ỨNG DỤNG MÔ HINH MIKE 21 NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ THỦY LỰC KHU VỰC NAM ĐÌNH VŨ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
*****

NGUYỄN MINH TÙNG

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG MÔ HINH MIKE 21 NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ THỦY
LỰC KHU VỰC NAM ĐÌNH VŨ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

HÀ NỘI, 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
*****

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG MÔ HINH MIKE 21 NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ THỦY
LỰC KHU VỰC NAM ĐÌNH VŨ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành:Khí Tượng Thủy Văn Biển
Mã ngành: 52440299
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Tùng
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Lan

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của em.
Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài là trung thực. Những tài



MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CÁM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
PHỤ LỤC

iii


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DĐMN

Dao Động Mực Nước.

DHI

Danish Hydraulics Institute

GMT

Giờ Mặt Trời tại đài thiên văn Hoàng Gia Greenwich tại
Greenwich, Luân Đôn, Anh. Nơi đây được quy ước nằm trên kinh
tuyến số 0.

KTTV


1. Tính cấp thiết của đề tài
Hải Phòng là một thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông
Thái Bình thuộc đồng bằng sông Hồng. Có hệ thống sông ngòi lớn với 5 cửa sông
mang 5 đặc trưng về thủy động lực khác nhau cho thấy sự đa dạng của khu. Nam
Đình Vũ (Bạch Đằng) là 1 trong số 5 cửa sông thuộc hệ thống sông ngòi của Hải
Phòng. Nam Đình Vũ hay còn gọi là tân cảng Đình Vũ, hiện là khu bến cảng
chính, cảng tổng hợp và cảng container của cụm cảng Hải Phòng. Nó nằm ở cửa
sông Bạch Đằng, trên bán đảo Đình Vũ, thuộc quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Là một trong những cảng có tầm quan trọng đặc biệt trong sự phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của nước ta. Đặc điểm nổi bật ở cửa sông Nam Đình
Vũ là bị chi phối mạnh mẽ bởi dòng chảy lũ từ trong sông. Thành phần này có mặt
và chiếm hầu như toàn bộ luồng lạch chính và một phần biển nông trước ngưỡng
của cửa sông (trước các bar chắn cửa sông). Tốc độ dòng chảy lũ rất cao nó lấn át
dòng triều vốn tồn tại không phụ thuộc vào chế độ mùa. Nước lũ chảy mạnh, đẩy
khối nước mặn về phía trước đỉnh bar. Tốc độ dòng chảy tổng hợp ở lòng dẫn cửa
sông đặc biệt mạnh khi triều rút xuống thấp, có thể đạt và vượt tốc độ 1 m/s. Do
độ dốc mặt nước trong sông lớn khi triều thấp và nước chảy trong lòng dẫn có
thiết diện nhỏ hẹp gây hiện tượng xói sâu lòng dẫn ở ngưỡng cửa sông, phá vỡ các
bar chắn cửa sông. Nam Đình Vũ nói chung đã được chú ý nghiên cứu từ khá sớm
nhằm thu thập những tư liệu phục vụ cho việc khai thác, sử dụng nguồn lợi, phát
triển kinh tế biển, phát triển kinh tế - xã hội trong vùng và đảm bảo an ninh quốc
phòng.
Để thực hiện các mục tiêu trên đòi hỏi phải có những khảo sát kỹ về các
điều kiện tự nhiên như địa chất địa mạo, các điều kiện về khí tượng, thủy văn, hải
văn, các chế độ thủy triều,... của khu vực. Trên cơ sở đó cần thiết có những nghiên
cứu tổng thể về các đặc trưng thủy lực của khu vực phục vụ việc xây dựng các
công trình ven biển, phục vụ công tác thăm dò và khai thác dầu khí và hơn hết là
phục vụ công tác quy hoạch phát triển vùng. Mặc dù vậy, so với các vùng cửa
sông khác của nước ta nói riêng và Biển Đông nói chung mức độ nghiên cứu ở đây
còn tương đối ít và riêng lẻ. Mức độ chi tiết và những biến động theo không gian
và thời gian của các đặc trưng chế độ thủy lực cần phải được tiếp tục nghiên cứu tỉ

1.1. Cơ sở lý luận
Cửa sông: Theo quan điểm động lực, D.W. Pritchard (1967) cho rằng “Cửa
sông là một thủy vực ven bờ nửa khép kín, liên hệ trực tiếp với biển và ở trong đó,
nước biển hòa trộn có mức độ với nước ngọt đổ ra từ các dòng lục địa”. Tuy nhiên
định nghĩa này không đúng với các hệ cửa sông mù và các cửa sông quá mặn. Vì
vậy, J.H.Day(1981) đã bổ sung và đề xuất một định nghĩa có nội dung rộng hơn”
Cửa sông là thủy vực ven bờ nửa khéo kín về mặt không gian, liên hệ trực tiếp với
biển một cách thường xuyên hay theo chu kỳ, trong đó độ muối biến đổi do sự hòa
trộn có mức độ của nước biển với nước ngọt đổ ra từ các dòng lục địa”.
Như vậy, vùng cửa sông là nơi tranh chấp mãnh liệt giữa đất liền và biển, ở đó
luôn xảy ra hai quá trình trái ngược nhau là bồi tụ và bào mòn. Hai quá trình này
xảy ra phụ thuộc vào các yếu tố thủy lực của dòng sông và dòng biển (Sóng, thủy
triều,…) và các quá trình địa chất.
Vùng ven bờ: Theo IUCN(1986), vùng ven bờ được định nghĩa như sau: “là
vùng ở đó đất và biển tương tác với nhau, trong đó ranh giới về đất liền được xác
định bởi giới hạn các ảnh hưởng của biển đến đất và ranh giới về biển được xác
định bởi giới hạn các ảnh hưởng của đất và nước ngọt đến biển”
Vùng ven biển (Coastal area): về mặt địa lý thì rộng hơn vùng ven bờ, đường
biên của nó mở rộng về phía đất liền hơn. Vùng ven bờ chỉ là một phần của khu vực
ven biển. Điều này rất quan trọng, đứng trên phương diện chức năng, bởi trong
nhiều quy trình về môi trường, nhân khẩu, kinh tế và xã hội trên thực tế bắt nguồn
từ vùng ven biển rộng lớn, tuy nhiên những biểu hiện của chúng chỉ thấy rõ trong
phạm vi vùng ven bờ.
Vùng cửa sông ven biển là vùng chịu sự tương tác giữa môi trường nước biển
và nước ngọt, hình thành nước lợ với sự pha trộn các tính chất của môi trường nước
biển và nước ngọt nội địa. Hoạt động thủy triều tác động lên vùng này hình thành
các hệ sinh thái thủy sinh vô cùng đa dạng và phong phú, có ảnh hưởng đến hoạt
động sản xuất và phát triển kinh tế của vùng. Vùng cửa sông ven biển là nơi nhận
nguồn dinh dưỡng hữu cơ dồi dào bắt nguồn từ các con sông cũng như được bổ


đồng bằng trước khi đổ ra biển với độ dài 97km và chuyền hướng chảy theo tây
bắc- đông nam. Từ nơi hợp lưu đo, các dòng sông chảy trên độ dốc ngày càng nhỏ,


và sông Thái Bình đã tạo ra mạng lưới chi lưu các cấp như sông Kinh Môn, Kinh
Thầy, Văn Úc, Lạch Tray,…đổ ra biển bằng 5 cửa sông chính gồm : cửa sông Bạch
Đằng, Văn Úc, Cấm, Thái Bình, Lạch Tray.
1.2.1. Tình hình nghiên cứu thế giới
Có rất nhiều các công trình nghiên cứu về động lực và hình thái bờ biển như:
“Động lực vùng bờ biển không có thủy triều” của Longinov V.V. (1963), “Địa mạo
bờ biển” của Leontyev O.K., Nikiforov L.G. và Safianov G.A. Các nghiên cứu về
quá trình biến đổi địa hình ở đới bờ là một trong những hướng phát triển của địa
mạo học. Trong giai đoạn đầu, việc nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở mức mô tả, tiếp
đó là đo vẽ. Trong quá trình đó, các nhà địa mạo nhận thấy rằng mỗi hình thái địa
hình ở đới bờ thường do một quá trình động lực chủ đạo tạo ra “hình thái nào, động
lực ấy” (quả nào thì nhân ấy).[11]
Tức là từ các thành tạo địa hình có thể phỏng đoán được các quá trình động
lực trong quá khứ đã tạo ra chúng. Sau này, từ nhu cầu thực tiễn, phải dự báo được
các quá trình phát triển của các dạng địa hình, đặt ra vấn đề phải hiểu biết các quá
trình động lực cũng như cơ chế thành tạo địa hình (động lực nào thì hình thái đó).
Theo hướng nghiên cứu này, việc mô phỏng các quá trình thủy-thạch động lực bằng
các mô hình toán là cần thiết. Nó cho phép các nhà nghiên cứu có thể tính toán các
trường động lực bằng các công thức toán học, giảm bớt khó khăn trong đo đạc thực
tế, nhất là trong thời gian xảy ra các hiện tượng thời tiết nguy hiểm.
Một số mô hình tính toán, dự báo các quá trình sóng, dòng chảy, vận chuyển
bồi tích và biến đổi địa hình được xây dựng ở các trường đại học và viện nghiên
cứu khác nhau như: WAMDI Group (1988); Guenther và đồng nghiệp (1992), mô
hình tính sóng vùng khơi WAM[12]; Tolman 1991, STWAVE; Young (1988), mô
hình tính sóng trong bão[13]; Ebersole, Cialone, and Prater 1986, mô hình tính sóng
vùng ven bờ: RCPWAVE, RDE, PBCG,… Nhìn chung, các mô hình đều được xây

đưa ra được một số kết quả phân tích các đặc điểm thủy động lực và môi trường thu
được chủ yếu từ đợt khảo sát ngày 22 tháng 8 đến 29 tháng 8 năm 2012 tại trạm
Hoàng Châu trên khu vực cửa Nam Triệu (Các đặc trưng thủy động lực sẽ bao gồm
dao động mực nước và cấu trúc dòng chảy, những đặc trưng môi trường chỉ bao
gồm độ muối và nồng độ trầm tích lơ lửng - sẽ được sử dụng khi thiết lập điều kiện
biên cho mô hình thủy động lực - môi trường). Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa có
tính xác thực, chưa có số liệu cụ thể, tất cả chỉ dừng lại ở lý thuyết, lập luận và chưa
có tính chất dự báo định hướng tương lai. Bên cạnh đó, tác giả kết luận rằng ảnh


hưởng của lưu lượng nước sông lên dao động mực nước trong thời gian ngắn hạn
hầu như không đáng kể. Đối với dao động dài hạn quy mô mùa trở lên, mức độ ảnh
hưởng cần được nghiên cứu kỹ hơn thông qua quan trắc đồng bộ, độ chính xác trên
cơ sở phân tích tương quan mực nước - lưu lượng dọc cửa sông kết hợp mô hình
thủy lực.[2]
Việc so sánh đồng thời biến trình hướng và vận tốc dòng chảy từ các kỳ
nước kiệt và nước cường cho ta thấy khoảng thời gian nước biển đi vào sông tăng
dần theo mức độ tăng của độ cao triều, đặc biệt tại tầng mặt khí hậu như tất cả 24
giờ đều quan trắc thấy nước từ sông chảy ra. Tác giả Đào Đình Châm và Nguyễn
Quang Minh đã đưa ra được những ý kiến nhận định về các yếu tố động lực tại khu
vực Hải Phòng trong đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu đánh giá chế độ thủy lực học
khu vực biển cửa sông Văn Úc - Thành Phố Hải Phòng”. Dòng chảy sông có ảnh
hưởng rất lớn đến dòng chảy chung ở vùng cửa sông vào mùa hè, mùa này thường
xảy ra các trận lũ lớn do mưa kéo dài ở thượng nguồn các con sông. Diễn biến dòng
chảy phụ thuộc vào quá trình phân phối nước trong hệ thống sông Hồng - sông Thái
Bình. Hơn nữa thủy triều cũng đóng vai trò quan trọng trong chế độ động lực chung
ở cửa sông: biên độ dao động mực nước tạo lên đới sóng vỡ và dải đất bùn chìm
ngập rất rộng ở khu vực cửa sông. Nó là một trong những yếu tố chủ yếu quyết định
nên sự hình thành, phát triển luồng lạch và các bãi bồi ven biển vực sông.[1]
Ở một khía cạnh khác trong tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển các tác giả



CHƯƠNG II
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu
Khu vực cửa sông Nam Đình Vũ thành phố Hải Phòng.

Hình 2.1: Vùng cửa sông Nam Đình Vũ – Hải Phòng
(Nguồn: Ảnh vệ tinh trích từ Google earth)
2.1.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Hải Phòng là một thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái
Bình thuộc đồng bằng sông Hồng có vị trí nằm trong khoảng từ 20 035’ đến 21001’ vĩ
độ Bắc và từ 106029’ đến 107005 kinh độ Đông. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh
Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình
và phía Đông là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là
Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và sông Thái Bình. Hệ thống vùng cửa
sông Hải Phòng có tiềm năng lớn về tài nguyên vị thế đối với phát triển kinh tế - xã


hội. Về tài nguyên địa – tự nhiên, đây là vị trí đầu mối của các hệ thống thủy đạo
sông – biển, vị trí chuyển tiếp giữa lục địa và biển, bản lề giữa ven bờ Đông Bắc và
đồng bằng châu thổ sông Hồng, là cửa ngõ của Bắc Bộ và Nam Trung Quốc. Đó là
các vùng cửa sông hình phễu và châu thổ điển hình, có cấu trúc nửa kín, hệ thống
luồng lạch sâu rộng, khá ổn định và có diện tích vùng triều rộng lớn. Vùng cửa sông
Hải Phòng có quá trình tiến hóa tự nhiên lâu dài, nằm ở ven biển nhiệt đới gió mùa
có điều kiện tự khá ổn định và thiên tai không quá khắc nhiệt. Đây còn là vùng có
các tài nguyên thiên nhiên khác phong phú và đặc biệt chế độ nhiệt triều đều biên
độ lớn mang lại nhiều lợi ích lớn về kinh tế. Về tài nguyên địa – kinh tế,VCSHP có
giá trị là cửa mở hướng biển ở ven bờ phía Bắc Việt Nam, có vai trò gắn kết Hải

từ áp cao phụ biển Đông Trung Hoa. Hai hệ thống này khi thì tác động luân phiên
xen kẽ, khi thì đồng thời tác động đã gây nên tình trạng biến động khá mạnh mẽ của
thời tiết trong mùa. Hệ thống gió mùa từ áp cao cực đới chiếm ưu thế vào các tháng


giữa mùa đông (khoảng tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau), lấn át hẳn hệ
thống tín phong. Trái lại vào những tháng đầu mùa đông ( khoảng tháng 11) và cuối
mùa đông (tháng 2-3) hệ thống tín phong lại vượt lấn át hệ thống cực đới. Do đó
trong thời kỳ mùa đông thời tiết thường có những giai đoạn lạnh (khô hay ẩm) đặc
trưng cho gió mùa cực đới (khi xuất hiện gió mùa đông bắc) xen kẽ với những ngày
nóng ấm đặc trưng của thời tiết tín phong. Trong mùa gió đông bắc với các hướng
thịnh là Bắc, Đông Bắc với vận tốc gió trung bình thường đạt 3,2 -3,7 m/s. Hàng
tháng trung bình có 3-4 đợt gió mùa đông bắc kéo dài từ 5-7 ngày, gây ra mưa nhỏ,
vận tốc gió những ngày đầu đạt đến cấp 5 -6 (tương đương 8-13m/s), vận tốc gió
lớn nhất ở các đảo có thể đạt tới 25 – 30m/s, sau đó giảm dần.
Bảng 2.1: Tần suất vận tốc gió và các hướng trung bình năm tại Hòn Dáu (1960 -2011)

Khoảng vận tốc (m/s)
Hướng
N
NNE
NE
ENE
E
ESE
SE
SSE
S
SSW
SW

2.17
1.15
6.70
2.05
3.44
1.02
1.72
0.39
0.39
0.04
0.17
0.07
0.62
0.49
23.91

3.0 4.0
1.55
0.46
1.32
0.88
5.33
1.31
2.09
0.94
1.79
0.44
0.43
0.04
0.06

0.28
1.08
0.16
0.22
0.25
0.86
0.25
0.10
0.00
0.01
0.01
0.03
0.05
3.87

6.0 7.0
0.14
0.06
0.10
0.13
0.41
0.07
0.08
0.10
0.37
0.14
0.07
0.00
0.01
0.00

6.03
10.13
3.91
7.68
2.10
1.84
0.22
0.74
0.34
2.61
2.06
83.44
16.56

Nguồn: Viện Tài nguyên và môi trường biển
2.1.1.3. Thủy Văn


Ở khu vực có tổng cộng ba cửa sông chính đổ ra biển là Lạch Huyện, Nam
Triệu, Lạch Tray và có bốn sông chính là Sông Yên Lập (nay thành hồ chứa), sông
Bạch Đằng (dài 42km, trung bình rộng 1km, sâu 8m); Sông Cấm (dài 37km, trung
bình rộng 400m, sâu 7m) và sông Lạch Tray (dài 43km, trung bình rộng 120m, sâu
4m)
Lượng nước của vùng châu thổ sông Hồng ảnh hưởng bởi gió mùa Tây Nam
(mùa hè), xoáy thuận nhiệt đới (mùa thu) và bão (hè thu). Thời kỳ nhiều nước kéo
dài từ tháng (VI – X), dòng chảy lớn nhất trên sông Hồng xuất hiện vào tháng VIII,
dòng chảy nhỏ nhất xuất hiện vào tháng III.
Hàng năm, hệ thống sông Hồng- Thái Bình cung cấp khoảng 120 tỷ m 3 nước
và 114 triệu tấn phù sa cho vùng ven bờ. Lượng vật chất này chủ yếu qua 9 cửa
sông chính: Bạch Đằng, Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình, Trà Lý, Ba Lạt, Ninh

Vùng cửa sông ven biển Hải Phòng là vịnh nước nông ven bờ có cấu tạo địa
hình đáy rất phức tạp do hệ thống val bãi ngầm và luồng lạch luôn biến động. Sóng
ở ngoài vùng nước sâu truyền vào bờ, do ảnh hưởng của ma sát đáy, các đặc trưng
của sóng (tốc độ lan truyền, độ cao, chu kỳ, độ dài) cũng như hướng vận động luôn
thay đổi. Vì vậy, chế độ sóng khác biệt hẳn với chế độ sóng vùng nước sâu cả về
hướng thịnh hành và cấp độ cao.
Trong thời kỳ mùa đông gió mùa NE (Đông Nam) hoạt động mạnh cả về tần
suất lẫn tốc độ, song do đảo Cát Hải, Cát Bà che chắn làm giảm khá lớn năng lượng
gió tác động lên mặt biển, hơn nữa đà sóng lại ngắn và độ sâu nhỏ nên ở khu vực
nghiên cứu sóng gió kém phát triển hơn so với ngoài khơi. Tuy nhiên vào thời gian
triều cương, sóng gió vẫn có điều kiện phát triển và khúc xạ lan truyền sóng vào
vùng ven bờ. Trong mùa này hướng sóng thịnh hành là E (Bắc) cà NE (Đông Nam).
Độ cao sóng trung bình đạt 0,5 – 0,6m. Độ cao sóng lớn nhất khoảng 2,0 – 2,5m, ở
khu vực ven bờ phía đông bán đảo Đồ Sơn độ cao sóng có thể lên tới 3,0m.
Về mùa hè chế độ sóng gió có đặc điểm ngược lại so với mùa đông cả hướng
lẫn cấp độ cao. Sóng gió có hướng thịnh hành, ảnh hưởng lớn đến quá trình thủy
động lực khu vực nghiên cứu là SE (Đông Nam) và S (Nam) với tần suất xuất hiện
cao. Đặc biệt trong các tháng VI, VII sóng gió hướng N (Bắc) chiếm ưu thế gây ảnh
hưởng mạnh đến xói lở bãi phía N bán đảo Nam Đình Vũ và đảo Cát Hải cũng như
khu vực luồng tàu. Độ cao sóng trung bình đạt 0,6m – 0,8m. Trong thời kỳ này
thường có bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào khu vực gây sóng to, gió lớn.


Bảng 2.2: Tần suất độ cao sóng và các hướng tại Hòn Dáu (1970-2011)
Hướng

0.3

0.5


0.13
0.12
0.26
0.31
0.06
23.63

-0.8
1.04
0.23
1.07
0.74
5.25
0.81
2.61
0.47
0.64
0.05
0.15
0.08
0.03
0.09
0.10
0.04
13.38

Khoảng độ cao (m)
0.8 1.0 1.5 - 2.0 -

2.5 -

0.02
0.01
0.00
0.00
0.00
0.00
0.00
0.00
0.00
0.00
0.00
0.04

3.0
0.01
0.00
0.01
0.01
0.04
0.01
0.02
0.00
0.01
0.01
0.01
0.01
0.00
0.00
0.00
0.00

2.30
0.15
0.37
0.40
0.01
0.04
0.03
0.01
12.81

2.0
0.07
0.03
0.09
0.06
0.29
0.10
0.31
0.20
0.44
0.02
0.07
0.06
0.00
0.01
0.01
0.00
1.74

2.5

biên độ dao động mực nước lớn tạo ra đới sóng vỡ và dải đất bùn chìm ngập rất
rộng ở khu vực cửa sông. Ngoài ra khi triều dâng – rút tạo ra dòng chảy tốc độ rất
mạnh ở ngưỡng cửa sông và ở giữa các cồn và cả ở bãi ngầm. Nó là một trong
những yếu tố chủ yếu quyết định nên sự hình thành, phát triển luồng lạch và các bãi
bồi ven biển cửa sông.


Khu vực ven biển cửa sông Nam Đình Vũ là nơi có chế độ nhật triều đều điển
hình với hầu hết số ngày trong tháng là nhật triều, trong một pha triều 25 giờ có một
lần nước lớn một lần nước ròng. Trong một tháng mặt trăng có hai kỳ nước cường,
mỗi kỳ 11 – 13 ngày, độ lớn triều dao động 2,6 -3,6m và hai kỳ nước kém, xen kẽ,
mỗi kỳ 3 – 4 ngày có độ lớn triều 0,5 – 1,0m. Mùa hè, triều mạnh vào các tháng 5,
6, 7, yếu vào các tháng 8, 9 và thường dâng cao vào buổi chiều. Mùa đông, triều
mạnh vào các tháng 10, 11, 12, yếu vào các tháng 3, 4 và thường dâng cao vào buổi
sáng. Độ lớn thủy triều thuộc loại lớn ở nước ta, trung bình 3,0m, cực đại 4,18m,
cực tiểu 1,75m.

Hình 2.3: Dao động mực nước tại Hòn Dáu tháng 1/2007Tại Hòn Dấu
(Nguồn: Trạm Nghiên Cứu Hòn Dáu - Hải Phòng)
Mực triều cực đại:

4,0m

Mực triều thấp nước kém 1,1m

Mực triều cao nước cường 3,6m

Mực triều thấp nước cường 0,4m

Mực triều cao nước kém

độ dòng chảy xuống cực đại 90cm/s và chảy lên cực đại 60cm/s. Phía ngoài vùng
cửa sông, dòng chảy triều yếu đi và vai trò dòng chảy mùa thể hiện rõ ràng. Mùa hè,
dòng chảy hướng đông bắc tốc độ 10-15cm/s, mùa đông dòng chảy hướng tây nam,
tốc độ 20-30cm/s.

Hình 2.4: Mô hình dòng chảy (Delf – 3D) sông Bạch Đằng tại tầng mặt giữa pha
triều xuống mùa Đông (kỳ nước cường 7h, 20/3/2009)
(Nguồn: Viện tài nguyên và môi trường)
Chế độ dòng chảy nước mặt được tính cho mùa khô (01/2007 và 3/2009) và
mùa mưa (6/2007 và 8/2009): tốc độ dòng chảy trong mùa mưa có xu thế chung lớn
gấp 2-3 lần mùa khô, thậm chí đến 5 lần tại khu vực sông Ruột Lợn khi triều xuống.


Mùa khô, tốc độ dòng chảy có giá trị trung bình 20 – 35 cm/s, giá trị cực đại có thể
đạt 80 cm/s, hướng dòng chảy theo trục lòng dẫn.
Thời gian chảy xuống chiếm 60 – 70%, tốc độ dòng chảy xuống cũng giảm
hẳn. Tốc độ dòng chảy hầu hết tại các khu vực hơn nhau không đáng kể, phía khu
vực thượng lưu của cửa sông Nam Đình Vũ có giá trị lớn nhất. Khu vực phía hạ lưu
dòng chảy xuống có hướng Tây Nam và dòng chảy có hướng ngược lại. Vào mùa
khô, tại khu vực phân lưu của cửa sông Chanh, do dòng chảy đổi hướng nên tốc độ
dòng chảy ở đây nhỏ hơn so với khu vực lòng dẫn chính của sông Bạch Đằng.
Mùa mưa tốc độ dòng chảy trung bình toàn bộ khu vực tính toán có giá trị đạt
30 – 35cm/s khi chảy lên và 40 – 50cm/s khi chảy xuống. Khi chảy xuống, dòng
chảy hạ lưu sông có sự hợp lưu của các sông Đác Bạc, Giá, Ruột Lợn và dòng triều
nên giá trị cực đại có thể đạt 100 – 120cm/s. Khu vực phân luuw tại cửa sông
Chanh và hợp lưu cửa sông Ruột Lợn giá trị vận tốc đáng kể trong cả khi chảy lên
và chảy xuống. Tốc độ dòng chảy thường lớn nhất khi triều đang xuống qua mực
triều trung bình.
Hàm lượng trầm tích lơ lửng trong nước vùng cửa sông biến thiên trong
khoảng rộng 10 – 1000g/m3. Vào mùa mưa, trầm tích lơ lửng khoảng 53 – 215g/m 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status