Quyển III
Thánh Tông Hoàng Đế
Tên húy là Nhật Tôn, con trưởng của Thái Tông. Mẹ là Kim Thiên Thái Hậu họ Mai,
khi trước chiêm bao thấy mặt trăng vào bụng rồi có mang, ngày 25 tháng 2 năm Quý
Hợi, Thuận Thiên thứ 14 [1023], sinh vua ở cung Long Đức. Năm Thiên Thành thứ 1
[1028], được sách phong làm Đông Cung Thái Tử. Thái Tông băng, bèn lên ngôi báu, ở
ngôi 17 năm [1054- 1072], thọ 50 tuổi [1023-1072], băng ở điện Hội Tiên.
Vua khéo kế thừa, thực lòng thương dân, trọng việc làm ruộng, thương kẻ bị hình, vỗ về
thu phục người xa, đặt khoa bác sĩ, hậu lễ dưỡng liêm, sửa sang việc văn, phòng bị việc
võ, trong nước yên tĩnh, đáng gọi là bậc vua tốt. Song nhọc sức dân xây tháp Báo Thiên,
phí của dân làm cung Dâm Đàm đó là chỗ kém.
Ất Mùi , Long Thụy Thái Bình năm thứ 2 [1055], (Tống Chí Hòa năm thứ 2). Mùa
xuân, tháng giêng, sửa sang các cung điện trong đại nội.
Tháng 2, lấy ngày sinh nhật làm thánh tiết Thừa Thiên.
Nước Chiêm Thành sang cống.
Mùa đông, tháng 10, đại hàn, vua bảo các quan tả hữu rằng: "Trẫm ở trong cung, sưởi
than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục,
khổ sở về gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn
khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty
phát chăn chiếu, và cấp cơm ăn ngày hai bữa.
Nhà Tống phong cho vua làm Giao chỉ Quận Vương.
Bính Thân, [Long Thụy Thái Bình] năm thứ 3 [1056], (Tống Gia Hựu năm thứ 1). Mùa
xuân, tháng giêng nước Chân Lạp sang cống.
Mùa hạ, tháng 4, xuống chiếu khuyến nông.
Làm chùa Sùng Khánh Báo Thiên, phát 1 vạn 2 nghìn cân đồng để đúc chuông lớn. Vua
thân làm bài minh.
Đinh Dậu, [Long Thụy Thái Bình] năm thứ 4 [1057], (Tống Gia Hựu năm thứ 2). Mùa
xuân, tháng giêng, xây bảo tháp Đại Thắng Tự Thiên cao vài chục trượng, theo kiểu 12
tầng (tức là tháp Báo Thiên).
Sai sứ đem con thú lạ sang biếu nhà Tống nói là con lân. Tư Mã Quang nói: "Nếu là con
lân thực mà đến không phải thời cũng chẳng lấy gì làm điềm tốt, nếu không phải lân, thì
nội nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa, sau đó _ Lan phu nhân có
mang, sinh hoàng tử Càn Đức tức Nhân Tông, (Tục truyền rằng vua cúng khấn cầu tự
chưa thấy hiệu nghiệm, nhân đi chơi khắp các chùa quán, xa giá đi đến đâu, con trai con
gái đổ xô đến xem không ngớt, duy có một người con gái hái dâu cứ nép trong bụi cỏ
lan. Vua trông thấy, gọi đưa vào cung, được vua yêu, phong làm _ Lan phu nhân. Vua
muốn có con trai, sai Bông đem hương cầu đảo ở chùa Thánh Chúa. Nhà sư dậy cho
Bông thuật đầu thai thác hoá. Bông nghe theo. Việc phát giác, đem chém Bông ở trước
cửa chùa. Người sau gọi chỗ ấy là Đồng Bông. Chùa ở xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm,
Đồng Bông ở phía Tây trước cửa chùa, nay hãy còn.
Giáp Thìn, [Chương Thánh Gia Khánh] năm thứ 6 [1064], (Tống Anh Tông Thự, Trị
Bình năm thứ 1). Mùa xuân, tháng giêng sai sứ sang Tống.
Mùa hạ, tháng 4, vua ngự ở điện Thiên Khánh xử kiện. Khi ấy công chúa Động Thiên
đứng hầu bên cạnh, vua chỉ vào công chúa, bảo ngục lại rằng: "Ta yêu con ta cũng như
lòng ta làm cha mẹ dân. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm rất thương
xót, từ nay về sau, không cứ gì tội nặng hay nhẹ đều nhất luật khoan giảm".
Bính Ngọ, [Long Chương Thiên Tự] năm thứ 1 [1066], (Tống Trị Bình năm thứ 3). Mùa
xuân, tháng giêng, ngày 25, giờ Hợi, hoàng tử Càn Đức sinh. Ngày hôm sau, lập làm
hoàng thái tử, đổi niên hiệu, đại xá phong mẹ thái tử là _ Lan phu nhân làm Thần phi.
-- Sử thần Ngô Sĩ Liên nói : thái tử là căn bản của nước, không lập sớm không được.
Kinh Xuân thu chép: "Con là Đồng sinh" ý cũng bởi đó. Vua tuổi đã cao, may mà sinh
hoàng tử, mừng vui bội phần, vội lập làm hoàng thái tử, đại xá thiên hạ, để yên lòng
mong mỏi của muôn dân là phải lắm.--
Mùa thu, tháng 9, sai lang tướng là Quách Mãn xây tháp ở núi Tiên Du.
Lái buôn người nước Trảo Oa dâng ngọc châu dạ quang, trả tiền giá 1 vạn quan.
Đinh Mùi, [Long Chương Thiên Tự] năm thứ 2 [1067], (Tống Trị Bình năm thứ 4). Mùa
xuân, tháng 2, các nước Ngưu Hống, Ai Lao dâng vàng bạc, trầm hương, sừng tê, ngà
voi và các thứ sản vật địa phương.
Nhà Tống gia phong vua làm Khai phủ nghi đồng tam ti, rồi lại gia phong làm Nam
Bình Vương. Cho Viên ngoại lang là Ngụy Trọng Hoà và Đặng Thế Tư làm Đô hộ phủ
sĩ sư, đổi mười người thư gia làm án ngục lại. Cho Trọng Hoà và Thế Tư mỗi người
đến mùa hạ không mưa.
Chiêm Thành sang cống.
Định tiền chuộc tội theo thứ bậc khác nhau.
Mùa đông, tháng 12, vua không khỏe. Xuống chiếu cho Hữu ty ai vào lầm hành lang tả
hữu quan chức đô thì đánh 80 trượng.
Nhâm Tý, [Thần Vũ] năm thứ 4 [1072], (Từ tháng giêng về sau là Nhân Tông, Thái
Ninh năm thứ 1; Tống Hy Ninh năm thứ 5). Mùa xuân, tháng giêng, ngày Canh Dần,
vua băng ở điện Hội Tiên. [Bầy tôi] dâng hiệu là Ứng Thiên Sùng Nhân Chí Đạo Uy
Khánh Long Tường Minh Văn Duệ Vũ Hiếu Đức Thánh Thần Hoàng Đế, miếu hiệu là
Thánh Tông.
-- Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Xót thương vì hình ngục, nhân từ với nhân dân, là việc đầu
tiên của vương chính. Thánh Tông lo tù nhân trong ngục hoặc có kẻ vô tội mà chết vì
đói rét, cấp cho chiếu chăn ăn uống để nuôi sống, lo quan lại giữ việc hình ngục hoặc có
kẻ vì nhà nghèo mà nhận tiền đút lót, cấp thêm cho tiền bổng và thức ăn để nhà được
giàu đủ. Lo dân thiếu ăn thì xuống chiếu khuyến nông, gặp năm đại hạn thì ban lệnh
chẩn cấp người nghèo, trước sau một lòng, đều là thành thực. Huống chi lại tôn sùng
đạo học, định rõ chế độ, văn sự thi hành mau chóng bên trong; phía nam bình Chiêm;
phía bắc đánh Tống, uy vũ biểu dương hiển hách bên ngoài. Tuy có việc lầm lỗi nhỏ
khác cũng vẫn là bậc vua hiền. Hoặc có người bảo là vua nhân nhu có thừa mà cương
đoán không đủ, ngu ý chưa cho là phải.--
Hoàng thái tử Càn Đức lên ngôi trước linh cữu, đổi niên hiệu là Thái Ninh năm thứ 1.
Bấy giờ vua mới 7 tuổi, tôn mẹ đẻ là _ Lan nguyên phi làm Hoàng thái phi, tôn mẹ đích
là Thượng Dương thái hậu họ Dương làm Hoàng thái hậu, buông rem cùng nghe chính
sự, Thái sư Lý Đạo Thành giúp đỡ công việc.
Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 8, vua xem lễ tắm Phật.
Vua bắt đầu ngự điện Thiên An coi chầu. Tha các tù ở phủ Đô hộ.
NHÂN TÔNG HOÀNG ĐẾ
Húy Càn Đức, con trưởng của Thánh Tông, mẹ đẻ là thái hậu Linh Nhân, sinh vua ngày
25 tháng giêng năm Bính Ngọ, Long Chương Thiên Tự thứ 1 [1066], ngày hôm sau lập
hoàng thái tử. Thánh Tông băng, vua lên ngôi hoàng đế, ở ngôi 56 năm [1072 - 1127],
Xuống chiếu cho các công thần 80 tuổi đều được chống gậy ngồi ghế khi vào chầu.
Ất Mão, [ Thái Ninh] năm thứ 4 [1075], (Tống Hy Ninh năm thứ 8). Mùa xuân, tháng 2,
xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng
tuyển, cho vào hầu vua học.
Vương An Thạch nhà Tống cầm quyền, tâu [với vua Tống] rằng nước ta bị Chiêm
Thành đánh phá. Quân còn sót lại không đầy vạn người, có thể dùng kế chiếm lấy được.
Vua Tống sai Thẩm Khởi, và Lưu di làm tri Quế Châu ngầm dấy binh người Man động,
đóng thuyền bè, tập thủy chiến, cấm các châu huyện không được mua bán với nước ta.
Vua biết tin, sai Lý Thường Kiệt, Tông Đản đem hơn 10 vạn binh đi đánh. Quân thủy,
quân bộ đều tiến. Thường Kiệt đánh các châu Khâm, Liêm; Đản vây châu Ưng, Đô
giám Quảng Tây nhà Tống là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu. Thường Kiệt đón
đánh ở cửa ải Côn Lôn (nay là phủ Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây của nhà Minh) phá tan
được, chém Thủ Tiết tại trận. Tri Ưng châu là Tô Giám cố thủ không hàng. Quân ta
đánh đến hơn 40 ngày, chồng bao đất trèo lên thành. Thành bèn bị hạ. Giám cho gia
thuộc 36 người chết trước, chôn xác vào hố, rồi châm lửa tự đốt chết. người trong thành
cảm ân nghĩa của Giám, không một người nào chịu hàng, giết hết hơn 5 vạn 8 nghìn
người, cộng với số người chết ở các châu Khâm, Liêm thì đến hơn 10 vạn. Bọn Thường
Kiệt bắt sống người ba châu ấy đem về. Vua Tống truy tặng Giám là Phụng quốc quân
tiết độ sứ, thụy là Trung Dũng, cho một khu nhà lớn ở kinh thành, 10 khoảnh ruộng tốt
cho thân tộc 7 người làm quan, cho con là Nguyên chức Cáp môn chi hậu.
-- Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Nhà Tống cho Tô Giám thụy là Trung Dũng cũng đủ nêu rõ
sự trung dũng của Lý Thường Kiệt, há có thể xem như hạng Túc Sa đâu?--
Mùa thu, tháng 8, ngày mồng 1 Canh Dần, nhật thực.
Sai Lý Thường Kiệt tổng lĩnh các quân đi đánh Chiêm Thành, không thắng được.
Thường Kiệt bèn họa địa đồ hình thế núi sông của ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh
rồi về. Đổi châu Địa Lý làm châu Lâm Bình, châu Ma Linh là châu Minh Linh, chiêu
mộ dân chúng đến đấy ở. Cho Thường Kiệt làm Thái úy.
Bính Thìn, [Thái Ninh] năm thứ 5 [1076], (từ tháng 4 về sau là niên hiệu Anh Vũ Chiêu
Thắng năm thứ 1; Tống Hy Ninh năm thứ 9). Mùa xuân, tháng 3, nhà Tống sai tuyên
phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm Chiêu Thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân 9
xuân, mở hội Nhân Vương ở điện Thiên An.
Tháng 2, thi lại viện bằng phép viết chữ, phép tính và hình luật.
Tháng 3, lại đem đại binh sang đánh hai châu Khâm và Liêm nước Tống, nói lấy tiếng
rằng nhà Tống thi hành phép thanh miêu, tàn hại dân Trung quốc, cho nên đem quân
sang hỏi tội để cứu giúp nhau.
Mùa đông, tháng 12, Triệu Tiết nhà Tống sang xâm lấn, không được lại đem quân về.
Mậu Ngọ, [Anh Vũ Chiêu Thắng] năm thứ 3 [1078], (Tống Nguyên Phong năm thứ 1).
Mùa xuân, tháng giêng, sửa lại thành Đại La, sai Đào Tống Nguyên đem biếu nhà Tống
5 con voi thuần, xin trả lại các châu Quảng Nguyên, Tô Mậu, và những người các châu
ấy bị bắt đi.
Kỷ Mùi, [Anh Vũ Chiêu Thắng] năm thứ 4 [1079], (Tống Nguyên Phong năm thứ 2).
Châu Lạng dâng voi trắng.
Mưa đá.
Được mùa to.
Nhà Tống đem Thuận Châu trả cho ta (tức là châu Quảng Nguyên, nhà Tống đổi làm
Thuận Châu).
Canh Thân, [Anh Vũ Chiêu Thắng] năm thứ 5 [1080], (Tống Nguyên Phong năm thứ
31). Mùa xuân, tháng 2, đúc chuông lớn cho chùa Diên Hựu. Chuông đúc xong, đánh
không kêu, nhưng cho rằng nó đã thành khí, không nên tiêu hủy, bèn đem bỏ ở Quy
Điền [ruộng rùa] của chùa. Ruộng ấy, thấp ướt, có nhiều rùa, người bấy giờ gọi là
chuông Quy Điền.
Mùa thu, tháng 8, móc ngọt xuống. Vua đem đua thuyền.
Tân Dậu, /Anh Vũ Chiêu Thắng/ năm thứ 6 [1081], (Tống Nguyên Phong năm thứ 4).
Mà xuân, mặt trời có hai quầng sáng. Trả lại cho nhà Tống dân và lính bị bắt ở ba châu
Ung, Khâm, Liêm, vì nhà Tống đã trả lại ta các châu Quảng
Nguyên.
Mùa đông, tháng 10, Thái sư Lý Đạo Thành chết.
Nhâm Tuất, /Anh Vũ Chiêu Thắng/ năm thứ 4 [1082] , (Tống Nguyên Phong năm thứ
5). Mùa xuân, gả công chúa Khâm Thánh cho châu mục châu Vị Long là Hà Di Khánh.
Quý Hợi, /Anh Vũ Chiêu Thắng/ năm thứ 8 [1083] , (Tống Nguyên Phong năm thứ 6).
cao kiêm làm đề cử. Bấy giờ nhà chùa có điền nô và kho chứa đồ vật, cho nên đặt chức
ấy.
Mùa đông, tháng 10, xây tháp chùa Lãm Sơn.
Kỷ Tỵ, /Quảng Hựu/ năm thứ 5 [1089] , (Tống Nguyên Hựu năm thứ 4). Mùa xuân,
tháng 3, định các chức văn võ, quan hầu vua và các chức tạp lưu.
Quân nhà Tống /xâm phạm/ vào châu Thạch Tê.
Đào ngòi lãnh kinh.
Canh Ngọ, /Quảng Hựu/ năm thứ 6 [1090] , (Tống Nguyên Hựu năm thứ 5). Làm cung
hợp hoan.
Tân Mùi, /Quảng Hựu/ năm thứ 7 [1091] , (Tống Nguyên Hựu năm thứ 6). Mùa xuân,
vua ngự đến Lạng Sơn xem bắt voi. Mùa Đông, tháng 11, cho Hà Ư làm Thiếu úy tri
điện tiền chư quân sự.
Lê Toàn Nghĩa dâng con rùa năm sắc.
Nhâm Thân, /Quảng Hựu/ năm thứ 7 [1092] , (Tống Quang Hựu năm thứ 8), (Ừ tháng 8
về sau là niên hiệu Hội phong năm thứ 1; Tống Nguyên Hựu năm thứ 7). Mùa Thu,
tháng 8 đổi niên hiệu làm Hội Phong năm thứ 1.
Được mùa to. Định sổ ruộng, thu tô mỗi mẫu 3 thăng để cấp lương cho quân.
Qúy Dậu, /Hội Phong/ năm thứ 2 [1093] , (Tống Nguên hựu năm thứ 8). Cây ưu bát
đàm /cây sung/ nở hoa.
Giáp Tuất, /Hội Phong/ năm thứ 3 [1094] , (Tống Thiệu Thánh năm thứ 1). Mùa xuân,
tháng giêng, sai Hàn Lâm học sĩ Mạc Hiển Tích sang sứ Chiêm Thành đòi lễ tuế cống.
Mùa Hạ, tháng 4, tháp chùa Lãm Sơn xây xong.
Ất Hợi, /Hội Phong/ năm thứ 4 [1095] , (Tống Thiệu Thánh năm thứ 2). Mùa xuân, các
vương vào chầu.
Mùa Hạ, tháng 6, đại hạn. Thả tù, giảm hoặc miễn các khoản tang thuế.
Trời mưa.
Bính Tý, /Hội Phong/ năm thứ 5 [1096] , (Tống Thiệu Thánh năm thứ 3). Mùa Xuân,
tháng 3, Lê Văn Thịnh mưu làm phản, tha tội chết, an trí ở Thao Giang. Bấy giờ vua ra
hồ Dâm Đàm, ngự trên thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám
mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo ném. Chốc lát
nhà nghèo đến nỗi không có vợ , đó là cùng dân trong thiên hạ. Thái hậu đổi đời cho họ,
cũng là việc làm nhân chính vậy.--
Mùa Đông, tháng 10, người Diễn Châu là Lý Giác mưu làm phản. Giác trước học được
thuật lạ, có thể biến cây cỏ làm người, bèn chiêu tập những kẻ vô lại chiếm cứ châu ấy,
đắp thành làm loạn. Việc tâu lên, vua sai bọn Lý Thường Kiệt đi đánh. Giác thua trốn
sang Chiêm Thành, dư đảng đều bị dẹp yên.
Chiêm Thành cướp biên giới.
Giáp Thân, /Long Phù/ năm thứ 4 [1104] , (Tống Sùng Ninh năm thứ 3). Mùa xuân,
tháng 2, sai Lý Thường Kiệt đi đánh Chiêm Thành, nói tình hình hư thực của nước ta.
Vua Chiêm Thành là Chế Ma Na nhân thế đem quân vào cướp, lấy lại 3 châu Địa Lý
v.v... mà Chế Củ đã dâng. Đến đây, sai Lý Thường Kiệt đi đánh, phá được, Chế Ma Na
lại dâng nộp đất ấy.
Tháng 3, định lại binh hiệu của quân cấm vệ.
Ất Dậu, /Long Phù/ năm thứ 5 [1105] , (Tống Sùng Ninh năm thứ 4). Mùa xuân, cúng
thần Cao Môi. Mùa hạ, tháng 6, Thái úy Lý Thường Kiệt chết, tặng chức Nhập nội điện
đô tri kiểm hiệu thái úy bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc công, thực ấp 1
vạn hộ, cho người em là Lý Thường Hiến được kế phong tước hầu (Thường Kiệt người
phường Thái Hòa, thành Thăng Long, nối đời làm quan, nhiều mưu lược, có tài làm
tướng. Khi còn ít tuổi, vì vẻ mặt tươi đẹp được sung làm Hoàng môn chi hậu theo hầu
Thái Tông, thăng dần đến chức Nội thị sảnh đô tri. Thánh Tông phong chức Thái bảo,
trao cho tiết việt để đi thăm hỏi lại dân ở Thanh Hóa, Nghệ An. Đến khi vua thân đi
đánh Chiêm Thành, ấy làm tướng tiên phong, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Vì có
công, được phong làm Phụ quốc thái phó, dao thụ chư trấn tiết độ, đồng trung thư môn
hạ, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, phụ quốc thượng tướng quân, tước Khai quốc
công, sau lại có công nữa, được phong làm Thái úy, rồi chết).
Mùa thu, tháng 9, làm hai ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu, ba ngọn tháp chỏm
đá ở chùa Lãm Sơn. Bấy giờ vua sửa lại chùa Diên Hựu đẹp hơn cũ, đào hồ Liên Hoa
Đài, gọi là hồ Linh Chiểu. Ngoài hồ có hành lang chạm vẽ chạy chung quanh, ngoài
hành lang lại đào hồ gọi là hồ Bích Trì, đều bắc cầu vồng để đi qua. Trước sân chùa xây
bảo tháp. Hàng tháng cứ ngày rằm, mồng một và mùa hạ, ngày mồng 8 tháng 4, xa giá
tên là Ngọc Kiều, con gái lớn của Phụng Càn Vương được Thánh Tông nuôi ở trong
cung, lớn lên phong làm chúa, gả cho châu mục châu Chân Đăng là người họ Lê, chồng
chết, phu nhân tự thề ở góa, đi tu làm sư nữ, đến đây mất, thọ 72 tuổi. Thần Tông tôn
làm Ni sư).