Ứng dụng các phần mềm để tạo phòng thí nghiệm ảo phục vụ giảng dạy - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN LÊ THÔNG

ỨNG DỤNG CÁC PHẦN MỀM ĐỂ TẠO PHÒNG THÍ NGHIỆM ẢO
PHỤC VỤ GIẢNG DẠY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
TOÁN TIN

Hà Nội – Năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN LÊ THÔNG

ỨNG DỤNG CÁC PHẦN MỀM ĐỂ TẠO PHÒNG THÍ NGHIỆM ẢO
PHỤC VỤ GIẢNG DẠY

Chuyên ngành: TOÁN TIN
Mã đề tài: TOAN-VINH17

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
TOÁN TIN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TSKH: LÊ HÙNG SƠN


bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên tôi để tôi có điều kiện tốt nhất trong học tập và
nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học Viên

Nguyễn Lê Thông


DANH MỤC VIẾT TẮT
Thuật ngữ/Từ viết

Mô tả

tắt
CNTT

Công nghệ thông tin

THCS

Trung học cơ sở

GD&ĐT

Giáo dục và đào tạo

VLab

Virtual laboratory

2.1.1. Bộ môn Toán học .................................................................................. 17
2.1.2. Bộ môn Hóa học .................................................................................... 18
2.1.3. Bộ môn Vật Lý ...................................................................................... 19
2.2. Ứng dụng các phần mềm dạy học để xây dựng phòng thí nghiệm ảo ........... 21
2.2.1. Phòng thí nghiệm hóa học với Crocodile chemistry .............................. 21
2.2.1.1 Đặt vấn đề ......................................................................................... 21
2.2.1.2. Giới thiệu về phần mềm và cách thiết kế thí nghiệm......................... 21
2.2.1.3. Nhận xét .......................................................................................... 25
1


2.2.2. Xây dựng phòng thí nghiệm ảo với Yenka ............................................. 26
2.2.2.1. Giới thiệu về phần mềm và cách sử dụng ......................................... 26
2.2.2.2. Nhận xét ........................................................................................... 38
2.2.3. Xây dựng phòng thí nghiệm ảo với Vlapb .............................................. 38
2.2.3.1. Giới thiệu về phần mềm và cách sử dụng ......................................... 38
2.2.4. Xây dựng phòng thí nghiệm ảo toán học với Skechpad .......................... 40
2.2.4.1. Giới thiệu về phần mềm và cách sử dụng phần mềm Sketchpad ....... 40
CHƯƠNG 3. PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG CHO PHÒNG THÍ NGHIỆM ẢO VỚI
NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH JAVA ......................................................................... 65
3. 1. Giới thiệu về ngôn ngữ lập trình ................................................................. 65
3.2. Phân tích thiết kế ........................................................................................ 66
3.3. Hệ thống giao diện chương trình .................................................................. 78
3.3.1. Màn hình giao diện chính của chương trình ........................................... 78
3.3.2. Môi trường cài đặt ................................................................................. 78
3.4. Kết quả đạt được và một số đánh giá ........................................................... 78
3.5. Một số định hướng nghiên cứu trong tương lai ............................................ 79
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 80

2

ảo trong thực tế
3


- Nghiên cứu xây dựng một ứng dụng nhằm mục đích phát triển khả năng tự thiết kế
bài thí nghiệm ảo theo tư duy sáng tạo chủ động không phụ thuộc vào thư viện phần
mềm khác.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về xây dựng phòng thí nghiệm ảo trong dạy học.
- Một số phần mềm xây dựng phòng thí nghiệm ảo các bộ môn đang được sử dụng
thực tiễn.
- Xây dựng một phòng thí nghiệm ảo của một bộ môn trên ngôn ngữ java, dựa trên
kiến trúc Webbase.
4. Nội dung luận văn
Luận văn được tổ chức thành các chương với các nội dung như sau:
- Chương 1. Tổng quan về thí nghiệm truyền thống và thí nghiệm ảo
- Chương 2. Ứng dụng một số phần mềm để xây dựng phòng thí nghiệm ảo và một
số ví dụ.
- Chương 3. Phát triển ứng dụng cho phòng thí nghiệm ảo với ngôn ngữ lập trình
java.

4


CHƯƠNG 1.

TỔNG QUAN VỀ THÍ NGHIỆM TRUYỀN THỐNG VÀ THÍ
NGHIỆM ẢO

1. Thí nghiệm truyền thống trong giảng dạy

để làm một việc gì, để đạt một mục đích nào đó và PTDH được hiểu là toàn bộ
những trang bị, đồ dùng, dụng cụ phục vụ việc giảng dạy và học tập. Đề cập tới
khái niệm ”PTDH” có ý kiến cho rằng PTDH là các công cụ nhằm truyền đạt những
thông điệp từ người dạy đến người học trong quá trình dạy học. Tuy nhiên, trong
thời đại CNTT phát triển như vũ bão hiện nay, khái niệm này đã không còn phù
hợp. Theo tác giả, ”PTDH” là toàn bộ những trang thiết bị, đồ dùng, dụng cụ phục
vụ việc giảng dạy và học tập, có tính tương tác được sử dụng nhằm hỗ trợ hiệu quả
trong quá trình truyền đạt của người dạy và quá trình lĩnh hội của người học.
Tóm lại, là các thí nghiệm truyền thống được thực hiện bằng các dụng cụ thí
nghiệm thật, các hoá chất thật
1.2. Những đặc điểm đặc trưng của thí nghiệm truyền thống.
Đối với các thí nghiệm truyền thống mà chúng ta đang áp dụng đó là hầu như
cần phải có phòng thí nghiệm, bao gồm các dụng cụ, hóa chất,... để thực hành các
thí nghiệm cho các lĩnh vực. Việc này đòi hỏi phải bỏ ra chi phí để xây dựng một
phòng thí nghiệm, hay ít nhất là mua thiết bị thí nghiệm.
1.3. Thí nghiệm ảo trong giảng dạy
1.3.1. Khái niệm về thí nghệm ảo
1.3.1.1. Thuật ngữ ”ảo”
Ngày nay thuật ngữ ảo được dùng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực, đặc biệt
là CNTT, Toán học, Vật lý học, Bảo tảng học,... Tuy nhiên, hiểu và vận dụng thuật
ngữ ảo thế nào là đúng ? nội dung đề cập dưới đây sẽ làm sáng tỏ điều đó.
Hiểu một cách chung nhất, theo từ điển tiếng Việt, ”ảo” có nghĩa là giống
như thật nhưng lại không có thật. Văn phòng ảo – một trong những giải pháp về
dịch vụ thương mại điện tử là một môi trường điện toán khác biệt với môi trường
điện toán khác biệt với môi trường làm việc của văn phòng truyền thống (Có địa
chỉ, trang thiết bị, kỹ thuật, con người...) nhưng các công việc (quản lý, nhân sự, và
các tiện ích cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như email, lịch làm việc,
danh bạ nhân viên) vẫn được tiến hành với đầy đủ các chức năng của một văn
phòng thực trên nền tảng ứng dụng công nghệ Internet.
6


7


mà chỉ có những lý thuyết được xây dựng cho từng loại mô hình. Theo lý thuyết này
có thể phân mô hình làm 2 loại sau:
+ Mô hình thực thể (mô hình vật lý)
Mô hình vật lý là một hệ thống được hình dung trong óc hay được thực hiện
một cách vật chất, hệ thống đó phản ánh những thuộc tính bản chất của đối tượng
nghiên cứu hoặc tái tạo nó, bởi vậy việc nghiên cứu mô hình sẽ cung cấp cho ta
những thông tin về đối tượng, ví dụ như mô hình động cơ đốt trong, mô hình dao
động,...nhìn chung mô hình vật lý thường được dùng trong thực nghiệm.
Căn cứ vào tiêu chuẩn cùng chất, giống về chất, khác về chất giữa nguyên
hình và mô hình mà người ta chia mô hình thực thể thành ba loại: Mô hình trích
mẫu- cùng chất với nguyên hình, mô hình đồng dạng – giống chất với nguyên hình,
và mô hình tương tự - khác chất với nguyên hình.
+ Mô hình khái niệm
Mô hình khái niệm là mô hình có tính chất hình thức, trừu tượng. Trong khoa
học kỹ thuật, mô hình toán học (mathematical model) là điển hình của loại mô hình
này. Mô hình toán học là mô hình khái niệm dưới dạng một cấu trúc hay một hệ
thức toán học. Việc nghiên cứu các mô hình toán học thường dựa trên cơ sở vận
dụng các lý thuyết toán học hiện đại kết hợp với CNTT.
+ Mô phỏng
Mô phỏng (Simulation) được ứng dụng rộng rãi trong kinh tế, kỹ thuật và
nhiều lĩnh vực khác. Trong khóa học và công nghệ, mô phỏng là con đường nghiên
cứu thứ ba, song song với nghiên cứu lý thuyết thuần túy và nghiên cứu thực
nghiệm trên đối tượng thực. Nó được sử dụng khi không thể, không cần hay không
nên thực nghiệm trên đối tượng thực.
Trong thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu về mô phỏng. Theo đó
cũng đã có nhiều quan điểm xung quanh khái niệm mô phỏng:

chương trình máy tính) thì mô phỏng được gọi là mô phỏng số hay còn gọi là mô
phỏng điện toán.

9


Bản chất của phương pháp mô phỏng số là xây dựng mô hình số và dùng
phương pháp số để tìm các lời giải bài toán. Chính vì vậy, máy tính số là công cụ
duy nhất và hữu hiệu để thực hiện việc mô phỏng điện toán là quá trình xây dựng
một mô hình logic toan shocj của một hẹ thống thực và thực nghiệm với mô hình ấy
bằng máy tính.
Trong Công nghệ dạy học ở nước ta hiện nay, ngoài các phương pháp quen
thuộc là hình vẽ, đồ dùng dạy học trực qua và các phương tiện nghe nhìn mà thầy
trò khó tham gia tạo dựng, cải tiến như phim, băng hình... do máy tính ngày càng
phổ biến, phương pháp mô phỏng bằng đồ họa vi tính đã trở nên phổ biến ở các
trường đại học, cao đẳng, trung học, tiểu học,...
Thí nghiệm ảo là tập hợp các tài nguyên số đa phương tiện dưới hình thức
đối tượng học tập, nhằm mục đích mô phỏng các hiện tượng vật lý, hóa học, sinh
học,... xảy ra trong tự nhiên hay trong phòng thì nghiệm, có đặc điểm là có tính
năng tượng tác cao, giao diện thân thiện với người sử dụng và có thể mô phỏng
những quá trình, điều kiện tới hạn khó xảy ra trong tư nhiện hay khó thu được trong
phòng thí nghiệm. Thí nghiệm ảo giúp giảm thiểu việc học chay, dậy chay thường
gặp do thiếu phương tiện, điều kiện thí nghiệm giúp người học chủ động học tập
phù hợp với tinh thần người học là trung tâm của giáo dục hiện đại.
Theo quan điểm giáo dục hiện đại, không có sự phân biệt giữa một đơn vị học tập
điện tử (đối tượng học tập – Learning Object) với một thí nghiệm ảo, hay một đơn
vị kiểm tra đánh giá. Thực chất các đơn vị này đều có tính năng tương tác người
học, khả năng đánh giá tiến độ người học theo mức độ đáp ứng các yêu cầu đề ra.
Cũng trên quan điểm như vậy, thí nghiệm ảo về thực chất không khác một trò chơi
giáo dục. Tuy nhiên để làm được điều này cần đảm bảo tính chất độc lập, hay mỗi

truyền thống. Các kịch bản phải được thiết kế chuyên dụng, không đơn thuần như
các slide bài giảng.
- Xây dựng khung thí nghiệm: Bước này mô hình hóa kịch bản, phân tích các cảnh,
các công cụ sử dụng trong kịch bản, xây dựng các mô hình, phân tích các tượng tác
của thí nghiệm.
- Xây dựng thí nghiệm: Sau khi đã xây dựng được khung thí nghiệm, kết hợp các
11


dụng cụ, tương tác, các cảnh trong kịch bản… lắp ghép các công cụ lại thành 1 thí
nghiệm hoàn chỉnh.
- Hiểu chỉnh: Bước này nhằm tinh chỉnh, kiểm tra, xem xét lại toàn bộ thí nghiệm
xem đã thể hiện đúng bản chất của sự việc hay chưa?… Tại bước này thí nghiệm
được kiểm tra cẩn trọng, tỷ mỉ nhằm phát hiện ra các phần còn thiếu sót của thí
nghiệm.
+ Điểm mạnh của thí nghiệm ảo
Dễ dùng, trực quan sinh động: Giao diện thân thiện, dễ dùng với âm thanh
và hình ảnh trực quan sinh động, học sinh không chỉ được nhìn, xem, còn có cơ hội
tham gia thực sự các thí nghiệm ảo qua các thao tác đã được trực quan hóa với
những thiết bị ảo, đây chính là một điểm mạnh của phần mềm so với những bài
giảng power point truyền thống. Tính chủ động của học sinh, sinh viên tăng lên do
có thể tự học ở nhà trên đĩa CD hay web trong khi giáo viên có thể sử dụng trên lớp
như giáo cụ trực quan minh họa cho bài giảng, do đó khắc phục được phần nào về
tình trạng thiếu thiết bị, nguyên vật liệu thí nghiệm như hiện nay.
Tăng hứng thú và tính chủ động: Để hỗ trợ tự học, một giáo viên ảo với
giọng nói truyền cảm sẽ giúp sinh viên trong khi học, giáo viên ảo có thể bầy tỏ thái
độ, khuyến khích hay chê trách giúp sinh viên dễ định hướng kiến thức trong khi
học.Sự kết hợp hài hòa giữa câu hỏi trắc nghiệm truyền thống (lựa chọn, đúng sai,..)
với hình thức trắc nghiệm kỹ năng giàu tính tương tác thu hút chú ý và tăng tính chủ
động người học. Giao diện học tập được tính toán yếu tố mầu sắc, tiện lợi và chiến

phục được nhược điểm của thí nghiệm thật: Trong trường hợp giáo viên làm thí
nghiệm thật trên lớp cho học sinh quan sát thì hầu như các dụng cụ thí nghiệm đều
nhỏ, lớp học đông, phòng học rộng... Như vậy khi làm thí nghiệm thì không phải tất
cả các học sinh trong lớp đều có thể quan sát dễ dàng được, các em ở cuối lớp chỉ
có thể nghe giáo viên nói mà không thể nhìn được thí nghiệm giáo viên làm như thế
nào và chỉ có một số học sinh ở bàn trên mới có thể quan sát rõ thí nghiệm. Trong
khi đó thí nghiệm ảo được thực hiện trên một màn chiếu, mà thông thường màn
chiếu được đặt sao cho tất cả học sinh trong lớp học có thể nhìn rõ tất cả những gì
thực hiện trên đó, đồng thời giáo viên hoàn toàn có thể chỉnh kích cỡ của dụng cụ
thí nghiệm cho đủ lớn để cho cả lớp đều có thể quan sát rõ ràng kể cả các em ngồi ở
cuối lớp học.Tiếp theo nói tới vấn đề an toàn của thí nghiệm, với một số thí nghiệm
13


hoá học nếu làm với các hoá chất thật, đôi khi do sơ xuất để xảy ra cháy nổ không
mong muốn, nhưng với thí nghiệm ảo thì các thí nghiệm hoàn toàn an toàn, không
lo cháy nổ ngoài dự định của giáo viên và học sinh, nếu có hiện tượng nhầm hoá
chất diễn ra trên máy vi tính thì hiện tượng xảy ra chỉ là mô hình cháy nổ trong máy
chứ không phải là thật nên rất an toàn. Hơn nữa thí nghiệm thực tế không phải thí
nghiệm nào cũng thành công mỹ mãn, nhưng với thí nghiệm ảo do đã được lập trình
sẵn nên có thể nói gần như tất cả các thí nghiệm đều chuẩn xác, thực hiện thí
nghiệm đem lại hiệu quả như mong đợi. Một vấn đề nữa là công tác chuẩn bị công
cụ thí nghiệm, với chương trình đổi mới giáo dục như hiện nay thì trong chương
trình phổ thông cơ sở, hầu như tiết học nào cũng có thí nghiệm. Với một thí nghiệm
đơn giản, ít dụng cụ thì giáo viên có thể dễ dàng chuẩn bị dụng cụ, dễ dàng chuyển
từ lớp học này sáng lớp học khác. Tuy nhiên với một thí nghiệm mà các dụng cụ
kồng kềnh thì đây lại không phải là một điều đơn giản. Còn với thí nghiệm ảo thì
giáo viên hoàn toàn không phải lo lắng gì về vấn đề này, các dụng cụ có sẵn trong
máy vi tính giáo viên chỉ cần một lần thực hiện đưa phần mềm thiết kế thí nghiệm
vào trong máy và cài đặt chương trình, như thế lần sau sẽ hoàn toàn yên tâm về

Nếu như bài giảng truyền thống là sự tương tác giữa thầy và trò thông qua các
phương pháp, phương tiện và hình thức dạy - học truyền thống thì bài giảng điện tử
là sự tương tác giữa thầy và trò thông qua các phương pháp, phương tiện và hình
thức dạy - học có sự hỗ trợ của CNTT. Do đó, có rất nhiều mức độ tham gia của
CNTT trong một bài giảng điện tử.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một chuẩn mực nào để đánh giá “bài giảng
điện tử”. Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng đơn vị mà mức
độ “bài giảng điện tử” sẽ khác nhau. Hiện nay bài giảng điện tử được giảng viên tạo
ra bằng cách sử dụng những phần mềm tạo bài giảng điện tử, ví dụ như Adobe
Presenter, Captivate, Articulate, Camtasia... Mỗi bài giảng thường có âm thanh lời
giảng, hình ảnh, video...được sắp xếp theo logic sư phạm để cung cấp cho người
học những kỹ năng, kiến thức nhất định. Người học có thể ngồi bất cứ đâu và bất cứ
thời gian nào cũng có thể học được, chỉ cần có mạng Internet, máy tính hay điện
thoại... Ngoài vấn đề kiến thức, một điều rất quan trọng của bài giảng điện tử là phải
tạo được hứng thú cho người học.
15


Thí nghiệm ảo cũng giống với bài giảng điện tử, ngoài ra, một ưu điểm của
thí nghiệm ảo trên máy tính là có thể giả lập những tình huống, điều kiện tới hạn,
khó xảy ra trong thế giới thực giúp người học nắm được bản chất của vấn đề. Tuy
nhiên, thí nghiệm ảo không thể thay thế được kinh nghiệm thực tiễn, hãy thử tưởng
tượng phi công lái máy bay hạ cánh khi chỉ toàn thực tập trên mô hình ảo, hay một
bác sĩ phẫu thuật mỗ tim trong khi lại chỉ toàn kinh nghiệm với dao mổ ảo trên máy
tính.
Thí nghiệm ảo và bài giảng điện tử gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể tách
rời, thí nghiệm ảo giúp tăng hiệu quả giáo dục, huấn luyện của bài giảng điện tử qua
tính năng tương tác cao với người tiến hành thí nghiệm, với hệ thống trong khi bài
giảng điện tử giúp xâu chuỗi các thí nghiệm ảo theo một trình tự logic, mang tính
giáo dục.

thông tin trong dạy học là một việc làm quan trọng trong việc đổi mới phương pháp
dạy học trong giai đoạn hiện nay.

17


2.1.2. Bộ môn Hóa học
Hóa học là một môn khoa học gắn liền với thực nghiệm với nhiều phản ứng
thú vị nhưng cũng không kém phần nguy hiểm.
Hiện nay, trong các trường phổ thông trung học và cơ sở việc tiến hành thí
nghiệm phần lớn là do giáo viên làm và biểu diễn trực quan. Học sinh rất ít khi
được tự tay tiến hành một thí nghiệm. Đặc biệt có một số trường việc tiến hành thí
nghiệm minh họa bài học không có, học sinh phải tự tưởng tượng thí nghiệm. Do đó
việc nắm vững và sử dụng kiến thức hóa học của học sinh gặp nhiều khó khăn.
Đối với giáo viên dạy Hóa nếu không có thí nghiệm trực quan minh họa cũng
sẽ rất khó khăn trong việc giảng dạy.
Có một số trường trang bị đầy đủ phòng thí nghiệm và có điều kiện để cho
học sinh thực nghiệm nhưng cũng không thường xuyên tiến hành thí nghiệm vì
nhiều lí do khác nhau.
- Thứ nhất, việc tiến hành thí nghiệm phải được chuẩn bị kỹ càng và mất
nhiều thời gian. Giáo viên phải chuẩn bị và tiến hành trước. Điều này gây lên tâm lí
ngại làm thí nghiệm ở giáo viên.
- Thứ hai, học sinh thường không lường trước được sự nguy hiểm của các
phản ứng nên có thể xảy ra sự cố trong phòng thí nghiệm do học sinh nghịch ngợm
hóa chất.
- Thứ ba, có những phản ứng đặc biệt nguy hiểm nếu thao tác không chính
xác sẽ gây ra tai nạn.
Vậy vấn đề đặt ra là làm sao vẫn có thể tiến hành các thí nghiệm để học sinh
hiểu và nắm vững bài học nhưng vẫn tiết kiệm thời gian và không gây nguy hiểm.
+ Cách xây dựng thí nghiệm ảo hóa học trong môi trường 3D:

trợ tích cực cho bài giảng, giúp cho học sinh hiểu và nắm chắc kiến thức, mà còn
tạo được hứng thú trong giờ học. Hiểu rõ tầm quan trọng đó, trong những năm vừa
qua, một mặt hàng năm , Bộ và sở GD&ĐT, các cấp, các ngành có chương trình đào
tạo, tập huấn bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho giáo viên nói chung và giáo viên
môn vật lý nói riêng, đổi mới chương trình sách giáo khoa, cải tiến phương pháp
dạy và học, bên cạnh đó, còn tạo mọi điều kiện cơ sở vật chất với khả năng có thể
cao nhất, tăng cường trang thiết bị dạy học, dụng cụ thí nghiệm , tạo tiền đề tốt cho
hoạt động dạy và học.

19


Trong những năm vừa qua, giáo viên đã cố gắng rất nhiều trong hoạt động
dạy và học, bằng cách thiết kế bài giảng có câu hỏi gợi mở để học sinh thấy đích mà
vươn tới. Vì vậy tiết nào cũng phải có đồ dùng dạy học. Học sinh phấn khởi vì được
trực tiếp làm thí nghiệm nghiên cứu hiện tượng, được tự mình tìm ra quy luật tự
nhiên.
Tuy nhiên, để có được một tiết dạy như vậy còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố, cộng với sự nhiệt tình hết mình, tìm tòi, sáng tạo của giáo viên mới có thể mang
lại kết quả tốt đẹp. Một mặt dụng cụ thí nghiệm mang lại hiệu quả và hỗ trợ rất tốt
cho bài học, mặt khác nếu thí nghiệm, vì những lý do khác nhau lại không cho kết
quả như mong muốn sẽ gây mất hứng thú cho học sinh, tác động không tốt đến bài
giảng, nếu không muốn nói là phản tác dụng. Thí dụ như bộ quang học rất khó tạo
ra được hai tia sáng song song. Sự tạo thành ảnh của các thấu kính cũng khó thu
được được hình ảnh rõ nét... Nguyên nhân là do chất lượng đồ dùng dạy học của
chúng ta chưa cao. Một số thí nghiệm khác không gây được ấn tượng cho học sinh ,
thí dụ như hiện tượng dẫn nhiệt, mắt thường không thể nhận biết được sự truyền
nâng lượng. Một nguyên nhân khác nữa cũng làm cho thí nghiệm trong điều kiện
thông thường không thể thực hiện được: Thời gian, đối với một tiết học chỉ giới hạn
trong 45 phút, vừa phải truyền đạt kiến thức cơ bản, vừa phải tiến hành thí nghiệm,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status