NGHI LỄ VÒNG ĐỜI NGƯỜI ÊĐÊ MDHUR Ở HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊ - Pdf 43

Header Page 1 of 137.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG
------o0o------

NGUYỄN THỊ NHƢ NGÂN

NGHI LỄ VÕNG ĐỜI NGƢỜI ÊĐÊ MDHUR Ở
HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - THÁNG 12 NĂM 2016

Footer Page 1 of 137.


Header Page 2 of 137.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG
------o0o------

NGUYỄN THỊ NHƢ NGÂN

NGHI LỄ VÕNG ĐỜI NGƢỜI ÊĐÊ MDHUR Ở
HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ



TRƢỞNG NGÀNH

PGS.TS. PHAN AN

Footer Page 3 of 137.


Header Page 4 of 137.

LỜI CẢM ƠN


Trong quá trình thực hiện luận văn, ngoài những nỗ lực của bản thân và sự
giúp đỡ của gia đình, tôi xin hết lòng biết ơn đến Quý Thầy Cô giảng dạy chương trình
đào tạo Cao học Việt Nam học đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu
cho bản thân tôi.
Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ân sư đáng kính TS. Nguyễn Đệ,
người Thầy đã tận tâm, tận tình hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt cho tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Viện Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học
Quốc tế Hồng Bàng, các cơ quan chức năng và hành chính tại huyện Sông Hinh:
Huyện Ủy, Ủy ban Nhân dân, Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận, Phòng Văn hóa – Thông
tin đã cung cấp tư liệu và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tìm hiểu thực tế tại
địa bàn nghiên cứu.
Trân trọng cảm ơn.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2016

Nguyễn Thị Như Ngân

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn …………………..………………………... 06
5.1. Ý nghĩa khoa học …………………..……………………………. 06
5.2. Ý nghĩa thực tiễn ……………......……………………………….. 06
6. Giả thuyết nghiên cứu ………………………………………………..…… 07
7. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………...………... 07
8. Bố cục của luận văn ………………………………………...……………... 08
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƢỜI ÊĐÊ MDHUR Ở
HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÖ YÊN ………………………………………… 09
1.1. Lý thuyết nghiên cứu và một số khái niệm công cụ ……………………. 09
1.1.1. Lý thuyết nghiên cứu …………………………………………... 09
1.1.2. Khái niệm nghi lễ …………………...………………………..... 10
1.1.3. Khái niệm nghi lễ vòng đời …...……………………………….. 11
1.2. Tổng quan về người Êđê Mdhur ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên ...…. 12
Footer Page 6 of 137.


Header Page 7 of 137.

1.2.1. Khái quát về huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên …………...……. 12
1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên …………………………………...……… 12
1.2.1.2. Lược sử hình thành ………...……………………..………….. 14
1.2.1.3. Đặc điểm văn hóa ...…………………...……..………………. 15
1.2.1.4. Tiền năng du lịch ……………………….……..………..……. 16
1.2.2. Người Êđê Mdhur ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên..….…….. 16
1.2.2.1. Khái quát và sự phân bố cư trú ………….……………..……. 16
1.2.2.2. Văn hóa tổ chức đời sống ……..…………………..…………. 19
1.2.2.3. Văn hóa vật thể ..……………………………..………………. 21
1.2.2.4. Văn hóa phi vật thể …………..………..…………………….. 26
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ………………………….……..…………………………. 32

Hinh, tỉnh Phú Yên ………………………………………………………………….. 67
3.1.1. Giá trị xã hội ……………………………………………...……. 67
3.1.2. Giá trị đạo đức ………………………………………...……….. 69
3.1.3. Giá trị nghệ thuật ………………………………...…………….. 71
3.2. Những yếu tố tác động đến nghi lễ vòng đời của người Êđê Mdhur ở huyện
Sông Hinh, tỉnh Phú Yên ………………………………………...…………..……... 75
3.2.1. Về kinh tế …………………………….………………………... 75
3.2.2. Về xã hội – văn hóa ……………...…………………………….. 76
3.2.3. Về chính sách và pháp luật …...………………………………... 77
3.3. Những yếu tố biến đổi đến nghi lễ vòng đời của người Êđê Mdhur ở huyện
Sông Hinh, tỉnh Phú Yên ………………………………………………………..…... 79
3.4. Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của nghi lễ vòng đời của người Êđê
Mdhur ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên …………………………………………... 84
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ………………………………...…………………………. 88
KẾT LUẬN ………………………………………………...………………………. 89

Footer Page 8 of 137.


Header Page 9 of 137.

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC
GIẢ .............................................................................................................................. 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………...…………………….. 93
PHỤ LỤC

Footer Page 9 of 137.


Header Page 10 of 137.


Header Page 12 of 137.

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Người Êđê là một trong số 54 dân tộc trên đất nước Việt Nam được chia thành
nhiều nhóm với các tên gọi khác nhau: Đê Kpa, Krung, Blô, Êpa, Bih, Mdhur,... mà
các nhà dân tộc học khằng định đó là những nhóm địa phương khác nhau của một tộc
người thống nhất, có cùng một cơ tầng văn hóa, một ý thức cội nguồn, cùng một tiếng
nói – thuộc ngữ hệ Nam đảo, cùng hệ với tiếng Gia Rai sở hữu cho mình một nền văn
minh vô cùng phát triển. Ngoài các di sản văn hóa vật thể người Êđê còn đang lưu giữ
một kho tàng văn hóa phi vật thể quý báu, nổi lên trong đó là nghi lễ vòng đời.
Nghi lễ vòng đời của người Êđê là một phong tục truyền thống dân tộc, nó được
diễn ra quanh năm trong các buôn của người đồng bào Êđê. Nghi lễ vòng đời được tổ
chức theo thời gian không nhất định, liên tục mà nó kéo dài theo từng quãng thời gian,
có nghĩa là nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế của gia đình để lo được tổ chức
cúng, phạm vi ảnh hưởng rộng trong cộng đồng buôn người Êđê.
Nghi lễ vòng đời không đơn thuần là các nghi lễ đánh dấu sự phát triển theo
giai đoạn của đời người mà còn chứa đựng cả đời sống tâm linh, tâm hồn, tình cảm của
một tộc người. Nó như một sợi dây vô hình gắn kết các cá nhân với cộng đồng, giữa
thế giới với những người đang sống với nhau và cả những người đã chết. Chính vì vậy,
nghi lễ vòng đời cần phải bảo tồn và phát huy nhưng trong giai đoạn hiện nay, cũng
như các dân tộc khác, nghi lễ vòng đời người Êđê Mdhur đang nhanh chóng bị biến
đổi mà mai một, cần phải nghiên cứu và bảo tồn. Việc sưu tầm, nghiên cứu về lễ hội
dân gian người Êđê nói chung và nghi lễ vòng đời nói riêng đã có từ lâu, tuy nhiên với
việc sưu tầm, nghiên cứu về lễ hội dân gian của từng nhóm người – nhất là nghi lễ
nghi lễ vòng đời người thì còn hiếm hoi.
Là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Sông Hinh hơn 20 năm, qua
lời kể của cha mẹ, ông bà và từng chứng kiến sự thay đổi về văn hóa, con người, kinh
tế, chính trị,... Chúng tôi không khỏi suy nghĩ. Chính vì thế, Chúng tôi mạnh dạn lựa

nay không nhiều. Có thể kể lên đây một số công trình mà chúng tôi đã được tiếp cận
nghiên cứu sau đây.
3.1. Nghiên cứu chung về ngƣời Êđê
Người Êđê là một trong số 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, cũng các
dân tộc khác, người Êđê đã trở thành đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà
nghiên cứu trên các phương diện như: đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội. Trong “Phủ
biên tạp luc” của Lê Qúy Đôn có nhắc đến cư dân nước Nam – Bàn, trong đó có người
Êđê.

2
Footer Page 13 of 137.


Header Page 14 of 137.

Năm 1937, hai tác giả Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi xuất bản tác
phẩm “Mọi KonTum”, trong đó người Êđê được mô tả khá toàn diện.
Trong những năm nước nhà còn chưa thống nhất. Tại miền Bắc đã có một số
công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian Êđê cũng đã được xuất bản như: Trường ca
Đam San, Trường ca Khinh Dú, Trường ca Xinh Nhã và một số tập truyền cổ tích, thơ
ca dân gian,… Sau năm 1975, các nhà dân tộc học Việt Nam đã tiến hành nhiều đợt
khảo sát ở khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên bao gồm cả khu vực có người Êđê cư
trú. Do vậy đã có nhiều công tình được xuất bản tiêu biểu như:
“Đại cương về dân tộc Ê-đê, M’nông ở Đăk Lăk” (1982) của Bế Viết Đẳng,
Chu Thái Sơn, Vũ Thị Hồng, Vũ Đình Lợi. Công trình này đã nêu lên những vấn đề
chung nhất về đời sống của hai dân tộc Êđê và M’nông trên các phương diện như:
thiên nhiên và dân cư, kinh tế và xã hội. Ở phần thứ 3 (chương 1) tác giả Chu Thái
Sơn có đề cập đến văn hóa vật chất của người Êđê. Trong Chương 3 từ trang 167 cho
đến trang 164, tác giả Vũ Đình Lợi đề cập đến những nghi lễ - phong tục trong chu kỳ
đời sống của người Êđê nhưng chỉ trong phạm vi sơ lược, có giới hạn, mang tính gợi

Bên cạnh đó, còn khá nhiều công trình nghiên cứu về người Êđê được đăng trên
các tạp chí, nhất là tạp chí Dân tộc học như: Ngôi nhà dài hiện nay của người Êđê của
Chu Thái Sơn, tạp chí Dân tộc học số 2 - 1979 ; Dân tộc Êđê – một cái nhìn từ văn hóa
vật chất của Chu Thái Sơn, tạp chí dân tộc học số 3 - 1992; Bàn về lịch sử tộc người
và đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa cư dân Tây Nguyên của Đặng Nghiêm Vạn tạp chí
Dân tộc học số 3 - 1980; Mấy nhận xét về hôn nhân và gia đình của người Êđê của
Nông Hoàng Cư, tạp chí Dân tộc học số 3 - 1980; Qúa trình phân rã của tổ chức nhà
dài Êđê của Nguyễn Thị Hòa, tạp chí Dân tộc học số 2 - 1990; Dấu vết bào tộc của
người Ê đê của Phan Hữu Dật, tạp chí Dân tộc học số 5 – 2002; Ngữ nghĩa của hệ
thống biểu tượng trong nghi lễ Êđê, của Phan Đăng Nhật, tạp chí Dân tộc học số 2 –
2004;…
3.2. Nghiên cứu về ngƣời Êđê Mdhur
Là một tộc người cư trú ở phía Đông của dãy Trường Sơn, khu vực có số lượng
dân cư không nhiều, vì thế người Êđê Mdhur ở Phú Yên ít được các nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu.
Cho đến nay, còn khá hiếm các công trình nghiên cứu về người Êđê Mdhur ở
Phú Yên. Trong công trình “La province de Phu Yen” của A.Laborde (1929) có nhắc
đến nhóm cư dân sinh sống ở vùng cao Phú Yên, ông cho biết: “Những người thượng
sinh sống ở vùng cao Phú Yên là người Đê, họ không thuộc tộc người Djarai mà thuộc
tộc người Rhadé”. Công trình của ông đã đặt cột mốc và tạo cơ sở bước đầu để các nhà
nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu về người Êđê ở Phú Yên nói chung và người Êđê
Mdhur ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên nói riêng.

4
Footer Page 15 of 137.


Header Page 16 of 137.

Một số tác phẩm nghiên cứu đã đi vào nghiên cứu đời sống, văn hóa, ngôn ngữ,

Qua quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham mưu cho các cơ
quan chức năng có kế hoạch bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và là

6
Footer Page 17 of 137.


Header Page 18 of 137.

nguồn tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm, muốn tìm hiểu về văn hóa các dân
tộc cụ thể là văn hóa của người Êđê Mdhur ở Phú Yên.
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Các giá trị văn hóa truyền thống của nghi lễ vòng đời của người Êđê Mdhur
vẫn chưa được nhận thức đầy đủ và toàn diện.
- Có những yếu tố nào tác động đến sự biến đổi nghi lễ vòng đời của người Êđê
Mdhur ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
- Việc tiếp nhận, phát huy, bảo tồn nghi lễ vòng đời của người Êđê Mdhur ở
huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên là yêu cầu cần thiết nhưng hiện nay vẫn còn nhiều hạn
chế, chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu nào về nghi lễ vòng đời của người Êđê
Mdhur ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên từ các nhà nghiên cứu, các cơ quan chức
năng.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp: phương pháp luận,
phương pháp tiếp cận liên ngành, phương pháp điền dã dân tộc học, phương pháp quan
sát, phương pháp phỏng vấn sâu, phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê –
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, về giữ gìn, phát huy và bảo tồn bản sắc dân tộc.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành:

đến đề tài, khung lý thuyết tiếp cận nghiên cứu, tổng quan về người Êđê Mdhur và
huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
Chương 2: Nghi lễ vòng đời của người Êđê Mdhur ở huyện Sông Hinh, tỉnh
Phú Yên hiện nay. Chương này trình bày các quy trình của các nghi lễ vòng đời của
người Êđê Mdhur ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên hiện nay.
Chương 3: Những giá trị văn hóa và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa nghi lễ
vòng đời của người Êđê Mdhur ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên. Từ những cơ sở ở
chương 2, trong chương 3 này người viết đi sâu vào những yếu tố giá trị văn hóa,
những yếu tố tác động và biến đổi đến nghi lễ vòng đời của người Êđê Mdhur ở huyện
Sông Hinh, tỉnh Phú Yên từ đó đưa ra một số giải pháp để bảo tồn, phát huy các giá trị


8
Footer Page 19 of 137.


Header Page 20 of 137.

CHƢƠNG 1
CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NGƢỜI ÊĐÊ MDHUR Ở
HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÖ YÊN

1.1. Lý thuyết nghiên cứu và một số khái niệm công cụ
1.1.1. Lý thuyết nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi căn cứ vào những lý thuyết:
- Lý thuyết nghi lễ tăng cường sức mạnh: Nghi lễ tăng cường sức mạnh của
cộng đồng là những lễ hội có sự tham gia của toàn thể cộng đồng cư dân cùng chia sẻ
một tâm thức tôn giáo, trong đó các nghi lễ, lễ hội thể hiện sự cộng cảm, là chất “keo”
gắn kết, đoàn kết cộng đồng, biểu trưng đời sống tâm linh, xã hội và văn hóa, mang
tính thống nhất, cộng cảm của cả cộng đồng.

Là một hoạt động xã hội lặp đi lặp lại gồm một loạt các động tác có tính chất biểu
tượng dưới dạng múa, ca hát, lời nói, điệu bộ, thao tác trên một số các đồ vật gì đó. 2)
Nghi lễ tách riêng khỏi các hoạt động thường ngày trong xã hội. 3) Nghi lễ theo đúng
một mô hình nhất định do văn hóa đặt ra. 4) Hoạt động nghi lễ thường liên quan chặt
chẽ tới một số tư tưởng thường xuất hiện trong huyền thoại. Đồng thời, nghi lễ tạo
hành động, tức là buộc phải áp dụng một loạt các động tác, lời nói, thủ tục nối tiếp
nhau, hay nói cách khác là phải thực hiện theo một kịch bản có trước được truyền lại
từ người này qua người khác, thế hệ trước tới thế hệ sau [11, tr.222 – 232].
Công trình Nhân học đại cương của khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh công bố năm 2008,
cho rằng: Nghi lễ trong một phạm vi nào đó cũng như phong tục tập quán, là quy ước
lặp đi lặp lại thành một thói quen, ăn sâu thành nếp vào tâm thức tôn giáo, vào đời
sống xã hội – văn hóa, trong sản xuất và sinh hoạt của cá nhân hoặc cả cộng đồng,
được mọi thành viên trong cộng đồng thừa nhận và cùng làm theo. Các tập tục này tạo
nên sự bền vững của cộng đồng. Bên cạnh đó, ở mỗi tộc người, mỗi dân tộc, các nghi
lễ không giống nhau kể cả với một nghi lễ, điều đó phản ánh sự đa dạng trong tâm
thức của mỗi tộc người với thế giới bên ngoài [20, tr.173].
Theo GS. Đặng Nghiêm Vạn, nghi lễ tôn giáo được thực hành thường gắn liền
với một thực thể siêu linh hay một thế giới vô hình nào đó liên quan đến niềm tin tôn
giáo hoặc do tôn giáo quy định. Nghi lễ có thể dùng giải tỏa những nổi bất an của con

10
Footer Page 21 of 137.


Header Page 22 of 137.

người ở cuộc sống trần tục, cũng có thể đưa con người đến gần hơn với thế lực siêu
nhiên mà họ tin tưởng [32, tr.130].
Còn Nguyễn Văn Minh cho rằng, nghi lễ dù dưới dạng thô mộc thời nguyên


Header Page 23 of 137.

nhiên ngoài ta (ngoài con người) thì những nghi lễ vòng đời là sự ứng xử với cái tự
nhiên trong ta (trong con người) [23, tr. 23].
A.V. Gennep, tác giả cuốn Nghi lễ của sự chuyển tiếp, một cuốn sách kinh điển
về nghi lễ tuân thủ theo chu kỳ đời người, phân tích khá sâu sắc những nghi lễ liên
quan đến những thời kỳ chuyển tiếp, có tính quyết định đời sống xã hội của một con
người. Ông đã khái quát một cách đầy đủ và khoa học về nghi lễ vòng đời người, trong
đó ông phân biệt tầm quan trọng của 3 giai đoạn: sinh, trưởng thành và tử. Các nhà
khoa học đánh giá cao về cơ sở lý thuyết mang tính khái quát của A.V. Gennep, bởi vì
nó phù hợp với quan niệm và mục đích ý nghĩa của các nghi thức chuyển trong một
đời người của các dân tộc, các tôn giáo. Trong mỗi giai đoạn lớn, A.V. Gennep lại chia
ra 3 giai đoạn nhỏ khác nhau: mỗi giai đoạn có 3 thời kỳ, tách biệt với thời kỳ trước,
bước đầu hội nhập và hội nhập vào thời kỳ tiếp sau. 1.Sinh: chửa, đẻ và tuổi sơ sinh,
tuổi thiếu niên; 2.Trưởng thành: tuổi thiếu niên, lễ thành đinh và hôn nhân, tuổi con
người cộng đồng; 3.Tử: lên lão, sự chết đi đối với tang ma và cuộc sống ở thế giới bên
kia [12].
Như vậy, có thể hiểu nghi lễ vòng đời người được xác định là những nghi lễ
xuyên suốt trong quá trình đời người từ lúc sinh ra cho đến lúc qua đời, đó là các giai
đoạn như: sinh nở, thời thơ ấu, tuổi dậy thì, hôn nhân, về già và qua đời. Mỗi giai đoạn
đều chứa đựng những nhân tố, những giá trị văn hóa.
1.2. Tổng quan về ngƣời Êđê Mdhur ở huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên
1.2.1. Khái quát về huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên
1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Sông Hinh là một huyện miền núi nằm phía Tây Nam của tỉnh Phú Yên, có tọa
độ địa lý từ 12045' đến 13006' độ vĩ Bắc và 108040' đến 1090 07' độ kinh Đông.
+ Phía Đông giáp huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
+ Phía Tây giáp huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
+ Phía Nam giáp huyện M’Đrắc, tỉnh Đắk Lắk.

lưu của hệ thống các con sông, suối lớn chảy qua phía Nam tỉnh Phú Yên có ý nghĩa
quan trọng về phòng hộ, dự trữ nguồn nước, giảm các tác động của thiên tai và bảo vệ
môi trường sinh thái.
-Về tài nguyên khí hậu, đất đai: Sông Hinh nằm trong vùng có lượng mưa lớn
nhất của tỉnh (2.200-2.600 mm/năm), số ngày mưa trung bình 120-130 ngày/năm,
nhiệt độ trung bình trong năm 24,9 độ C thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi
phát triển.
Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho huyện Sông Hinh
đó là tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản:

13
Footer Page 24 of 137.


Header Page 25 of 137.

+Tài nguyên đất: toàn huyện có diện tích tự nhiên là 88.664 ha, trong đó đất
nông nghiệp 28.026 ha, đất lâm nghiệp 40.129ha, đất phi nông nghiệp 14.531 và đất
chưa sử dụng 5.920 ha. Những nhóm đất chủ yếu là đất xám, đất đỏ vàng, đất phù sa,
đất đen,... Với tài nguyên đất phong phú và đa dạng phù hợp nhiều loại cây trồng khác
nhau.
+Tài nguyên rừng: Sông Hinh là huyện miền núi với tài nguyên rừng phong phú
và đa dạng, có nhiều loại gỗ và động vật rừng thuộc vào loại quý hiếm. Sông Hinh có
thế mạnh về lâm nghiệp sẽ đáp ứng nhu cầu nguyên liệu phục vụ phát triển ngành
công nghiệp sản xuất bột giấy, công nghiệp chế biến gỗ và ngoài ra tài nguyên rừng là
một thế mạnh để khai thác du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học. Hàng năm toàn
huyện trồng mới 600 ha, nâng tổng số rừng trồng tập trung trên toàn huyện lên 5.134
ha, nâng độ che phủ rừng đạt 41,63%. Diện tích đất lâm nghiệp 40.129 ha, chiếm
45,26% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, trong đó rừng phòng hộ 24.189 ha chiếm
60,28% tổng diện tích đất lâm nghiệp, rừng sản xuất chiếm 15.940 ha, chiếm 39,72%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status