Về sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam (tt) - Pdf 43

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN VĂN SƠN

VỀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA
QUAN HỆ SẢN XUẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Mã số: 62 22 03 02

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS.Trần Ngọc Linh
2. PGS.TS. Vũ Hồng Sơn

Phản biện 1:.........................................................
..........................................................

Phản biện 2:.........................................................
..........................................................

Phản biện 3:.........................................................
..........................................................


mẽ. Chính vì vậy, việc nghiên cứu điều chỉnh quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa để
thúc đẩy sản xuất phát triển làm cho nước ta hòa nhập với xu thế của thời đại là hết
sức cần thiết.
Trong thời quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, còn tồn tại nhiều loại quan
hệ sản xuất khác nhau như: quan hệ sản xuất tiền tư bản chủ nghĩa, quan hệ sản xuất
tư bản chủ nghĩa, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa… trong đó, quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa ở nước ta luôn được xác định đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân. Cùng với quá trình đổi mới đất nước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
cũng không ngừng được đổi mới, hoàn thiện. Đảng khẳng định xây dựng, hoàn thiện
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển.
Việc xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ ở nước
ta rất cần thiết song cũng rất khó khăn, phức tạp, vì đây là con đường đi chưa có tiền
lệ, vừa phải xây dựng, vừa phải tìm tòi thử nghiệm. Do đó, qua mỗi thời kỳ, mỗi giai
đoạn, phải điều chỉnh quan hệ sản xuất để thúc đẩy sản xuất phát triển và giữ vững
định hướng xã hội chủ nghĩa. Muốn thực hiện được điều này cần phải nghiên cứu sự


2
biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ khi được hình thành đến nay, nhất
là thời kỳ đổi mới.
Chính vì những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài: “Về sự biến đổi của quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa trong trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam” để nghiên cứu.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu của luận án
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa ở nước ta, luận án góp phần đưa ra một số phương hướng, giải pháp
chủ yếu nhằm phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực của
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, để thúc đẩy sản xuất phát triển.
2.2. Nhiệm vụ của luận án

thể từ 1986 đến nay.
Trong kinh tế nhà nước, luận án không nghiên cứu toàn bộ thành phần kinh tế
này, mà đi sâu vào nghiên cứu, khảo sát về các doanh nghiệp nhà nước, bộ phận
nòng cốt của kinh tế nhà nước. Trong thành phần kinh tế tập thể luận án tập trung
khảo sát các hợp tác xã bộ phận trụ cột của kinh tế tập thể, để từ đó góp phần đưa ra
một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi
tiêu cực của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.
5. Những điểm mới của luận án
Luận án nghiên cứu tổng hợp những nhân tố tác động đến sự biến đổi của
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.
Luận án nghiên cứu vai trò của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời
kỳ đổi mới ở nước ta.
Luận án làm rõ thực trạng sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam.
Luận án góp phần phân tích những vấn đề còn tồn tại của quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Luận án bước đầu đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm
phát huy những biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực của quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của quan hệ sản xuất nói
chung và vai trò của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam nói riêng trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng
dạy và những người quan tâm.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những quan điểm và giải pháp được luận án đề xuất có thể gợi mở cho các cơ
quan quản lý, những người lãnh đạo có những điều chỉnh phù hợp để phát huy
những biến đổi tích cực, hạn chế những tác biến đổi cực của quan hệ sản xuất xã hội

và kinh tế tập thể trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam” của tác giả Chử Văn Lâm (chủ biên), “Xây dựng quan hệ sản xuất định
hướng xã hội chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội ở Việt Nam” của tác
giả Lương Xuân Quỳ.
Về mặt cơ bản thứ hai của quan hệ sản xuất - quan hệ giữa người với người
trong tổ chức, quản lý sản xuất - cũng là đề tài nghiên cứu của nhiều công trình
nghiên cứu, điển hình là các công trình sau:
Phú Giang với bài Đổi mới quản lý, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
nhằm nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động,Võ Đại Lược Kinh tế Việt
Nam lý luận và thực tiễn, Nguyễn Cảnh Nam Quản lý doanh nghiệp nhà nước - Bất
cập và đề xuất đổi mới, Nguyễn Thành Nam với bài Phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao: kinh nghiệm từ Viettel, Phạm Quang Trung với cuốn sách Mô hình tập
đoàn nhà nước ở Việt Nam đến năm 2020…
Quan hệ giữa người với người trong việc phân phối sản phẩm cũng là một
trong những mặt cơ bản của quan hệ sản xuất. Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu,
sưu tầm tài liệu, chúng tôi nhận thấy không có nhiều công trình nghiên cứu chuyên


5
sâu về vấn đề này. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu mà chúng tôi đã tiếp
cận, tìm hiểu. Lý luận chung về phân phối của chủ nghĩa xã hội, của Lý Bân người
Trung Quốc. “Vấn đề phân phối sản phẩm trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Đức Luận.
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC
TRẠNG SỰ BIẾN ĐỔI CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình, bài viết nói về thực trạng biến
đổi về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở các góc độ và khía cạnh khác nhau. Sau
đây là những công trình tiêu biểu.


6
“Doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa” của tập thể các tác giả thuộc Hội đồng khoa học các cơ quan Trung ương
Đảng. “Đổi mới nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm vai trò chủ
đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
của Tạ Ngọc Tấn và Lê Quốc Lý làm chủ biên, xuất bản năm 2012. “Phát triển kinh
tế tập thể trong 30 năm đổi mới ở Việt Nam” của Vũ Kim Cự. “Tư tưởng hợp tác xã
kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” của Vụ Hợp tác thuộc bộ Kế hoạch và
Đầu tư.
1.4. KHÁI QUÁT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH
KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT

1.4.1. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công
bố liên quan đến đề tài
Sau khi khảo sát những nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến những nội
dung mà luận án triển khai, tác giả nhận thấy rằng: các công trình đã đề cập đến:
Thứ nhất, các công trình đã nghiên cứu lý luận về quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa trên các phương diện như:
- Nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin về sở hữu và sự vận dụng của
Đảng cộng sản Việt Nam vào sự nghiệp đổi mới. Những công trình nghiên cứu đều
khẳng định sự cần thiết phải phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, để hình thành
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
- Nghiên cứu về mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Về mảng này có các tác giả như: Phùng Hữu Phú, Trần Văn
Phòng, Trương Giang Long… Các tác giả đều khẳng định trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội
nhập, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; trong đó kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là đặc thù của nền

khái quát ở trên, tác giả đưa ra một số vấn đề mà luận án cần tập trung, giải quyết.
Một là, hệ thống hóa lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và một số các Đảng
cộng sản trên thế giới và Đảng công sản Việt Nam về quan hệ sản xuất và quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa
Hai là, nghiên cứu những nhân tố tác động đến sự biến đổi quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong bối cảnh toàn cầu hóa, hợp tác hóa đang diễn ra
mạnh mẽ.
Ba là, nghiên cứu vai trò của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ
đổi mới, định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Bốn là, nghiên cứu thực trạng sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa trong thời kỳ đổi mới.
Năm là, đề ra các phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những
biến đổi tích cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực của quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án,
cho ta thấy rằng; cho đến nay, đã có nhiều các công trình nghiên cứu về quan hệ sản
xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi ở nước ta. Các công
trình nghiên cứu trên nhiều phương diện và cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên,


8
nghiên cứu về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dưới góc độ triết học cũng không
nhiều. Do đó, đề tài tiếp tục kế thừa các kết quả của những người đi trước để vận
dụng vào nghiên cứu về sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời
kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay, để luận giải những vấn đề đang đặt ra dưới góc độ
triết học. Với việc làm này, tác giả tin tưởng rằng, công trình nghiên cứu của mình sẽ
góp phần nhất định trong hệ thống các công trình nghiên cứu về quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa ở nước ta và góp phần làm tài liệu tham khảo cho những người làm
chính sách liên quan đến quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

9
của đời sống kinh tế - xã hội và tạo ra cơ sở hạ tầng của một xã hội cụ thể, để phân
biệt xã hội này với xã hội khác. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản
xuất mầm mống cũng có vai trò nhất định và có sự tác động trở lại quan hệ sản xuất
đóng vai trò chủ đạo.
2.1.1.2. Quan niệm về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa của các nhà kinh
điển Mác - Lênin và một số Đảng cộng sản
* Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Đặc trưng của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa về mặt sở hữu, theo chủ
nghĩa C.Mác là: thủ tiêu chế độ tư hữu, xác lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất
thể hiện bản chất ưu việt, tiến bộ của chủ nghĩa xã hội, tạo ra cơ sở kinh tế để xây
dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, tiến bộ. Đây là một quá trình khó khăn, lâu
dài, phức tạp, không thể ngay lập tức có được.
Về tổ chức, quản lý của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xác lập
trên cơ sở tính tự nguyện, tự giác khác với tổ chức quản lý của chủ nghĩa tư bản
là bóc lột giá trị thặng dư. Quan hệ trong phân phối của quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa, theo chủ nghĩa Mác-Lênin nguyên tắc phân phối theo lao động là
nguyên tắc phân phối cơ bản nhất. Đó là nguyên tắc lao động ngang nhau thì
được hưởng ngang nhau, là nguyên tắc, theo C.Mác, thể hiện sự công bằng trong
chủ nghĩa xã hội.
* Quan niệm của một số Đảng Cộng sản về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Các Đảng Cộng sản trên thế giới có sự nhìn nhận và vận dụng học thuyết của
chủ nghĩa Mác - Lênin một cách khác nhau về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Liên Xô và các nước Đông Âu trước kia cho rằng đó là cơ chế kế hoạch hóa tập
trung, còn Nam Tư cho rằng đó là chế độ tự quản, còn Trung quốc lại cho rằng cả
công hữu và tư hữu đều quan trọng.
* Quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa
Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một loại hình quan hệ sản xuất
dựa trên cơ sở: công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, quan hệ tổ chức quản lý đó là
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với sự đa dạng về hình thức

kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam.
Cơ sở kinh tế trong thời kỳ quá độ được Đảng, Nhà nước xác định trong thời
kỳ đổi mới đó là: phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ
chế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong
nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta có nhiều loại hình quan hệ sản xuất, nhiều
thành phần kinh tế, trong đó Đảng xác định quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải
dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Đây là cơ sở để củng cố và hoàn
thiện kiến trúc thượng tầng ở nước ta
Vai trò của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đối với quá trình phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định vai trò chủ
đạo của kinh tế nhà nước, đồng thời coi việc bảo đảm và phát huy vai trò chủ đạo
của kinh tế Nhà nước là một trong những nội dung cơ bản để giữ vững định hướng
chủ nghĩa xã hội trong nền kinh tế thị trường của nước ta.
2.2. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI CỦA QUAN HỆ
SẢN XUẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

2.2.1. Lực lượng sản xuất
Sự biến đổi của quan hệ sản xuất do nhiều yếu tố tác động trước hết là lực
lượng sản xuất.


11
Khuynh hướng của sản xuất vật chất là không ngừng vận động, biến đổi, phát
triển. Sự biến đổi và phát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát
triển của lực lượng sản xuất. Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết
định và làm thay đổi quan hệ sản xuất phù hợp với nó.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất thì quan hệ sản xuất cùng vận
động, phát triển theo cho phù hợp. Sự phù hợp của quan hệ sản xuất đối với trình độ
của lực lượng sản xuất là một tất yếu khách quan nó do trình độ của lực lượng sản



12
nước buộc chúng ta phải cổ phần hóa, thoái vốn để tái cơ cấu lại doanh nghiệp nhà
nước, từ đó làm cho nguồn vốn sở hữu của nhà nước được thu hẹp lại và việc sử
dụng có hiệu quả hơn.
Về mặt tổ chức quản lý khi tham gia vào toàn cầu hóa với sự liên kết, liên
doanh với doanh nghiệp nước ngoài ta có thể học tập được kinh nghiệm tổ chức,
quản lý của các nước tiên tiến. Mặt khác, do phải cạnh tranh với các công ty xuyên
quốc gia có tiềm lực lớn, chúng ta phải thay đổi về quản lý, hình thành các tổng công
ty, tập đoàn kinh tế nhà nước để tạo ra tiềm lực đủ sức cho cạnh tranh. Do vậy, mô
hình tổ chức, quản lý của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã được thay đổi cho
phù hợp với thực tiễn.
Về mặt phân phối sản phẩm cũng bị ảnh hưởng, bởi vì khi vốn đầu tư nước
ngoài vào nước ta để cạnh tranh, thu hút người lao động, nhân tài họ thường trả
lương cao hơn so với doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, buộc các doanh nghiệp nhà
nước phải tăng lương cho người lao động và làm cho đời sống của người lao động
được nâng lên so với trước đậy. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nước ngoài luôn tính
đến hiệu quả kinh tế vì vậy, họ trả công theo lao động rất đúng và thực chất, qua đó
các doanh nghiệp nhà nước của chúng ta cũng học tập về phân phối theo lao động
tốt hơn nhằm kích thích tính tích cực, sáng tạo của người lao động.
2.2.4. Các quan hệ sản xuất khác
Ở nước ta, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều loại
quan hệ sản xuất khác nhau, nó do trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta quy
định. Do bản chất khác nhau của các quan hệ sản xuất, chúng vừa thống nhất, vừa
mâu thuẫn, xung đột với nhau. Điều đó tác động đến cả hình thái kinh tế - xã hội
trong thời kỳ quá độ.
Các quan hệ sản xuất ở nước ta vừa thống nhất, vừa đối lập, tác động qua lại
lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển tạo ra một cơ sở hạ tầng của thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, dưới sự dẫn dắt, hỗ trợ của quan hệ sản xuất xã hội

Chương 3
THỰC TRẠNG SỰ BIẾN ĐỔI CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT
XÃ HỘI CHỦ NGHĨATRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. THỰC TRẠNG SỰ BIẾN ĐỔI CỦA QUAN HỆ SẢN XUẤT XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

3.1.1. Thực trạng sự biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa thể
hiện ở kinh tế nhà nước
Kinh tế nhà nước theo nghĩa rộng bao gồm hai lĩnh vực chính: các doanh
nghiệp nhà nước và kinh tế nhà nước phi doanh nghiệp như: tài nguyên quốc gia,
các quỹ dự trữ quốc gia, hệ thống ngân hàng nhà nước, bảo hiểm nhà nước… trong
đó, các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò là nòng cốt.
Theo nghĩa hẹp kinh tế nhà nước đồng nghĩa với hệ thống các doanh nghiệp
nhà nước.
Kinh tế nhà nước có sự vận động, biến đổi qua nhiều giai đoạn khác nhau:
* Giai đoạn 1986 - 2001.
Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã có sự đổi mới mang tính bước
ngoặt, được thể hiện tập trung trong Văn kiện Đại hội VI,VII,VIII và các Nghị


14
quyết, văn bản pháp luật khác của Đảng và Nhà nước. Sự đổi mới được thể hiện trên
cả ba mặt của quan hệ sản xuất: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm. Cụ
thể là:
Thứ nhất, về quan hệ sở hữu.
Nền kinh tế với sự đa hóa về sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đã được hình
thành và phát triển. Từ một nền kinh tế chỉ có hai hình thức sở hữu là toàn dân và tập
thể với hai thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, Đến Đại hội IX
chúng ta có 6 thành phần kinh tế là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể

15
vốn đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và tăng cường cạnh tranh, khai thác thị
trường trong và ngoài nước.
Thứ ba, về quan hệ phân phối.
Trong giai đoạn này, cơ chế phân phối bình quân, phân phối theo tem phiếu
và hiện vật dần dần được xóa bỏ. Chúng ta đã chuyển dần sang trả lương bằng tiền
mặt, gắn việc trả lương theo năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế và theo cơ chế
thị trường.
Bên cạnh những sự biến đổi tích cực, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong
kinh tế nhà nước còn có những biến đổi tiêu cực như:
Một là, hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước thấp, theo số liệu thống kê: “tính
đến năm 2000 số doanh nghiệp có lãi thực sự chiếm 40%, số doanh nghiệp bị lỗ
chiếm 20%, còn lại là tình trạng không ổn định, khi lỗ khi lãi và lãi cũng không lớn”.
Hai là, còn ảnh hưởng nặng nề của tư duy bao cấp, theo tác giả Ngô Quang
Minh: “nhà nước phải thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp nhà nước giai đoạn
1997-1999, ngân sách nhà nước đã đầu tư trực tiếp cho doanh nghiệp gần 8000 tỷ
đồng, trong đó 6482 tỷ đồng cấp bổ sung cho doanh nghiệp, 1464 tỷ đồng là bù lỗ,
hỗ trợ các doanh nghiệp. Ngoài ra nhà nước còn miễn giảm thuế 2288 tỷ đồng, xóa
nợ 1088 tỷ đồng, khoanh nợ 3392 tỷ đồng, giãn nợ 540 tỷ đồng, cho vay tín dụng ưu
đãi 8685 tỷ đồng”.
Tổng kết quá trình đổi mới giai đoạn này, Đại hội IX khẳng định: “Quan hệ
sản xuất có mặt chưa phù hợp hạn chế việc giải phóng và phát triển lực lượng sản
xuất. Chưa có chuyển biến đáng kể trong việc đổi mới và phát triển doanh nghiệp
nhà nước”.
* Giai đoạn 2001-2017
Đến Đại hội IX chúng ta đã xác định được mô hình kinh tế tổng quát trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa”. Kinh tế nhà nước tiếp tục được đổi mới để làm tốt vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế.
Một là, về quan hệ sở hữu.

doanh nghiệp nhà nước. Về cơ bản, doanh nghiệp nhà nước đã tập trung vào những
ngành, lĩnh vực then chốt, cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu”.
Như vậy, số doanh nghiệp nhà nước đã giảm đi hơn 8 lần chỉ còn lại các
doanh nghiệp nhà nước lớn đóng vai trò nòng cốt bảo đảm cho điều tiết vĩ mô nền
kinh tế.
Trong giai đoạn này, chúng ta đã tổ chức sắp xếp lại các Tổng công ty 90 và
91 để thành lập 12 Tập đoàn kinh tế. như: Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Xăng dầu,
Tập đoàn Hóa chất, Tập đoàn Than và khoáng sản, Tập đoàn Bưu chính viễn
thông, Tập đoàn Cao su, Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel, Tập đoàn Công
nghiệp xây dựng, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy, Tập đoàn Nhà và đô thị, Tập
đoàn Bảo Việt. Các tập đoàn này đóng vai trò nòng cốt của doanh nghiệp nhà nước
và là cơ sở để nhà nước điều tiết nền kinh tế, tăng cướng sức cạnh tranh với doanh
nghiệp bên ngoài.
Ba là, về quan hệ phân phối.
Trong giai đoạn này chúng ta đã xóa bỏ cơ chế trả lương theo cơ chế kế
hoạch hóa tập trung, thực hiện trả lương, thưởng và các khoản khác theo cơ chế thị
trường. Việc trả lương theo cơ chế thị trường đã kích thích được lợi ích của người
lao động, từ đó giúp cho sản xuất phát triển.


17
Bên cạnh những biến đổi tích cực quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong kinh
tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước còn có những biến đổi tiêu cực được thể hiện:
Thứ nhất, sở hữu nhà nước, doanh nghiệp nhà nước tuy có giảm nhưng vẫn
chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu GDP của cả nước theo số liệu thống:
Kinh tế nhà nước tuy có giảm nhưng vẫn chiếm 28,69% GDP của cả nước, tỷ
lệ này cần giảm xuống từ 15% - 20% để cho các thành phần kinh tế khác phát triển.
Thứ hai, nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, trong đó có các tập đoàn kinh tế,
tổng công ty nhà nước thua lỗ nặng lên đến hàng nghìn tỷ đồng gây bức xúc trong
dư luận như: Tập đoàn Vinaship, tổng công ty hàng hải Vinalie, dự án mở rộng khu

thu hút khoảng 13 triệu xã viên và người lao động các cơ sở sản xuất nhỏ”.
Tuy nhiên, mặc dù kinh tế tập thể có sự tăng trưởng qua các năm theo doanh
thu, nhưng tỷ trọng của kinh tế tập thể còn chiếm tỷ trọng nhỏ bé trong nền kinh tế
quốc dân, chỉ từ 3,99% - 4,04% (từ năm 2010 - 2014), trong khi đó kinh tế cá thể
mặc dù có giảm đi nhưng vẫn chiếm số lượng lớn trong nền kinh tế từ: 32,07% 31,50%. Điều này cho chúng ta thấy; kinh tế tập thể còn chưa thu hút được nhiều hộ
kinh doanh cá thể vào làm ăn tập thể.
3.2. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN QUAN
HỆ SẢN XUẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Thứ nhất: Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa
Thứ hai: Vấn đề hợp tác xã kiểu mới trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa
Thứ ba: Hoàn thiện về cơ chế, chính sách, pháp luật của quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tiểu kết chương 3
Từ khi đổi mới năm 1986 - nay (2017), quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã
có sự biến đổi quan trọng góp phần hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta. Các ngành, lĩnh vực thuộc diện 100% vốn nhà nước hoặc
vốn nhà nước chiếm tỷ trọng khống chế đã được thu hẹp lại tập trung hơn vào các
ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Quá trình cổ phần hóa diễn ra
mạnh mẽ nhằm thu hút các nguồn lực cho doanh nghiệp nhà nước, qua đổi mới sắp
xếp các doanh nghiệp nhà nước số lượng giảm đi nhanh chóng từ 12000 doanh
nghiệp đến năm 2016 chỉ còn 718 doanh nghiệp là những doanh nghiệp lớn hoạt
động trên các ngành, nghề quan trọng đóng vai trò là công cụ để nhà nước điều tiết
vĩ mô nền kinh tế…
Bên cạnh những biến đổi tích cực còn có biến đổi tiêu cực như: tỷ trọng sở
hữu trong doanh nghiệp nhà nước còn lớn trong nền kinh tế, hiệu quả đầu tư thấp,
nhiều doanh nghiệp thua lỗ, mô hình quản trị tập đoàn còn nhiều bất cập.
Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa biểu hiện ở kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác

việc phát huy những biến đổi tích cực của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay bằng biện pháp hoàn thiện cơ chế hoạt động giữa các tổ chức trong hệ
thống chính trị.
Ba là, nâng cao tính hiệu lực của chức năng kiểm tra, giám sát của Đảng và
năng lực điều hành, quản lý của Nhà nước trong việc phát huy những biến đổi tích
cực, hạn chế những biến đổi tiêu cực của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay.
4.1.2. Phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên cơ sở vận dụng
sáng tạo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng
sản xuất
Một là, phát triển sở hữu nhà nước sao cho giảm về số lượng, tăng về
chất lượng, các cơ quan đại diện chủ sở hữu trong doanh nghiệp nhà nước cần


20
quy về một mối để dễ quản lý thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Hai là, xây dựng cơ chế quản lý mới theo kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Trong nền kinh tế các loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế vừa
hợp tác, vừa cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật.
Ba là, thực hiện đa dạng hóa các hình thức phân phối cho phù hợp với trình độ
của lực lượng sản xuất đã phát triển hiện nay.
Bốn là, phải tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, quan trọng của
nền kinh tế nhằm dẫn dắt tạo điều kiện cho các quan hệ khác phát triển và điều
tiết vĩ mô nền kinh tế
Năm là, trong kinh tế tập thể cần phải triệt để tuân thủ nguyên tắc: tự nguyện,
bình đẳng, dân chủ, công khai, minh bạch trong kết nạp các xã viên vào hợp tác xã.
4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT HUY NHỮNG BIẾN ĐỔI
TÍCH CỰC, HẠN CHẾ NHỮNG BIẾN ĐỔI TIÊU CỰC CỦA QUAN HỆ SẢN
XUẤT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Thứ ba, Nhà nước nên phân định rõ chức năng chủ sở hữu và chức năng quản
lý kinh doanh của nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước.
Thứ tư, Nhà nước cần xây dựng đội ngũ quản trị giỏi trong các doanh nghiệp
nhà nước.
* Đối với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa thể hiện ở kinh tế tập thể
- Xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác xã đa dạng với nhiều hình thức từ
thấp đến cao, nòng cốt là các Hợp tác xã kiểu mới.
- Nhà nước tạo điều kiện về mọi mặt và quản lý Hợp tác xã bằng pháp lý, cơ
chế, chính sách; tài chính, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, ứng dụng khoa học công
nghệ... nhằm giúp cho kinh tế hợp tác,
- Tăng cường vai trò, trách nhiệm của tổ chức Liên minh Hợp tác xã, Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, hội, hiệp hội trong phát triển kinh tế Hợp tác xã
4.2.3. Giải pháp về phân phối sản phẩm
* Đối với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa thể hiện ở kinh tế nhà nước
Một là, Doanh nghiệp nhà nước phải triệt để tuân thủ nguyên tắc phân phối
theo lao động, xóa bỏ bao cấp trong doanh nghiệp nhà nước.
Hai là, Nhà nước nên bỏ chế độ kiêm nhiệm, phân phối theo công chức, viên
chức trong doanh nghiệp nhà nước.
Ba là, Doanh nghiệp nhà nước ngoài phân phối theo lao động phải đa dạng
hóa các hình thức phân phối
* Đối với quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa thể hiện ở kinh tế tập thể
- Phân phối thu nhập trong hợp tác xã phải theo mức độ sử dụng sản phẩm,
dịch vụ của các thành viên hợp tác xã.
- Cần phân bổ phân phối theo vốn góp để tạo công bằng trong phân phối thu
nhập và khuyến khích các thành viên góp vốn vào hợp tác xã.


22
4.2.4. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo môi trường pháp lý phù hợp để
phát huy tính năng động của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường định

Đối với kinh tế tập thể cần đẩy mạnh việc chuyển đổi mô hình hợp tác xã trên
cơ sở Luật Hợp tác xã kiểu mới năm 2012 đã ban hành để hợp tác xã hỗ trợ đắc lực


23
cho các hộ kinh doanh cá thể phát triển. Phát triển đang dạng các hình thức liên kết
hợp tác trong kinh tế tập thể tôn trọng nguyên tắc; tự nguyện, bình đẳng, dân chủ...
Việc thực hiện các giải pháp trên đây sẽ góp phần làm cho quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa sẽ phát huy được những biến đổi tích cực, khắc phục những biến
đổi tiêu cực, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển và làm tốt công tác dẫn dắt hỗ trợ
các thành phần kinh tế khác phát triển.
KẾT LUẬN
Quá trình vận động, biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong thời
kỳ đổi mới được mở đầu bằng Đại hội VI của Đảng, cho đến nay đã trải qua 8 kỳ
Đại hội. Sự vận động, biến đổi của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nước ta được
chia làm hai giai đoạn chính:
Giai đoạn đầu đổi mới, trải qua 3 kỳ Đại hội từ năm 1986 đến năm 2001 là
quá trình tìm tòi, thử nghiệm chuyển đổi mô hình nền kinh tế nước ta từ kế hoạch
hóa, tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong giai
đoạn này, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa có sự biến đổi tích cực để thích nghi với
cơ chế mới như: quan hệ sở hữu được đổi mới tập trung hơn vào các ngành, lĩnh vực
trọng yếu trong nền kinh tế, thí điểm cổ phần hóa, giải thể các xí nghiệp thua lỗ…
Quan hệ tổ chức, quản lý được chuyển sang hạch toán xã hội chủ nghĩa và sau đó là
cơ chế thị trường, quán trình tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước được
thực hiện dưới các hình thức: giao, bán, khoán, cho thuê, hình thành các tổng công
ty. Quan hệ phân phối chuyển sang trả bằng tiền thay cho hiện vật, từ bình quân
sang trả theo, lao động và hiệu quả kinh tế. Đối với kinh tế tập thể, chúng ta đã áp
dụng rộng rãi chính sách khoán và ra đời luật hợp tác xã năm 1996.
Giai đoạn từ năm 2001 đến nay, Đây là giai đoạn chúng ta đã xác định được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status