LỒNG GHÉP BỆNH LAO TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU - Pdf 43

BỘ MÔN LAO
-----------ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:

LỒNG GHÉP BỆNH LAO TRONG
CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU

Niên khóa 2012 -2018


BỘ MÔN LAO
------------

ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:

LỒNG GHÉP BỆNH LAO TRONG
CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU


LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ.......................................................................................6
Phần II: NỘI DUNG..........................................................................................8
I. ĐẠI CƯƠNG BỆNH LAO.........................................................................8
1. Lịch sử tìm ra vi khuẩn lao và ngày chống lao.......................................8
2. Đặc điểm vi khuẩn lao.............................................................................8
3. Đặc điểm bệnh lao...................................................................................9


II. DỊCH TỂ HỌC BỆNH LAO.....................................................................9
1. Tình hình bệnh lao trên toàn thế giới......................................................9

3. DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM LAO Ở HỘ GIA ĐÌNH...............................50
4. DINH DƯỠNG........................................................................................51
4.1 DINH DƯỠNG CHUNG CHO CỘNG ĐỒNG..................................51
4.2 Suy dinh dưỡng...................................................................................54
4.3 Mối liên hệ giữa suy dinh dưỡng và lao:.............................................58
4.4 Dinh dưỡng cho bệnh nhân Lao..........................................................61
4.5 DINH ĐƯỜNG VÀ CÁC THUỐC KHÁNG LAO............................63
PHẦN 3: KẾT LUẬN.....................................................................................65
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................67


Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lao là một bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn lao-Mycobacterium
tuberculosis gây ra, thường gặp nhất ở phổi ngoài ra có thể gặp ở tất cả các cơ
quan như hệ thần kinh trung ương (lao màng não), hệ bạch huyết, hệ tuần
hoàn (lao kê), hệ niệu dục, xương và khớp....
Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO công bố vào tháng 10 năm 2016,ước
tính trên toàn thế giới có 10,4 triệu trường hợp mới mắc lao, trong đó có 5,9
triệu (56%) là nam giới, 3,5 triệu (34%) là nữ giới, còn lại là trẻ em (10%).
Trên thế giới, tốc độ suy giảm tỷ lệ mắc bệnh lao vẫn chỉ ở mức 1,5% giai
đoạn 2014-2015. Vào năm 2015, có khoảng 1,4 triệu người tử vong vì bệnh
lao. Mặc dù số lượng tử vong vì bệnh lao đã giảm 22% từ năm 2000 đến 2015
nhưng bệnh lao vẫn còn là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu
trên toàn thế giới trong năm 2015.
Ở Việt Nam, Theo Chương trình chống lao quốc gia năm 2015, cả
nước đã phát hiện và điều trị cho tổng số 102.655 bệnh nhân lao, tỷ lệ điều trị
khỏi trên 90%. Hiệu quả của Chương trình chống lao quốc gia năm 2015 được
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh giá tốt, tốc độ giảm hằng năm 4,6% số
hiện mắc và giảm 4,4%. Tuy nhiên, theo đánh giá WHO, Việt Nam vẫn đứng

Mục tiêu:
-

Tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh lao và chương trình

CSSKBĐ
- Xác định sự ảnh hưởng của CSSKBĐ đến việc dự phòng và
điều trị bệnh lao.
- Đề ra giải pháp cần thiết để lồng ghép bệnh lao vào công tác
CSSKBĐ

Lồng ghép bệnh lao trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

7


Phần II: NỘI DUNG
I.

ĐẠI CƯƠNG BỆNH LAO

1. Lịch sử tìm ra vi khuẩn lao và ngày chống lao
10000 năm trước Công nguyên người ta đã phát hiện các khối u cột sống
đặc trưng của bệnh lao ở người và tranh khắc gù lưng trên mộ cổ Ai Cập hình
ảnh của bệnh Potts. Y văn cổ nhất về bệnh lao được phát hiện từ 700 năm
trước công nguyên ở Ấn Độ, bệnh lao được xếp vào một trong “Tứ chứng nan
y”. Từ thời Hippocrates (460-377 trước công nguyên), đã mô tả tỉ mỉ về bệnh
mà ông gọi là “Phtisis” cho đến thế kỷ XIX con người chưa biết nhiều về
nguyên nhân gây bệnh và cho rằng bệnh lao là một căn bệnh di truyền hay
bệnh khó chữa . Cho đến năm 1865 Villemin là người đầu tiên chứng minh

Bệnh lao là bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn BK gây ra.
Nguồn lây chủ yếu từ người Lao phổi AFB(+) thông qua đường hô hấp khi
bệnh nhân ho, hắt hơi, nhổ nước bọt, đàm trong chu trình giao tiếp. Không có
nơi nào tránh được vi khuẩn Lao;bất kỳ ai hít thở không khí cũng bị đe doạ.
Bệnh lao trải qua hai giai đoạn: giai đoạn lao nhiễm và lao bệnh. Chỉ 5 đến
10% người nhiễm lao trở thành bệnh nhân lao, khi có các điều kiện thuận lợi
để vi khuẩn lao phát triển như: suy giảm miễn dịch, HIV, suy dinh dưỡng…
Bệnh lao hoàn toàn có thể phòng và điều trị tốt bằng việc tiêm vắcxin
BCG cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới 1 tuổi cùng với phát hiện sớm và điều trị
đúng.
Bệnh lao là một bệnh xã hội ảnh hưởng đến 1/3 dân số thế giới. Trong
từng chế độ xã hội, mức sống, hoàn cảnh sinh hoạt, các hiện tượng xã hội,
thiên tai chiến tranh đều ảnh hưởng đến bệnh lao.
Vi khuẩn Lao kháng đa thuốc đã lan tràn không thể đẩy lùi được, là hiểm
họa khôn lường của thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển.
II.

DỊCH TỂ HỌC BỆNH LAO

1. Tình hình bệnh lao trên toàn thế giới
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, mặc dù đã đạt được một số thành
tựu đáng kể trong công tác chống lao nhưng bệnh lao vẫn đang tiếp tục là một
trong các vấn đề sức khỏe cộng đồng chính trên toàn cầu. Ước tính năm 2013,
trên toàn thế giới có khoảng 9 triệu người mắc lao; 13% trong số mắc lao có
đồng nhiễm HIV.
Bệnh lao là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ hai trong các bệnh
nhiễm trùng với khoảng 1,3 triệu người tử vong do lao, trong đó có khoảng
510.000 phụ nữ chết do lao. Tình hình dịch tễ lao kháng thuốc đang có diễn
biến phức tạp và đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia. Năm 2013, trên toàn cầu
Lồng ghép bệnh lao trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

truyền nhiễm nào khác.
Trên toàn cầu trong năm 2014, ước tính có khoảng 480 000 ngươi phát
triển bệnh lao đa khảng thuôc (MDR-TB).Bệnh lao đa kháng (MDR-TB) đe
doạ nghiêm trọng đến việc duy trì một chiến lược kiểm soát lao hiệu quả ở
những quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao, hậu quả của việc điều trị không
đầy đủ hoặc không hoàn toàn, có thể do sử dụng thuốc kháng lao không đều
đặn hoặc phác đồ không phù hợp. Nó cũng có thể là do sự gián đoạn trong
việc cung cấp thuốc thiết yếu hoặc bởi các loại thuốc có chất lượng kém. Nếu
Lồng ghép bệnh lao trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

10


bệnh nhân chưa hoàn thành điều trị hoặc nếu việc điều trị không hiệu quả,
người đó vẫn tiếp tục lây truyền M. tuberculosis, mà có thể kháng thuốc tiên
phát. MDR-TB cần khoảng hai năm để điều trị và do đó mất nhiều thời gian
điều trị hơn so với lao nhạy cảm thuốc. Thuốc điều trị MDR-TB cũng đắt hơn
và hiệu quả thấp hơn.
Lao là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong ở những người bị nhiễm
HIV trên toàn thế giới. Nhiễm HIV thúc đẩy sự phát triển của bệnh lao do làm
suy giảm hệ miễn dịch. Thêm vào đó, bệnh lao hoạt động cũng tiếp tục ức chế
hệ miễn dịch của người đang sống với HIV/AIDS. Vì vậy, khi một bệnh nhân
được chẩn đoán mắc cả lao và HIV, cả hai bệnh sẽ tiến triển nhanh hơn. Tỷ lệ
mắc lao ở người nhiễm HIV phụ thuộc vào tỷ lệ hiện mắc của bệnh lao trong
khu vực. Những thách thức cụ thể có thể được mong đợi ở những quốc gia có
gánh nặng bệnh lao cao, nơi mà phạm vi ảnh hưởng của HIV đang gia tăng.
Dịch HIV gia tăng sẽ làm gia tăng số ca tử vong do lao .
Nhiều bệnh nhân lao thuộc nhóm người dễ bị tổn thương về mặt xã hội,
bao gồm những người nghiện rượu hoặc ma túy, tù nhân hoặc cựu tù nhân,
người di cư, thất nghiệp, người vô gia cư hoặc các nhóm có nguy cơ khác.

Điều kiện điều trị lao ở nước ta còn nhiều hạn chế, nguồn nhân lực chưa
đảm bảo: số lượng bác sĩ : 1,58 / 100.000 dân, trong khi có tỉ lệ trung bình
chuẩn là 12 / 100.000 dân; tiến bộ khoa học trong điều trị lao chưa được áp
dụng trong chẩn đoán và điều trị. Do lao là bệnh được điều trị miễn phí nên
hàng năm tiêu hụt không nhỏ ngân sách của nhà nước… Thêm vào đó là sự
không hợp tác của người bệnh khi tự điều trị ( dấu bệnh vì sợ thái độ kì thị),
bỏ dở quá trình điều trị, điều trị không đúng phương pháp …khiến cho khuẩn
lao trong người bệnh có khả năng kháng thuốc cao. Chi phí điều trị cho một
bệnh nhân mang khuẩn lao kháng thuốc, siêu kháng thuốc cao hơn hàng chục,
hàng trăm lần so với bệnh nhân lao thông thường.
3. Chẩn đoán lao
Tại Việt Nam 44% dân số nhiễm lao, Thống kê của ngành y tế cho biết
mỗi năm có tới 200.000 người nhiễm lao mới trong đó 30.000 người chết.
Việt Nam là quốc gia đứng thứ 12 trong 22 nước có bệnh lao cao nhất toàn
cầu ( theo đánh giá mới Việt Nam đứng thứ 14 trong 30 quốc gia), và xếp thứ
14/27 nước có gánh nặng bệnh nhân lao đa kháng thuốc cao nhất (theo đánh
giá mới Việt Nam đứng thứ 11 trong 30 quốc gia). Thống kê của ngành y tế
cho biết mỗi năm, nước ta có tới 200.000 người bệnh mắc lao mới và số
người chết là 30.000 người.
Năm 2014, CTCLQG đã phát hiện được 102.070 bệnh nhân lao các thế, tỷ
lệ phát hiện là 111/100000 dân, đạt 96.3% chỉ tiêu số bệnh nhân các thể phát
hiện cả năm (105.960 bệnh nhân). Số bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới phát
hiện là 49.844, tỷ lệ phát hiện AFB (+) là s4,snoo.ooo dân, đạt 92,300 chỉ tiêu
về tỷ lệ phát hiện lao phổi AFB dương tính mới trên 100.000 dân cả năm. Tỷ
lệ điều trị khỏi bệnh nhân lao phổi AFB (+) mới duy trì ở mức cao 89.9°o đạt
mục tiêu để ra là > 85% .
Hiện nay, chúng ta đang sống cùng 100.000 bệnh nhân lao là nguồn lây
nhiễm cho bất cứ ai, 6000 bệnh nhân lao kháng thuốc mỗi năm, tính trung
Lồng ghép bệnh lao trong chăm sóc sức khỏe ban đầu


+ Theo dõi báo cáo các số liệu hoạt động theo hướng dẫn của chương trình.
2.Tuyến xã:

Lồng ghép bệnh lao trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

13


Là tuyến y tế cơ sở của hệ thống chăm sóc y tế. Có 1 cán bộ chịu trách
nhiệm theo dõi các bệnh xã hội bao gồm bệnh lao với nhiệm vụ chính là :
+ Xác định người có triệu chứng nghi lao ho khạc đờm kéo dài trên 2 tuần và
chuyển họ tới Tổ chống lao hoặc Trung tâm y tế huyện.
+ Giám sát việc điều trị ngoại trú có kiểm soáy của người bệnh.
+ Thăm người bệnh tại nhà trong giai đoạn củng cố.
+ Tìm người bệnh bỏ trị.
+ Khám sang lọc, theo dõi trẻ em và người lớn có tiếp xúc với nguồn lây đặc
biệt tiếp xúc với người bệnh lao kháng đa thuốc.
+ Kiểm tra việc tiêm phòng BCG.
+ Chuyển người nhiễm HIV có triệu chứng nghi lao đi khám sàng lọc bệnh
lao.
+ Giám sát 100% thời gian đối với người bệnh lao điều trị phác đồ II (phác
đồ tái trị) và phác đồ thuốc hàng hai (phác đồ IV).
+ Giáo dục sức khỏe cho người dân hiểu biết về bệnh lao và các tác nhân ảnh
hưởng đến bệnh lao.
+ Phối hợp với y tế thôn bản và các cá nhân, đon vị trên địa bàn xã tăng
cường vệ sinh phòng bệnh, hỗ trọ người bệnh lao nghèo và người mắc bệnh
mạn tính phải điều trị lâu dài.
III.

Đại cương chăm sóc sức khỏe ban đầu

(2) Kỹ thuật học thực tiễn, khoa học, được xã hội chấp nhận;
(3) Phổ biến đến tận cá nhân và gia đình;
(4) Tự lực, tự quyết;
(5) Tham gia tích cực;
(6) Phí tổn vừa phải;
(7) Gần gũi nơi người dân sống và lao động;
(8) Nằm trong sự phát triển chung về kinh tế – xã hội của địa phương.
* Ý nghĩa của chăm sóc sức khỏe ban đầu:
- Chăm sóc sức khỏe ban đầu thể hiện tính nhân đạo và công bằng rất cao,
công bằng không có nghĩa là cung cấp các chăm sóc sức khỏe đồng đều cho
mọi thành viên của cộng đồng mà là cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
cho những người thực sự có nhu cầu cần nó.
- Chăm sóc sức khỏe ban đầu đã góp phần quan trọng vào thực hiện công
bằng xã hội thông qua việc giảm dần sự khác biệt trong chăm sóc sức khỏe
giữa người giàu và người nghèo; giữa thành thị và nông thôn; giữa đồng bằng
và miền núi.
Lồng ghép bệnh lao trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

15


- Chăm sóc sức khỏe ban đầu đã góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh
phân phối công bằng nguồn lực y tế và định hướng phục vụ.
- Chăm sóc sức khỏe ban đầu nhấn mạnh đến những vấn đề sức khỏe chủ yếu
của cộng đồng, đến tăng cường sức khỏe, phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi
sức khỏe. Do đó chăm sóc sức khỏe ban đầu đóng vai trò quan trọng trong
việc nâng cao sức khỏe cho nhân dân. Chăm sóc sức khỏe ban đầu góp phần
giảm tỷ lệ tử vong, tỷ lệ bệnh tật, tăng tuổi thọ trung bình của người dân.
2.


phòng và tham gia vào điều trị bệnh nhân ngoại trú trở nên quan trọng hơn.
Để hiểu vai trò hiện tại và tiềm năng của các nhân viên CSSKBĐ trong điều
trị lao, điều quan trọng là phải hiểu về cấu trúc và vai trò của hệ thống kiểm
soát lao quốc gia.
a/Tổng quan về Hệ thống Kiểm soát Bệnh Lao Quốc gia
Các mục tiêu tổng quát của phòng chống lao là:
• Giảm tỷ lệ tử vong, tỉ lệ mắc và lây lan của bệnh
• Ngăn chặn tiến triển đề kháng thuốc trong cộng đồng.
Ở những quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao như Việt Nam, một hệ
thống kiểm soát quốc gia chặt chẽ sử dụng chiến lược kiểm soát lao của WHO
có thể rất hiệu quả trong cuộc chiến chống lại bệnh lao
Các hệ thống kiểm soát lao thường theo một cấu trúc ba tầng, kết hợp
các cấp quốc gia, khu vực và cấp huyện. Các chức năng, vai trò và trách
nhiệm của từng cấp có thể khác nhau theo từng quốc gia theo cơ cấu dịch vụ y
tế hiện tại, phản ánh cả về dân số và các nguồn lực của họ. Các chức năng này
phản ánh vai trò hoạt động rộng rãi của việc kiểm soát lao và xác định các
nhiệm vụ của các chuyên gia khác nhau được tìm thấy ở mỗi cấp độ của cơ
cấu kiểm soát lao.
b/Vai trò của các nhân viên chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong kiểm
soát lao
Mặc dù vai trò của CCSKBĐ trong phòng chống lao có thể khác nhau ở
từng quốc gia, tuy nhiên vẫn có những yếu tố chung, bao gồm sự kết hợp của
nhân viên CCSKBĐ với các dịch vụ chuyên biệt về lao. Hầu hết các mối liên
kết giữa nhân viên CSSKBĐ và các dịch vụ chuyên về lao có ở cấp huyện.
Mối quan hệ cụ thể giữa nhân viên CCSKBĐ và các dịch vụ chuyên biệt về
lao .
Các nhân viên CCSKBĐ có thể có trách nhiệm khác nhau, chẳng hạn
như dự phòng hoặc tiêm chủng mà không xảy ra vào thời điểm mắc lao của
bệnh nhân. Phương tiện liên lạc tốt giữa các cơ sở lao có thể rất hữu ích trong
việc phát hiện và điều trị bệnh nhân lao. Vì các nhân viên CCSKBĐ là những

thường là những người đầu tiên tiếp xúc với một trường hợp nghi ngờ lao,
trước khi chẩn đoán. Họ có cơ hội để giảm bớt gánh nặng bệnh lao thông qua
việc phát hiện sớm kể từ khi một người mắc lao hoạt động, người không được

Lồng ghép bệnh lao trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

18


phát hiện và điều trị, sẽ lây nhiễm cho trung bình khoảng 10 đến 15 người
khác mỗi năm.
Bảng: Mối quan hệ giữa cơ sở điều trị lao và các nhân viên CSSKBĐ
trong kiểm soát bệnh lao
Tiến
trình
của
bệnh

Thời
gian
Tiến
trình
hoạt
động
y tế

Biểu hiện
ban đầu

Nghi ngờ

CSSKBĐ: CSSKBĐ: sở lao
-Kiểm tra -Thực
bệnh nhân hiện các
test:
-Tiền sử
bệnh tật
+Soi đờm
3 mẫu
+X quang
+Test cần
thiết khác
-Giáo dục
bệnh nhân
-Tư vấn
về các cơ
sở lao
(nếu cần)

Tại cơ Điều trị
sở lao tại cơ sở
lao:
CSSKBĐ
có thể
cung cấp
quá trình
điều trị
bằng
giám sát
trực tiếp


sở lao
(khi cần)
-Theo dõi
bệnh nhân

-Chuyển
đến cơ sở
lao (dựa
Lồng ghép bệnh lao trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

19


trên kết
quả xét
nghiệm)

Trong phạm vi một quốc gia, các nhân viên CSSKBĐ có thể có trách
nhiệm khác nhau, chẳng hạn như dự phòng hoặc tiêm chủng mà không xảy ra
vào thời điểm mắc lao của bệnh nhân. Các nhân viên CSSKBĐ nên tuân theo
các quy định tại quốc gia của họ.
Phương tiện liên lạc tốt tới các cơ sở lao có thể rất hữu ích trong việc
phát hiện và điều trị bệnh nhân lao. Vì các nhân viên CSSKBĐ là những
người tiếp xúc đầu tiên với bệnh nhân với các dịch vụ y tế, mối nghi ngờ ban
đầu về bệnh lao thường xảy ra ở mức độ CSSKBĐ. Khi một nhân viên
CSSKBĐ bắt gặp một bệnh nhân có các triệu chứng nghi ngờ lao, họ cần
thăm khám bệnh nhân, hỏi về tiền sử bệnh tật, và làm các xét nghiệm soi đờm
và X-quang (hoặc chuyển đến nơi có thể thực hiện được). Tại thời điểm này,
tham khảo ý kiến của một chuyên gia về lao, qua hỏi trực tiếp hoặc bằng điện
thoại sẽ giúp ích cho việc đánh giá trường hợp trên. Nếu vẫn còn nghi ngờ lao

cho công tác chống lao.
− Phát hiện thụ động nguồn lây bằng soi đờm trực tiếp.
− Điều trị bệnh lao có kiểm soát bằng hoá trị liệu ngắn ngày.
− Cung cấp thuốc chống lao đầy đủ với chất lượng tốt.
− Có hệ thống ghi chép và báo cáo tốt, chính xác.
Nội dung cơ bản của chiến lược DOTS
− Phát hiện bằng phương pháp thụ động là chủ yếu, sử dụng phương pháp soi
đờm trực tiếp, ưu tiên phát hiện nguồn lây là bệnh nhân lao phổi AFB(+).
− Điều trị bằng phác đồ hóa trị ngắn ngày có kiểm soát thống nhất trong toàn
quốc bằng thực hiện tốt chiến lược DOTS.
− Tiêm phòng lao bằng vaccin BGC cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới 1 tuổi đầy đủ,
đúng kỹ thuật.
− Lồng ghép hoạt động chống lao và hệ thống y tế chung.
Tình hình kiểm soát bệnh lao trên toàn cầu tính đến năm 2003 cũng ch−a
mấy khả quan, tỷ lệ điều trị khỏi của DOTS tính trung bình trên toàn cầu mới
chỉ đạt 82%, chiến lược DOTS bao phủ được khoảng 77% dân số thế giới,
tổng số bệnh nhân lao phát hiện mới đạt được 42% so với số bệnh nhân ước
tính. Như vậy, còn rất nhiều bệnh nhân lao không được chữa trị đang tiếp tục
là nguồn lây bệnh cho cộng đồng.
Phương pháp DOTS là gì: Là phương pháp quản lí, điều trị người bệnh lao
bằng thuốc chống lao có rifampicin trong phác đồ, được giám sát bởi

Lồng ghép bệnh lao trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

21


nhân viên y tế hoặc những người tình nguyện trong suốt thời gian điều trị.
Mỗi liệu trình điều trị lao phổi mới kéo dài 6 - 8 tháng.
Các giải pháp hành động của chương trình chống lao


22


Những trường hợp lao ngoài phổi, lao trẻ em, việc chẩn đoán dựa vào triệu
chứng lâm sàng nguồn lây và phối hợp với các kết quả cận lâm sàng khác như
phản ứng Mantoux, X quang, tổ chức học và miễn dịch học.
Điều trị: Để đạt hiệu quả cao, áp dụng phương pháp DOTS trong công tác
phòng chống lao trên toàn quốc (phác đồ hóa trị liệu ngắn ngày có kiểm soát).
Đối với bệnh nhân lao phổi và ngoài phổi mới sử dụng công thức: 2 SHRZ/
6HE hoặc 2 SHRZ/ 4RH.
Đối với bệnh nhân lao tái phát hoặc bệnh lao nghi có kháng thuốc sẽ dùng
công thức điều trị lại: 2 SRHZE/ 1 HRZE/ 5 R3H3E3.
Với trẻ em có công thức điều trị riêng: 2 RHZ/ 4RH.
Giai đoạn tấn công: bệnh nhân được dùng thuốc dưới sự giám sát chặt chẽ
của cán bộ y tế, tiêm và uống thuốc trước mặt thầy thuốc.
Giai đoạn duy trì: bệnh nhân tự dùng thuốc và có thể phát thuốc cho bệnh
nhân 2 tuần 1 lần hoặc hàng tháng.
Đối với công thức tái trị cần tổ chức điều trị tại tuyến tỉnh, nhằm đánh giá
mức độ kháng thuốc và giám sát chặt chẽ việc dùng thuốc của bệnh nhân đề
phòng lây lan chủng vi khuẩn kháng thuốc.
Trong thời gian điều trị bệnh nhân sẽ được xét nghiệm đờm, kiểm tra 3 lần
vào tháng thứ 2, tháng thứ 5 và cuối tháng thứ 7 để đánh giá kết quả điều trị.
Ghi chép, báo cáo: Thống nhất trong toàn quốc hệ thống ghi chép và báo cáo
mới đã sửa đổi theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới và Hiệp hội Chống
lao quốc tế. Cơ sở ghi chép báo cáo và cung cấp số liệu là tuyến huyện, định
kỳ báo cáo hàng quý theo quy định của Bộ Y tế. Trong những năm tới
Chương trình Chống lao quốc gia sẽ từng bước nối mạng thông tin từ tuyến
quốc gia tới tuyến tỉnh, song vẫn duy trì hệ thống ghi chép sổ sách, báo cáo và
l−u trữ như hiện nay.

phòng chống lao.
_Chương trình PATH: Từ năm 2008, PATH đã làm việc với nhiều đối tác
trong nước và quốctế nhằm nâng cao khả năng phát hiện và điều trị bệnh lao.
Chiến lược của PATH tại Việt Nam tập trung vào việc liên kết sức mạnh của
khối y tế công và tư trong phát hiện và điều trị bệnh nhân lao, cập nhật thông
tin và trao quyền cho các nhà hoạch định chính sách, giới truyền thông, cộng
đồng và những người chịu ảnh hưởng của bệnh lao.Tính đến năm 2014, đã có
hơn 6.000 người mắc lao đã được phát hiện thông qua các dự án của PATH.
KẾT NỐI CÁC CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ CÔNG VÀ TƯ
Tại Việt Nam, nơi gần 1/3 dịch vụ chăm sóc sức khỏe do khu vực tư
nhân cung cấp, phần lớn người dân thường tìm kiếm dịch vụ chăm sóc y tế
trước hết tại các phòng khám và nhà thuốc tư. Những người tìm kiếm dịch vụ
chăm sóc y tế tại những cơ sở này có rủi ro nhận dịch vụ chăm sóc và điều trị
lao không theo đúng các chuẩn mực quốc tế, điều này có thể là nguyên nhân
dẫn đến lao kháng thuốc.
Để đối phó với thách thức này, Việt Nam tập trung vào chiến lược phối hợp y
tế công – tư (PPM). PATH đang hợp tác với Chương trình Chống lao Quốc
Lồng ghép bệnh lao trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

24


gia (CTCLQG), Sở Y tế các tỉnh, và các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân triển
khai mô hình PPM tại 7 tỉnh/ thành phố.
Nhằm hỗ trợ phát hiện thêm nhiều bệnh nhân lao, PATH đã tiến hành
triển khai mô hình PPM trong chẩn đoán lao ở 7 bệnh viện tư và bệnh viện
công ngoài chương trình lao vào năm 2013 tại thành phố Hồ Chí Minh, Bình
Định, Hà Nội và Bà Rịa – Vũng Tàu. Mô hình chẩn đoán cho phép bệnh nhân
tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chẩn đoán lao tại các bệnh viện ngoài chương
trình lao. Bệnh nhân sau khi được chẩn đoán mắc lao tại các bệnh viện này sẽ


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status