địa danh tỉnh vĩnh long qua góc nhìn văn hóa dân gian tt - Pdf 43

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGÔ THỊ THANH

ĐỊA DANH TỈNH VĨNH LONG
QUA GÓC NHÌN VĂN HÓA DÂN GIAN

Chuyên ngành: Văn hóa dân gian
Mã số: 62220130

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI – 2017


Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Trung Hoa

Phản biện 1: PGS.TS. Trần Thị An
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Xuân Đức

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện họp tại Học Viện Khoa học xã hội, số 477, quận Thanh Xuân,
thành phố Hà Nội vào hồi………..….giờ…………phút,
ngày………tháng……….năm 2017

cứu “Địa danh tỉnh Vĩnh Long qua góc nhìn văn hóa dân gian” làm vấn
đề nghiên cứu của luận án Tiến sỹ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
2.1.1. Về mặt lý luận: Luận án làm cơ sở dữ liệu nghiên cứu về địa
danh tỉnh Vĩnh Long và vùng TNB; Nghiên cứu cơ sở lý thuyết giải mã
địa danh dưới góc nhìn văn hóa dân gian (VHDG); Khẳng định địa danh
là một loại hình di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia và nhân loại, làm
cơ sở bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong địa danh trước bối
cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.1.2. Về mặt thực tiễn: Luận án tìm ra được luận cứ nhằm củng cố
minh chứng về quá trình khẩn hoang vùng đất TNB của người Việt trong
1


lịch sử, nêu những nét tương đồng và khác biệt của tiểu vùng văn hóa
tỉnh Vĩnh Long trong mối quan hệ vùng văn hóa TNB; Thực hiện việc
đặt địa danh trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới; Đóng góp cho
Chương trình bảo tồn và phát huy di sản văn hóa và nếu có thể được,
luận án là cơ sở để tỉnh Vĩnh Long nói riêng, vùng TNB nói chung xây
dựng hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân
loại...
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thống kê, phân loại địa danh tỉnh Vĩnh Long;
- Khái quát về cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu địa danh; đề xuất
được phương pháp nghiên cứu địa danh qua góc nhìn VHDG; đề xuất
được nội hàm các thuật ngữ nghiên cứu địa danh qua góc nhìn VHDG.
- Giải mã được đời sống VHDG tỉnh Vĩnh Long qua địa danh và
ngược lại.
- Tìm ra các giá trị văn hóa truyền thống qua địa danh tỉnh

chính (bao gồm địa danh có nguồn gốc dân gian) và địa danh dân gian.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận: Xuất phát từ phương pháp luận xem văn hóa
là nhân tố bên trong, là nền tảng chi phối mọi hoạt động của xã hội. Đây
cũng chính là quan điểm của Đảng và Nhà nước ta xác định trong các
Văn kiện Đại hội Đảng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu: thống kê và phân loại, phân tích tổng
hợp, nghiên cứu lịch sử, so sánh, bản đồ; điều tra điền dã, phỏng vấn sâu;
nghiên cứu toán học. Ngoài các phương pháp chung được dùng để
nghiên cứu toàn luận án, chúng tôi còn mạnh dạn đề xuất hệ phương
pháp mới sử dụng cho việc giải mã địa danh dưới góc nhìn văn hóa nói
chung, VHDG nói riêng, bao gồm năm phương pháp: xác định thành tố
văn hóa, soi gương, tằm ăn lá, mã hóa địa danh, kiểm chứng dữ liệu địa
danh.
5. Những đóng góp mới của luận án
5.1. Đóng góp mới về mặt khoa học: Luận án đề xuất được cơ sở lý
luận nghiên cứu VHDG qua địa danh, cụ thể là việc dùng các thành tố
văn hóa và năm phương pháp mới truy tìm dữ liệu để nghiên cứu, giải
mã địa danh của một vùng đất dưới góc nhìn văn hóa; giới thuyết mới
các phạm trù, khái niệm thuộc về bản chất của địa danh và VHDG. Nhận
diện được nội hàm địa danh hành chính có nguồn gốc dân gian; đề xuất
phân loại địa danh thành địa danh hành chính và địa danh dân gian; nêu
được đặc điểm của địa danh trong đời sống VHDG; phát hiện ra các quy
luật VHDG chi phối quá trình hình thành và biến đổi địa danh.
5.2. Đóng góp mới về mặt thực tiễn
3


- Luận án góp phần xem xét và mở rộng phạm vi thực hiện Nghị định
số 91/2005/NĐ-CP Về việc ban hành quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố

tỉnh thành trong khu vực TNB hoặc thậm chí là cả Nam Bộ, nhằm tạo
một bộ lịch sử viết bằng nguồn tư liệu là địa danh. Công trình là một
4


minh chứng cho quá trình “Mở đất – Lập đất – Bảo vệ đất” với vai trò
chủ đạo của người Kinh và sự chung tay góp sức của đồng bào dân tộc
anh em trong lịch sử.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận: Đóng góp về hướng tiếp cận và phương pháp
mới trong khoa học nghiên cứu về địa danh, giải quyết được những khái
niệm, các vấn đề có liên quan đến địa danh chưa được làm sáng tỏ dưới
góc nhìn văn hóa.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có ý nghĩa trong giai đoạn xây dựng
nông thôn mới ở Vĩnh Long nói riêng, vùng TNB nói chung; kịp thời giải
quyết được các vấn đề phát triển kinh tế, xã hội có liên quan đến địa
danh.
7. Cơ cấu của luận án
Luận án bao gồm 04 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận.
Chương 2: Chủ thể và quá trình giao lưu văn hóa chi phối nguồn gốc
hình thành địa danh tỉnh Vĩnh Long.
Chương 3: Địa danh tỉnh Vĩnh Long hình thành và phát triển trong
không gian và thời gian văn hóa.
Chương 4: Nhận xét kết quả nghiên cứu địa danh tỉnh Vĩnh Long qua
góc nhìn văn hóa dân gian.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Nhận xét về nguồn tư liệu, tài liệu

luận án các thông tin tư liệu về nguồn gốc một số địa danh cổ cùng đời
sống văn hóa, phong tục tập quán… của tỉnh. Về mặt phương pháp, các
tác giả dư địa chí dưới thời Nguyễn trình bày bằng phương pháp liệt kê,
chưa đề cập địa danh và văn hóa bằng hệ thống lý luận cụ thể. Mặc dù
các sách địa chí giai đoạn sau đã có những bước tiến mới đáng ghi nhận,
tuy nhiên, do đặc thù của thể loại địa chí nên hầu như các tranh luận học
thuật về địa danh vẫn rất hiếm hoi, có chăng là ở công trình Gia định
thành thông chí với bản dịch của Lý Việt Dũng đính chính tên người và
tên đất so với bản dịch Đỗ Mộng Khương... Việc lý giải địa danh vì thế
vẫn chưa được soi sáng dưới góc nhìn văn hóa. Đối với các nghiên cứu
ngôn ngữ về địa danh tỉnh Vĩnh Long, một số tranh luận về nguồn gốc
địa danh và ngữ nghĩa của một số thành tố có trong địa danh, phân loại
địa danh đã xuất hiện. Luận án cũng kế thừa được các phương pháp tiếp
cận địa danh dưới góc độ từ vựng học, ngữ âm, từ nguyên dân gian…
Mặt khác, qua việc khảo sát thực tế ở địa phương và các tài liệu viết về
6


Vĩnh Long, chúng tôi nhận thấy số lượng các công trình nghiên cứu về
VHDG của tỉnh hiện vẫn chưa tương xứng với tầm vóc của một vùng đất
từng là nơi đô hội của khu vực ĐBSCL. Chính vì vậy, luận án sẽ là
những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn đối với mảng nghiên
cứu văn hóa tỉnh Vĩnh Long.
1.3. Cơ sở lý luận nghiên cứu địa danh dưới góc nhìn văn hóa dân
gian
1.3.1. Một số khái niệm có liên quan đến địa danh và văn hóa dân
gian
1.3.1.1. Các khái niệm có liên quan đến địa danh
+ Khái niệm địa danh: Chúng tôi nhận thấy có rất nhiều tác giả đưa
ra định nghĩa nhằm làm sáng tỏ đối tượng địa danh. Để xác định nội hàm

danh để tiếp tục phân loại nhằm góp phần giải mã chúng dưới góc độ văn
hóa gồm: địa danh gắn với nguồn gốc tộc người trải qua không gian và
thời gian văn hóa; địa danh gắn với thực thể và địa danh mang các giá trị
văn hóa phi vật thể.
1.3.1.2. Các khái niệm có liên quan đến văn hóa dân gian
+ Phạm trù văn hóa dân gian: Để nghiên cứu VHDG qua địa danh
một cách toàn diện, chúng tôi chọn cách tiếp cận theo khái niệm rộng về
VHDG.
+ Phạm vi và đối tượng nghiên cứu văn hóa dân gian
Phạm vi nghiên cứu VHDG là tất cả những gì thuộc về không gian
sống của con người. VHDG sẽ được xem xét dưới cái nhìn lịch đại và
đồng đại chứ không phải khuôn hẹp trong vốn văn hóa xưa, nay không
còn nữa. Đối tượng nghiên cứu VHDG chính là tất cả những gì thuộc về
nhân dân. Phân biệt VHDG không phải dựa trên quy mô của chúng gồm
những thành tố nào mà căn cứ vào tính chất của VHDG.
+ Di sản văn hóa phi vật thể địa danh: Căn cứ vào Luật Di sản văn
hóa năm 2001, chúng tôi nhận thấy địa danh mang đầy đủ nội hàm của di
sản văn hóa phi vật thể.
+ Đặc điểm của địa danh trong đời sống văn hóa dân gian: Địa
danh dân gian mang đầy đủ tính chất của một hiện tượng VHDG. Địa
danh dân gian được lưu truyền bằng con đường truyền miệng, vì thế,
chúng có khá nhiều dị bản về nguồn gốc hình thành và cả bản thân tên
gọi địa danh. Khi đã hình thành và phát triển, đến giai đoạn chính quyền
xác lập chủ quyền lãnh thổ hoặc xác lập địa giới hành chính, một bộ phận
địa danh dân gian trở thành địa danh hành chính. Kể từ đây, địa danh dân
gian có một vài đặc điểm khác với giai đoạn trước đó. Khi trở thành địa
danh hành chính, địa danh dân gian tồn tại chính thức trong các văn bản
hành chính nhà nước nên tên gọi địa danh mất đi tính dị bản do truyền
miệng, chúng được bảo lưu nguyên vẹn. Tuy nhiên, nguồn gốc hình
8

pháp địa lý và phân loại theo thành tố văn hóa.
TIỂU KẾT
Điểm qua tình hình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy luận án có tính
mới về mặt lý luận và thực tiễn. Trong công trình này, ngoài việc nghiên
cứu địa danh về mặt nguồn gốc, chúng tôi còn nhìn nhận địa danh là một
hiện tượng VHDG – có nghĩa là chúng cũng mang đầy đủ những đặc
9


trưng của hiện tượng VHDG… Trên cơ sở tính mới của đề tài, việc xác
lập cơ sở lý luận nghiên cứu địa danh tỉnh Vĩnh Long qua góc nhìn
VHDG đã nêu được các vấn đề cơ bản, giới thuyết về cách hiểu phạm trù
VHDG và địa danh, đề xuất năm phương pháp nghiên cứu đặc thù để giải
mã địa danh.
CHƯƠNG 2
CHỦ THỂ VÀ QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VĂN HÓA
CHI PHỐI NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH ĐỊA DANH
TỈNH VĨNH LONG
2.1. Khái quát lịch sử hình thành tỉnh Vĩnh Long
Qua nghiên cứu các nhóm địa danh gắn với di chỉ khảo cổ văn hóa Óc
Eo, tỉnh Vĩnh Long nói riêng, TNB nói chung khởi đầu thuộc Vương
quốc Phù Nam. Từ thế kỷ XVII - XVIII, vùng đất này được khai hoang
trên diện rộng dưới sự điều khiển của các chúa Nguyễn. Lịch sử hình
thành địa danh tỉnh Vĩnh Long cho thấy, để có được Vĩnh Long ngày
nay, đó là kết quả của sự chung tay góp sức từ các thành phần dân cư có
mặt rất sớm trên vùng đất này… Họ chính là nhân tố chi phối và quyết
định đời sống văn hóa trên địa bàn tỉnh.
2.2. Bức tranh văn hóa tộc người qua địa danh tỉnh Vĩnh Long
2.2.1. Lịch sử hình thành tộc người tỉnh Vĩnh Long qua địa danh:
Nhiều học giả nghiên cứu cho rằng, giai đoạn trước khi chúa Nguyễn lập

chọn sống ở các khu đất cao ráo. Họ có khuynh hướng lùi dần vào bên
trong tạo thành những phum (phum), sóc (srôk), tha la (sala) riêng. Đối
với tộc người Hoa, chúng tôi nhận thấy các địa danh xã Tàu ghi dấu sự
cư trú của họ vào thế kỷ XVIII, XIX. Song song đó, địa danh ghi lại giai
đoạn người Hoa được chính quyền nhà Nguyễn phân thành các bang để
dễ bề quản lý. Đến thời Pháp thuộc, lợi dụng sức mạnh của người Hoa về
mặt kinh tế, chính trị, thực dân vẫn tiếp tục duy trì hình thức cư trú bang
của người Hoa dựa trên hai tiêu chí địa dư và phương ngữ theo quy định.
Ngoài các tộc người trên, qua địa danh mang thành tố Plây, Bản… tỉnh
Vĩnh Long còn lưu lại dấu vết cư trú của các tộc người Chăm, Mông –
Dao, Kađai, Tày – Thái...
2.2.3. Đặc trưng văn hóa tộc người góp phần giải mã địa danh
tỉnh Vĩnh Long: Trải qua quá trình gìn giữ và xây dựng đất nước, bốn
tộc người Kinh - Khmer - Hoa - Chăm cùng chung sống với nhau và trở
thành anh em ruột thịt. Trong nghiên cứu địa danh, chúng tôi thấy rằng
có khá nhiều hiện tượng khó xác định thành tố văn hóa đó thuộc nguồn
gốc tộc người nào. Chúng tôi lấy ví dụ để phân tích một số hiện tượng
văn hóa không thể áp dụng phương pháp giải mã địa danh bằng thành tố
văn hóa tộc người qua các địa danh mang thành tố văn hóa tín ngưỡng
11


thờ Mẫu, Đạo giáo; Phật giáo Đại thừa, Phật giáo địa phương ở NB. Tuy
nhiên, căn cứ vào Phật giáo Nam tông, chúng ta có thể giải mã được một
số địa danh gắn với tộc người Khmer. Tương tự, chúng tôi còn dựa vào
thành tố văn hóa tín ngưỡng nổi bật của các tộc người trong giai đoạn
đầu mang đến vùng đất Vĩnh Long xưa nhằm làm căn cứ giãi mã nguồn
gốc địa danh tỉnh Vĩnh Long như tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng, thờ
Ông Bổn, thờ Ông Địa, thờ Ngọc Hoàng; thờ Neak Tà, thờ Arăk…
2.3. Ảnh hưởng của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa đến

kiến nước ta chịu ảnh hưởng sâu sắc nền văn hóa Trung Hoa. Kể từ năm
1824, trước thực trạng có nhiều địa danh sử dụng từ Thuần Việt được lưu
truyền, vua Minh Mạng đã chủ trương rà soát các tên gọi địa danh trong
dân gian. Trong giai đoạn này, nhiều tác gia viết sách địa lý, lịch sử và
phác thảo các bản đồ đương thời bắt đầu việc Hán hóa địa danh Nôm.
Đến những năm cuối thế kỷ XIX, hình mẫu văn hóa của Trung Quốc
không còn nữa. Tuy nhiên, trong các giai đoạn về sau, chính quyền ở
Việt Nam cũng dùng từ Hán Việt để đặt tên cho nhiều đơn vị hành chính
cấp huyện – xã trong cả nước do chúng thể hiện ước vọng của quần
chúng nhân dân nơi vùng đất mới. Theo thống kê, Vĩnh Long vẫn còn
khoảng 462 địa danh Hán Việt là địa danh hành chính hiện hành đã xuất
hiện trong thời Nguyễn, góp phần ghi lại giai đoạn đầu các vua chúa nhà
Nguyễn điều khiển công cuộc khai hoang trên vùng đất NB xưa.
2.3.2.2. Tiếp xúc văn hóa giữa dân tộc Việt – Pháp qua địa danh:
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, quá trình tiếp xúc văn hóa giữa dân tộc
Việt và Pháp trong giai đoạn cận đại chủ yếu được lưu giữ qua một số địa
danh gắn với giao thông đường bộ, thành tố chỉ địa hình kênh, rạch và
phản ánh đời sống xã hội đương thời.
TIỂU KẾT
Địa danh tỉnh Vĩnh Long được thể hiện ở bốn ngôn ngữ tộc người
Việt – Hoa – Khmer – Chăm. Do quá trình sống cộng cư, văn hóa giữa
các tộc người trở thành vốn văn hóa chung, vì vậy, việc giải mã văn hóa
qua địa danh tỉnh Vĩnh Long cần phải được tiếp tục nghiên cứu bằng các
thành tố văn hóa khác. Bên cạnh các thành tố văn hóa tộc người bản địa
ảnh hưởng đến địa danh, chúng ta còn có thể xem xét thành tố văn hóa
dân tộc qua giao lưu văn hóa với Trung Hoa và Pháp, chúng góp phần
không nhỏ đến nguồn gốc hình thành và biến đổi một số địa danh Vĩnh
Long.

13

3.2. Địa danh phản ánh thời gian văn hóa tỉnh Vĩnh Long
3.2.1. Địa danh tỉnh Vĩnh Long thời khẩn hoang: Trong giai đoạn
này, địa danh tỉnh Vĩnh Long phản ánh những khó khăn của nhân dân
gặp phải trong quá trình mở đất, làm cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ
Ông Hổ, thờ Cá Sấu… Xuất phát từ hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt,
cư dân khẩn hoang phải bỏ biết bao công sức mới khai khẩn được đất
14


đai. Vì vậy, đối với họ, hễ ai có công khai hoang thì họ đều ghi nhớ, tiêu
biểu, ta có các địa danh gắn với những người có công lập làng lập ấp…
3.2.2. Địa danh tỉnh Vĩnh Long phản ánh lớp văn hóa phong kiến
dưới thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn
3.2.2.1. Địa danh tỉnh Vĩnh Long phản ánh các đơn vị hành chính
đương thời: Dưới thời Nguyễn, địa danh cấp tỉnh Vĩnh Long được gọi là
dinh/trấn. Dưới dinh/trấn là phủ, huyện, tổng, thôn… Đến giai đoạn
thuộc Pháp, đơn vị hành chính thời Nguyễn bị thực dân bãi bỏ. Ngày
nay, các đơn vị hành chính xưa gắn với tên gọi địa danh tỉnh Vĩnh Long
chỉ còn được lưu giữ qua các địa danh mang thành tố dinh, thôn gợi nhớ
về một vùng văn hóa trung tâm của khu vực.
3.2.2.2. Địa danh tỉnh Vĩnh Long giải mã được cơ cấu bộ máy
quan lại thời Nguyễn: Nhìn chung, trải qua các triều đại phong kiến,
mối quan hệ của nhân dân đối với triều đình là mối quan hệ của kẻ bề tôi
đối với bậc quân quyền. Vì vậy, xét trong địa danh tỉnh Vĩnh Long,
chúng tôi nhận thấy các chức quan cấp trung ương đi vào địa danh rất ít
có lẽ đó cũng là hệ quả của tâm lý trên, so với các chức danh được phản
ánh qua địa danh trong bộ máy tổ chức hành chính ở nông thôn. Đi liền
với việc khởi xướng và đề ra thiết chế quản lý văn hóa đình làng nói trên,
trải qua các triều đại phong kiến, triều đình nhà Nguyễn còn tiến hành
ban sắc phong Thành Hoàng bổn cảnh cho các ngôi đình. Nhiều ngôi

thành Vĩnh Long tồn tại và địa danh mang thành tố ô.
3.2.3. Địa danh tỉnh Vĩnh Long phản ánh lớp văn hóa thời thuộc
Pháp: Kể từ khi sáu tỉnh NK lần lượt rơi vào tay thực dân Pháp, chúng
đã bắt đầu thực hiện việc thay đổi tên gọi các đơn vị hành chính ở NB,
tiến hành tách, nhập nhiều địa danh. Nhằm chấm dứt sự ảnh hưởng văn
hóa của Trung Hoa ở Việt Nam, thực dân cho truyền bá chữ quốc ngữ,
xóa bỏ nhiều tên gọi viết bằng chữ Hán, thay vào đó, chúng sử dụng
nhiều tên Nôm dân gian. Sau một thời gian, người Pháp nhận thấy sự bất
ổn và muốn lợi dụng hệ tư tưởng Nho giáo để duy trì ở nước ta những tàn
dư phong kiến lạc hậu nên chúng quyết định phát triển trở lại. Cụ thể,
Pháp không chủ trương xóa sổ các địa danh được đặt theo từ Hán Việt,
mặt khác, chúng còn củng cố hệ tư tưởng này qua việc tăng cường đặt địa
danh Hán Việt nhằm xoa dịu các phong trào chống Pháp.
3.2.3.1. Địa danh tỉnh Vĩnh Long phản ánh bộ máy hành chính
cai trị thời thuộc Pháp: Sau khi chiếm được các tỉnh miền TNB, thực
dân cho thành lập Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ (NK) và đề ra cơ cấu tổ
chức bộ máy hành chính cấp tỉnh. Các địa danh trong giai đoạn này chủ
yếu phản ánh chức danh đốc phủ sứ, tri huyện, thông ngôn, thư lại, cai
thuộc, lục sự, biện lý… các phẩm hàm phong cho quan chức NK làm
việc dưới quyền chỉ huy của thực dân Pháp trong quân đội, hệ thống
16


chính quyền làng, xã ở hương thôn. Song song với các chức vụ thời
thuộc Pháp, địa danh tỉnh Vĩnh Long còn ghi lại địa điểm các công trình
xây dựng, cơ quan hành chính đương thời.
3.2.3.2. Địa danh tỉnh Vĩnh Long phản ánh giai đoạn kháng
chiến chống Pháp: Trong giai đoạn này, do tính chất hoạt động bí mật
của cuộc kháng chiến nên các địa danh có liên quan đến căn cứ cách
mạng đương thời hầu như không được người dân truyền miệng. Có

với hàng loạt địa danh mừng ngày đất nước hoàn toàn độc lập ra đời.
Đồng thời, để tôn vinh tập thể, cá nhân có công với đất nước, chính
quyền cách mạng đã ghi danh và phong tặng nhiều xã, gương anh hùng.
Kể từ khi được phong tặng, các địa danh trên bắt đầu có nguồn gốc phái
sinh trong dân gian là những địa danh có truyền thống anh hùng.
TIỂU KẾT
Qua địa danh tỉnh Vĩnh Long, người dân đã tận dụng những tri
thức dân gian, phong tục tập quán… trong việc đặt tên cho địa danh. Đi
liền với không gian văn hóa, địa danh gắn với thời gian văn hóa tỉnh
Vĩnh Long đã tái hiện các sự kiện đương thời cùng đời sống, phong tục
tập quán và cách sử dụng ngôn ngữ cổ xưa của nhân dân lao động qua
từng thời kỳ lịch sử.
CHƯƠNG 4
NHẬN XÉT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH
TỈNH VĨNH LONG QUA GÓC NHÌN VĂN HÓA DÂN GIAN
4.1. Quy luật văn hóa dân gian chi phối địa danh tỉnh Vĩnh Long
Qua khảo sát địa danh tỉnh Vĩnh Long, chúng tôi nhận thấy địa
danh là hiện tượng VHDG. Từ kết quả nghiên cứu về nguồn gốc hình
thành địa danh trong chương 2 và chương 3, chúng tôi rút ra các quy luật
VHDG vùng Tây Nam Bộ chi phối nguồn gốc, tên gọi địa danh tỉnh Vĩnh
Long - là hệ quả của quá trình lưu truyền địa danh bằng con đường
truyền miệng.
4.1.1. Quy luật văn hóa dân gian chi phối cách đặt địa danh
4.1.1.1. Tên gọi địa danh xuất phát từ đời sống văn hóa của địa
phương: Khi đặt tên cho địa danh, người dân tỉnh Vĩnh Long xuất phát
từ đời sống văn hóa ở địa phương. Địa danh mang ngôn ngữ của tộc
người, mang tên các loài thực vật, động vật, sinh hoạt văn hóa, vật chất,
phong tục tập quán… xung quanh mình. Đời sống văn hóa của địa
phương chính là ngân hàng tên gọi địa danh mà người dân dùng để đặt
cho nhiều đối tượng chứ không phải chúng được nhân dân lấy ra từ

danh, nguồn gốc hình thành địa danh cũng phải tuân thủ theo quy luật
này.
4.1.1.5. Quy luật đặt tên địa danh theo tính liên hoàn: Trong dân
gian, một tên gọi địa danh sau khi ra đời thường có khuynh hướng được
dùng để đặt cho nhiều đối tượng khác có khoảng cách địa lý gần nhau.
Có nghĩa là, khi đặt tên cho một vùng đất hoặc một đối tượng địa lý hoặc
một công trình xây dựng…, người dân có khuynh hướng sử dụng tên gọi
địa danh đó để đặt tên cho hàng loạt các đối tượng còn lại, với điều kiện,
chúng có khoảng cách gần nhau giúp họ dễ nhớ và thuận tiện trong việc
nhận diện địa danh. Đặc điểm này làm xuất hiện quy luật đặt tên địa danh
19


theo tính liên hoàn. Thực tế cho thấy, địa danh sông, rạch, vàm, ngọn,
cầu, cống, đập… ở một vùng đất thường có cùng một tên gọi địa danh.
Vì vậy, mỗi địa danh cũng không hẳn là có một nguồn gốc giải thích
riêng... mà đôi khi chúng ra đời trên cơ sở nhân dân đặt tên địa danh theo
tính liên hoàn. Bên cạnh đó, chúng tôi cho rằng loại địa danh đính kèm từ
hai danh pháp địa lý trở lên cũng là hệ quả của quy luật này.
4.1.2. Quy luật chuyển hóa giữa địa danh hành chính và địa danh
dân gian: Thông thường, địa danh dân gian được hình thành một cách tự
phát từ nhân dân trong vùng, đến một thời điểm nhất định, chính quyền
đương thời thành lập đơn vị hành chính, họ có khuynh hướng sử dụng tên
gọi địa danh dân gian phổ biến ở vùng đất đó làm địa danh hành chính.
Ngược lại với xu hướng trên, tất cả địa danh hành chính hầu như đều có
khuynh hướng trở thành địa danh dân gian trong quá trình lưu truyền
hàng ngày của nhân dân. Như vậy, địa danh dân gian và địa danh hành
chính chuyển hóa và bổ sung lẫn nhau. Quá trình chuyển hóa này có thể
diễn ra nhiều lần.
4.1.3. Quy luật hình thành nguồn gốc phái sinh của địa danh

địa danh dân gian và ngược lại. So với hiệu danh là công ty, xí nghiệp,
trường học… thì các cơ sở thờ tự tôn giáo, tín ngưỡng dễ hình thành nên
địa danh. Nguyên do vì các cơ sở thờ tự thường là nơi sinh hoạt cộng
đồng nên nhân dân dễ nhận diện, chúng đáp ứng được tiêu chí dễ nhớ
trong quá trình đặt địa danh. Trong mối quan hệ với nhân danh, dân gian
thường lấy tên nhân danh để đặt cho địa danh. Ngược lại, địa danh ít có
sự tác động đến nhân danh.
4.2. Tiểu vùng văn hóa tỉnh Vĩnh Long trong mối quan hệ với
vùng văn hóa Tây Nam Bộ qua địa danh
4.2.1. Những nét tương đồng: Do có cùng điều kiện tự nhiên, nguồn
gốc tộc người và bối cảnh chính trị nên địa danh tỉnh Vĩnh Long có nhiều
nét tương đồng với địa danh các tỉnh trong khu vực.
4.2.2. Những nét khác biệt: Qua thời gian văn hóa, địa danh tỉnh
Vĩnh Long phản ánh vùng đất này từng là thủ phủ của khu vực miền
TNB chứ không phải là Tp. Cần Thơ cùng một số phản ánh khác biệt.
4.3. Đề xuất các giải pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu địa danh
tỉnh Vĩnh Long qua góc nhìn văn hóa dân gian
Trên cơ sở xác định địa danh là các giá trị văn hóa truyền thống của
dân tộc, chúng tôi đề xuất giải pháp bảo tồn địa danh trong quá trình thực
hiện Nghị định 91/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế đặt tên, đổi tên
21


đường, phố và công trình công cộng, địa phương cần bổ sung các tiêu chí
về tên gọi địa danh có nguồn gốc dân gian và sửa đổi, bổ sung mở rộng
phạm vi thực hiện đến các vùng nông thôn; đồng thời có các giải pháp
đáp ứng công tác xây dựng cơ sở hạ tầng trong Chương trình nông thôn
mới, bổ sung tiêu chí trong Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới. Đẩy
mạnh các vấn đề trên, chúng ta sẽ góp phần hỗ trợ việc thực hiện mục
tiêu bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa

học Việt Nam. Có thể kết luận rằng, chỉ khi đặt địa danh dưới góc nhìn
VHDG thì bản chất của địa danh mới được xem xét một cách toàn diện.
So sánh địa danh tỉnh Vĩnh Long trong mối quan hệ với địa danh vùng
TNB, chúng tôi nhận thấy chúng có khá nhiều nét tương đồng và khác
biệt. Trên cơ sở đó, chúng tôi đã đề xuất các giải pháp bảo tồn, phát huy
VHDG có trong địa danh ở tỉnh Vĩnh Long nói riêng, TNB nói chung
nhằm kịp thời giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống trước bối cảnh
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận: Về mặt lý luận, chúng tôi đã khái quát được các vấn đề
cơ bản của địa danh và VHDG. Bằng lý thuyết vùng văn hóa, chúng tôi
đã tiếp cận địa danh bằng một bức tranh tổng thể, có hệ thống và đề xuất
mới hệ phương pháp nghiên cứu địa danh để giải mã địa danh tỉnh Vĩnh
Long dựa trên bộ ba tiêu chí chủ thể, không gian, thời gian văn hóa. Với
hệ thống lý luận này, chúng tôi từng bước giải mã các địa danh hiện hữu
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long và kết nối chúng lại với nhau, khắc phục
được một số lổ hổng trong nghiên cứu địa danh học khi phần lớn các nhà
nghiên cứu lý giải địa danh của một vùng đất còn khá rời rạc... Kết quả
nghiên cứu vừa giải thích được nguồn gốc, thời điểm hình thành địa danh
lại vừa tạo được sự liên kết tất cả các địa danh của một vùng đất, đưa địa
danh thành những trang sử dưới dạng nguồn tư liệu viết về đời sống
VHDG phát triển theo diễn trình lịch sử văn hóa của dân tộc. Đặc biệt,
trong phần hệ thống lý luận, chúng tôi cũng góp phần phát hiện nguồn
gốc phái sinh của địa danh mang tính dân gian hóa mạnh mẽ, nhận diện
được các địa danh hành chính có nguồn gốc dân gian, đồng thời chúng
tôi còn khái quát được một số quy luật VHDG chi phối cách đặt tên địa
danh. Qua đó, luận án cũng phần nào đề xuất được hướng tiếp cận tương
đối mới trong khoa học nghiên cứu về địa danh dưới góc nhìn văn hóa.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status