Quyển II
K ỷ N h à L ý
Thái Tổ Hoàng Đế
Họ Lý, tên húy là Công Uẩn, người châu Cổ Pháp Bắc Giang, mẹ họ Phạm, đi chơi chùa
Tiêu Sơn cùng với người thần giao hợp rồi có chửa, sinh vua ngày 12 tháng 2 năm Giáp
Tuất, niên hiệu Thái Bình năm thứ 5 [974] thời Đinh. Lớn lên làm quan nhà Lê, thăng
đến chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi Ngọa Triều băng, tự lập làm vua, đóng đô ở thành
Thăng Long. Ở ngôi 18 năm [1010-1028], thọ 55 tuổi [974-1028], băng ở điện Long An,
táng ở Thọ Lăng. Vua ứng mệnh trời, thuận lòng người, nhân thời mở vận, là người
khoan thứ nhân từ, tinh tế hòa nhã, có lượng đế vương. Song chưa làm sáng chính học,
lại ưa thích dị đoan, bị lụy về chuyện đó.
Vua sinh ra mới 3 tuổi, mẹ ẵm đến nhà Lý Khánh Văn. Khánh Văn bèn nhận làm con
nuôi. Bé đã thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường. Lúc còn nhỏ đi học, nhà sư ở
chùa Lục Tổ là Vạn Hạnh thấy, khen rằng: "Đứa bé này không phải người thường, sau
này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ". Lớn lên, không
chăm việc sản nghiệp, chỉ học kinh sử qua loa, khảng khái có chí lớn. Trong đời Ứng
Thiên, xuất thân thờ Lê Trung Tông [1005]. Đại Hành băng, Trung Tông bị giết, vua ôm
xác mà khóc, Ngọa Triều khen là người trung, cho làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ,
thăng đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Đến khi Ngọa Triều băng, bèn lên ngôi
hoàng đế, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đại xá thiên hạ.
Trước ở viện Cảm Tuyển chùa Ứng Thiên Tâm, châu Cổ Pháp có con chó đẻ con sắc
trắng có đốm lông đen thành hình hai chữ "Thiên tử". Kẻ thức giả nói đó là điềm năm
Tuất sinh người làm thiên tử. Đến nay, vua sinh năm Giáp Tuất lên làm thiên tử, quả là
ứng nghiệm.
Canh Tuất, Thuận Thiên năm thứ 1 [1010] , (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 3).
Mùa xuân, tháng 2 xa giá, về châu Cổ Pháp, ban tiền lụa cho các bô lão trong làng theo
thứ bậc khác nhau.
Sai Viên ngoại lang Lương Nhậm Văn và Lê Tái Nghiêm sang nước Tống để kết hảo.
Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời
đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng: "Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn canh
năm lần dời đô, nhà Chu
trong thành làm chùa ngự Hưng Thiên và tinh lâu Ngũ Phượng. Ngoài thành về phía
nam dựng chùa Thắng Nghiêm.
-- Lê Văn Hưu nói: Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã
tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các
lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào
việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức
không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét màu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của
dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình cần kiệm, còn lo
cho con cháu xa xỉ lười biếng, thế mà Thái Tổ để phép lại như thế, chả trách đời sau xây
tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật, lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người
dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân
chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc há chẳng
phải từ đấy?--
Xuống chiếu truyền cho những kẻ trốn tránh phải về quê cũ. Lại hạ lệnh cho các hương
ấp, nơi nào có chùa quán đã đổ nát đều phải sửa chữa lại.
Mùa đông, tháng 12, cung Thúy Hoa làm xong, làm lễ khánh thành, đại xá các thuế
khóa cho thiên hạ trong 3 năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thuế lâu
năm đều tha cho cả.
Cắp áo quần, lương thực, thuốc men cho 28 người lính man bị Ngọa Triều bắt, sai người
đưa về quê cũ. Tha cho người ở vùng Nam Giới, huyện Thạch Hà thuộc châu Hoan
được trở về bản huyện.
Nhà Tống phong vua làm Giao Chỉ Quận Vương lĩnh Tĩnh Hải quân tiết độ sứ.
Đổi 10 đạo làm 24 lộ, châu Hoan, châu Ái làm trại. Năm ấy độ dân làm sư. Phát bạc ở
kho 1.680 lạng để đúc chuông lớn, treo ở chùa Đại Giáo.
Tân Hợi, [Thuận Thiên] năm thứ 2 [1011] , (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 4).
Mùa xuân, tháng giêng, đặt quân tả hữu túc xa, [mỗi đội] đều 500 người. Tháng hai, vua
thấy giặc Cử Long ở Ái Châu hung hăng dữ tợn, trải hai triều Đinh, Lê không đánh nổi,
đến nay càng dữ, mới đem sáu quân đi đánh, đốt bộ lạc, bắt kẻ đầu sỏ đem về, giặc ấy
bèn tan.
Mùa hạ, tháng 4, sai viên ngoại lang là Lý Nhân Nghĩa và Đào Khánh Văn sang thăm
Năm ấy người Man sang quá cột đồng, đến bến Kim Hoa và châu Vị Long để buôn bán.
Vua sai người bắt được người Man và hơn 1 vạn con ngựa.
Quý Sửu, [Thuận Thiên] năm thứ 4 [1013] , (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 6).
Mùa xuân, tháng 2, định các lệ thuế trong nước: 1 - Ao hồ ruộng đất, 2 - Tiền và thóc về
bãi dâu, 3 - Sản vật ở núi nguồn các phiên trấn, 4 - Các quan ải xét hỏi về mắm muối, 5
-Sừng tê, ngà voi, hương liệu của người Man Lão, 6 - Các thứ gỗ và hoa quả ở đầu
nguồn.
Mùa hạ, tháng 6, phong Hoàng tử Bồ làm Khai Quốc Vương, ở phủ Trường Yên.
Mùa thu, tháng 7, vua ngự điện Hàm Quang xem đua thuyền.
Mùa đông, tháng 10, châu Vị Long làm phản, hùa theo người Man [Nam Chiếu]. Vua
thân đi đánh. Thủ lĩnh là Hà Án Tuấn sợ, đem đồ đảng trốn vào rừng núi.
Cho các vương hầu công chúa được quản các thuế theo thứ bậc khác nhau.
Giáp Dần, [Thuận Thiên] năm thứ 5 [1014] , (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 7).
Mùa xuân, tháng giêng, tướng của người Man là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí
đem 20 vạn người Man vào cướp, đóng đồn ở bến Kim Hoa, dàn quân đóng trại gọi là
trại Ngũ Hoa. Châu mục châu Bình Lâm là Hoàng Ân Vinh đem việc tâu lên. Vua sai
Dực Thánh Vương đem quân đi đánh, chém đầu kể hàng vạn, bắt sống được quân lính
và ngựa không kể xiết. Xuống chiếu cho viên ngoại lang là Phùng Chân và Lý Thạc đem
một trăm con ngựa bắt được của người Man sang biếu nhà Tống. Vua Tống xuống chiếu
cho quan sở tại sai sứ thần đón tiếp, cùng đi đến cửa khuyết, mọi khoản cung đốn dọc
đường đều được chu cấp đầy đủ. Khi đến, vua Tống gọi bọn Chân vào ra mắt ở điện
Sùng Đức, ban cho mũ, đai, đồ dùng, tiền bạc theo thứ bậc khác nhau.
Mùa hạ, tháng 4, châu Hoan dâng kỳ lân.
Tháng 5, Hữu nhai tăng thống là Thẩm Văn Uyển tâu xin lập đàn chay ở chùa Vạn Tuế
để cho tăng đồ thụ giới. Vua chuẩn tâu.
Mùa thu, tháng 9, xuống chiếu phát 310 lạng vàng trong kho để đúc chuông treo ở chùa
Hưng Thiên.
Nước Chân Lạp sang cống.
Mùa đông, tháng 10, xuống chiếu phát trăm lạng bạc trong kho để đúc hai quả chuông
treo ở chùa Thắng Nghiêm và tinh lâu Ngũ Phượng. Đắp thành đất ở bốn mặt kinh
Nhà Tống phong vua làm Nam Bình Vương.
Năm ấy được mùa to, 30 bó lúa giá 70 tiền. Cho thiên hạ 3 năm không phải nộp tô thuế.
Đinh Tỵ, [Thuận Thiên] năm thứ 8 [1017] , (Tống Thiên Hy năm thứ 1). Mùa xuân,
tháng 3, cho Trần Văn Tú làm Thái phó.
Xuống chiếu xá tô ruộng cho thiên hạ.
Điện Càn Nguyên bị sét đánh, vua coi chầu ở điện phía đông.
Mậu Ngọ, [Thuận Thiên] năm thứ 9 [1018] , (Tống Thiên Hy năm thứ 2). Mùa xuân,
tháng 2, truy phong bà nội làm hậu và đặt tên thụy.
-- Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Vua đến đây mới truy phong cho bà nội, đó là lỗi chậm trễ.
--
Mùa hạ, tháng 6, sai Viên ngoại lang là Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nước
Tống xin kinh Tam Tạng .
Mùa đông, tháng 10, phong Hoàng tử Lực làm Đông Chinh Vương.
Xá một nửa tô ruộng cho thiên hạ.
Kỷ Mùi, [Thuận Thiên] năm thứ 10 [1019] , (Tống Thiên Hy năm thứ 3). Mùa xuân,
tháng giêng, dựng Thái Miếu ở lăng Thiên Đức. Xuống chiếu độ dân trong nước làm
tăng.
Canh Thân, [Thuận Thiên năm thứ 11 [1020] , (Tống Thiên Hy năm thứ 4). Mùa hạ,
tháng 4, nước Chân Lạp đến cống.
Mùa thu, tháng 9, Nguyễn Đạo Thanh đi sứ về, xin được kinh Tam Tạng ; xuống chiếu
cho Tăng thống là Phí Trí sang Quảng Châu đón.
Mùa đông, tháng 12, sai Khai Thiên Vương [Phật Mã] và Đào Thạc Phụ đem quân đi
đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính, thẳng đến núi Long Tỵ, chém được tướng của
chúng là Bố Linh tại trận, người Chiêm chết đến quá nửa.
Năm ấy điện phía đông bị sét đánh, vua coi chầu ở điện phía tây. Dựng ba điện: điện
phía trước để coi chầu, hai điện phía sau để nghe chính sự.
Tân Dậu, [Thuận Thiên] năm thứ 12 [1021] , (Tống Thiên Hy năm thứ 5). Mùa xuân,
tháng 2, lấy ngày sinh nhật của vua làm tiết Thiên Thành, lấy tre kết làm một ngọn núi
gọi là Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi làm nhiều hình chim bay thú
chạy, muôn vẻ lạ kỳ. Lại sai người bắt chước tiếng của cầm thú làm vui để ban yến cho
thường, đến khi thấy sét đánh thành vết chữ thì đoán biết thời thế thay đổi, như thế là có
tri thức vượt người thường vậy. Nhưng dứt tính mệnh, bỏ nhân luân, chán trần tục ồn
ào, nương cửa thiền tịch mịch, để trong sạch lấy một mình, người quân tử không cho là
phải.
Bính Dần, [Thuận Thiên] năm thứ 17 [1026] , (Tống Thiên Thánh năm thứ 4). Mùa
xuân, tháng giêng, xuống chiếu làm Ngọc điệp.
Mùa thu, tháng 8, sai Lý Trưng Hiển và Lê Tái Nghiêm sang nước Tống kết hảo.
Mùa đông, tháng 11, nước Chân Lạp sang cống.
Xuống chiếu cho Khai Thiên Vương đi đánh giặc ở Diễn Châu.
Đinh Mão, [Thuận Thiên] năm thứ 18 [1027] , (Tống Thiên Thánh năm thứ 5). Mùa hạ,
tháng 6, đại hạn.
Mùa thu, tháng 8, xuống chiếu chép kinh Tam tạng. Xuống chiếu cho Khai Thiên
Vương [Phật Mã] đi đánh châu Thất Nguyên, Đông Chinh Vương [Lực] đi đánh Văn
Châu.
Mậu Thìn, [Thuận Thiên] năm thứ 19 [1028] , (Từ tháng 3 về sau là niên hiệu Lý Thái
Tông, Thiên Thành năm thứ 1; Tống Thiên Thánh năm thứ 6).
Mùa xuân, tháng 2, vua không khỏe. Tháng 3, ngày mồng 1 Bính Thân, nhật thực. Ngày
Mậu Tuất, vua băng ở điện Long An. Bề tôi đều đến cung Long Đức xin thái tử vâng di
chiếu lên ngôi. Ba vương là Đông Chinh [Lực], Dực Thánh và Vũ Đức nghe tin đều
đem quân ở phủ mình vào phục sẵn trong cấm thành. Đông Chinh Vương phục ở trong
Long Thành, hai vương Dực Thánh và Vũ Đức phục trong cửa Quảng Phúc, đợi thái tử
đến thì đánh úp. Một lát sau, thái tử từ cửa Tường Phù vào, đến điện Càn Nguyên, biết
có biến, sai người hầu đóng hết các cửa điện và sai các vệ sĩ trong cung phòng giữ, nhân
bảo tả hữu rằng: "Ta đối với anh em không phụ bạc chút nào. Nay ba vương làm việc
bất nghĩa, quên di mệnh của Tiên đế, mưu chiếm ngôi báu, các khanh nghĩ thế nào?"
Nội thị là Lý Nhân Nghĩa nói: "Anh em với nhau, bên trong có thể hiệp sứ bàn mưu, bên
ngoài có thể cùng nhau chống giặc. Nay ba vương làm phản, thì là anh em hay là kẻ thù?
Xin cho bọn thần đánh một trận để quyết được thua". Thái tử nói: "Ta lấy làm xấu hổ là
Tiên đế mới mất chưa quàn mà cốt nhục đã giết nhau, há chẳng để cho muôn đời chê
cười sao?" Nhân Nghĩa nói: "Thần nghe rằng muốn mưa xa thì phải quên công gần, giữ
điện hạ cảm động cả trời đất, kẻ nào manh tâm mưu đồ gì khác thì trời đất thần linh đều
làm hết chức phận mà giết đi, bọn thần có công sức gì!" (Phụng Hiểu người hương
Băng Sơn ở Ái Châu, từ khi còn nhỏ đã có sức vóc hùng dũng. Hai thôn Cổ Bi và Đàm
Xá tranh nhau địa giới, toan đánh nhau, Phụng Hiểu bảo người thôn Cổ Bi rằng: "Một
mình tôi có thể đánh được bọn họ". Các phụ lão mừng lắm, làm cơm rượu để thết.
Phụng Hiểu ăn một bữa mấy đấu gạo, uống cũng quá mức, rồi đến khiêu chiến với thôn
Đàm Xá. Phụng Hiểu cứ đứng thẳng lưng nhổ cây mà đánh tới tấp, nhiều người bị
thương. Thôn Đàm Xá sợ, phải trả lại ruộng cho thôn Cổ Bi. Thái Tổ nghe danh, dùng
làm tướng, thăng đến chức Vũ vệ tướng quân. Đên đây có công dẹp nạn, thăng Đô
thống thượng tướng quân, tước hầu. Trong khoảng niên hiệu Thiên Cảm Thánh Vũ
[1044 -1048] theo Thái Tông đi đánh ở miền nam, làm tiên phong, phá tan quân giặc,
danh tiếng rung động nước Phiên. Khi thắng trận trở về định công, Phụng Hiểu nói:
"Thần không muốn thưởng tước, xin cho đứng trên núi Băng Sơn ném đao lớn đi xa,
đao rơi xuống chỗ nào trong đất công thì xin ban cho làm sản nghiệp. Vua nghe theo.
Phụng Hiểu lên núi, ném đao xa hơn đến nghìn dặm, đao rơi xuống hương Đa Mi. Vua
bèn lấy số ruộng ấy ban cho, tha thóc thuế cho ruộng ném đao ấy. Vì vậy người Châu Ái
gọi [ruộng] thưởng công là [ruộng] ném đao).
--Lê Văn Hưu nói: Nhà Lý phong cho các con mẹ đích đều làm vương, các con mẹ thứ
đều làm hoàng tử mà không đặt ngôi hoàng thái tử. Đến khi nào vua ốm nặng mới chọn
một người trong các con cho vào để nối nghiệp lớn. Truyền dần thành tục, không biết là
ý thế nào. Có người nói: "Nhà Lý không đặt thái tử trước là vì muốn cho các con chăm
làm điều thiện. Nếu lập ngôi thái tử thì phận vua tôi đã định dù có con hiền như Vi Tử
cũng không biết xử trí thế nào. Đáp rằng: Gốc thiên hạ đã định rồi mà còn có cái họa
như Dương Quảng làm ra vẻ có đức hạnh để cướp ngôi đích, huống chi ngôi thái tử
không lập trước, đến khi vội vàng mới chọn lập, không may có việc như ba phu nhân
nài xin lập con khác, Từ Văn Thông mua bút sửa di chiếu thì dù muốn không bằng lòng
cũng chẳng được nữa. Người có nước nhà nên lấy đó làm răn.--
-- Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Cùng lòng, cùng đức, tất sự nghiệp có thể thành. Có vua, có
tôi, gian hiểm nào cũng vượt được. Thái Tông đương lúc đau xót, biến loạn sinh ngay
kẽ nách mà vua tôi xử trí gãy gọn phải lẽ, vượt được hiểm nạn, làm nên sự nghiệp, tông
Trước đây, một hôm trước khi ba vương làm phản, vua chiêm bao thấy một người tự
xưng là thần núi Đồng Cổ nói với vua về việc ba vương Vũ Đức, Đông Chinh, Dực
Thánh làm loạn, phải mau đem quân dẹp ngay. Tỉnh dậy liền sai phòng bị, quả nhiên
ứng nghiệm. Đến đây xuống chiếu giao cho Hữu ty dựng miếu ở bên hữu thành Đại La
sau chùa Thánh Thọ, lấy ngày 25 tháng ấy, đắp đàn ở trong miếu, cắm cờ xí, chỉnh đốn
đội ngũ, treo gươm giáo ở trước thần vị, đọc lời thề rằng: "Làm con bất hiếu, làm tôi bất
trung, xin thần minh giết chết". Các quan từ cửa đông đi vào, đến trước thần vị cùng
uống máu ăn thề, hàng năm lấy làm lệ thường. Sau vì tháng 3 có ngày quốc kỵ, chuyển
sang mồng 4 tháng 4.
Mùa hạ, tháng 4, vua thân đi đánh phủ Trường Yên, cho nội thị Lý Nhân Nghĩa ở lại giữ
Kinh sư. Ngày Nhâm Thân đến Trường Yên. Ngày ấy, Khai Quốc Vương đầu hàng.
Vua hạ lệnh rằng: "Ai cướp bóc của cải của dân thì chém". Quân sĩ nghiêm theo, không
mảy may xâm phạm. Đại quân vào thành Trường Yên, dân trong thành đem dâng biếu
trâu rượu đứng đầy đường. Vua sai sứ tuyên chỉ ủy lạo, cả thành vui to. Xuống chiếu
dời Khai Quốc Vương và các liêu thuộc của vương về kinh Thăng Long. Vua từ phủ
Trường Yên về, xuống chiếu tha tội cho Khai Quốc Vương, vẫn cho tước như cũ.
Tháng 5, ngày 6, có dấu vết của thần nhân hiện ra ở chùa Vạn Tuế. Bầy tôi dâng lời nói:
"Thái tử là gốc của thiên hạ, gốc đứng thì thiên hạ yên, xin bệ hạ sớm chọn con nối hiền
lập ngôi Đông cung, để thỏa lòng mong của thiên hạ". Vua nghe theo, sách phong hoàng
tử Nhật Tôn làm Đông cung thái tử.