Tæng C«ng ty DÇu khÝ ViÖt Nam
§Þa chÊt vμ
tμi nguyªn dÇu khÝ
ViÖt Nam
Hμ Néi, 2005
§Þa chÊt vμ
tμi nguyªn dÇu khÝ
ViÖt Nam
Ban biên soạn
Chủ biên:
Nguyễn Hiệp
Phó chủ biên:
Nguyễn Văn Đắc
Ban th ký:
Nguyễn Quang Bô, Trần Đức Chính, Trịnh Xuân Cờng, Nguyễn Hồng Minh,
Nguyễn Trọng Tín, Lê Văn Trơng, Vũ Trụ
Các uỷ viên:
Đỗ Bạt, Nguyễn Quang Bô, Trần Đức Chính, Lê Văn Cự, Trịnh Xuân Cờng, Hong Ngọc Đang, Phan
lẫn cơ sở vật chất, kỹ thuật và nhất là con người, ngày hôm nay, với việc triển khai mạnh
mẽ các dự án trọng điểm Nhà nước trong lónh vực khí, chế biến dầu khí và hoá dầu đã thực
sự hình thành một ngành công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh từ thăm dò khai thác, chế biến và
phân phối các sản phẩm dầu khí tới thương mại, tài chính và dòch vụ dầu khí..., đang phát
triển ổn đònh và đạt được những kết quả đáng khích lệ trên tất cả các lónh vực họat động.
Trong lónh vực thăm dò khai thác, đã xác đònh và chính xác hóa cấu trúc đòa chất, tiềm
năng dầu khí các bể trầm tích quan trọng của đất nước như: Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu
Long, Nam Côn Sơn, Malay-Thổ Chu và Tư Chính-Vũng Mây; Đã đánh giá được nguồn tài
nguyên dầu khí của Việt nam khoảng 4,0-4,5 tỷ m3 quy dầu. Trên 70 mỏ/cấu tạo đã được
phát hiện có chứa dầu khí với nguồn trữ lượng đã phát hiện đạt khoảng 1,25 tỷ m3 quy dầu.
Một loạt các mỏ dầu khí đạt giá trò thương mại đã được thẩm lượng và khẳng đònh như: Bạch
Hổ, Rồng, Đại Hùng, Hồng Ngọc, Rạng Đông, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Lan Tây, Lan Đỏ,
Hải Thạch, Rồng Đôi-Rồng Đôi Tây, Cái Nước, Bunga-Kekwa, Kim Long, Ác Quỷ, Cá
Voi…. Trong số đó, 10 mỏ dầu khí đã, đang được phát triển và khai thác an toàn, sản lượng
khai thác liên tục tăng, trong năm 2004 đã đạt 26,75 triệu tấn quy dầu, góp phần quan trọng
đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng ổn đònh cho nền kinh tế quốc dân. Các phát hiện dầu
khí mới đang được tích cực thẩm lượng để có thể sớm đưa vào phát triển và khai thác trong
các năm tới.
iii
Đóng góp vào thành tích chung đó, cuốn sách “ Đòa chất và tài nguyên dầu khí Việt
Nam” do tập thể các tác giả của nhiều thế hệ các nhà đòa chất-đòa vật lý giầu tâm huyết của
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam và Hội Đòa chất Dầu khí Việt Nam biên soạn mà các bạn
đang có trước mặt là một mốc son quan trọng nữa đánh dấu chặng đường 30 xây dựng và
phát triển của ngành dầu khí Việt nam.
“Đòa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam” là công trình chuyên khảo đầu tiên tổng
hợp một cách đầy đủ và toàn diện những thành tựu nghiên cứu, kết quả tìm kiếm thăm dò
và khai thác dầu khí được tiến hành ở Việt Nam suốt gần một nửa thế kỷ vừa qua. Cuốn
sách là tài liệu tham khảo q giá cho các nhà nghiên cứu, các kỹ sư thăm dò, khai thác dầu
VIỆT NAM VÀ CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU, TÌM KIẾM, THĂM DÒ
VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ
Chương 1 : Việt Nam, một số nét chủ yếu
1
Nguyễn Hiệp
Chương 2 : Hoạt động điều tra đòa chất, thăm dò và khai thác dầu khí
11
Nguyễn Hiệp, Trần Văn Trò, Vũ Văn Minh
Chương 3 : Tổng quan về tài nguyên dầu khí của Việt Nam
35
Nguyễn Văn Đắc
PHẦN 2
KIẾN TẠO KHU VỰC VÀ CÁC BỂ TRẦM TÍCH CỦA VIỆT NAM
Chương 4 : Kiến tạo Việt Nam trong khung cấu trúc Đông Nam Á
63
Ngô Thường San, Lê Văn Trương, Cù Minh Hoàng, Trần Văn Trò
Chương 5 : Các bể trầm tích Kainozoi Việt Nam
105
Chương 10 : Bể trầm tích Nam Côn Sơn và tài nguyên dầu khí
Nguyễn Giao, Nguyễn Trọng Tín
Chương 11 : Bể trầm tích Malay - Thổ Chu và tài nguyên dầu khí
Trương Minh, Trònh Xuân Cường
Chương 12: Bể trầm tích Tư Chính - Vũng Mây và tài nguyên dầu khí
Nguyễn Quang Bô
Chương 13: Nhóm bể trầm tích Trường Sa và tài nguyên dầu khí
Trần Đức Chính, Lý Trường Phương, Nguyễn Hiệp
Chương 14: Bể trầm tích Hoàng Sa và tài nguyên dầu khí
Trần Đức Chính, Nguyễn Quý Hùng
PHẦN 4 ĐỊA CHẤT VÀ TÀI NGUYÊN DẦU KHÍ TRƯỚC KAINOZOI
Chương 15: Các bể trầm tích trước Kainozoi và tài nguyên dầu khí
Phan Trung Điền
KẾT LUẬN
THUẬT NGỮ
CHỮ VIẾT TẮT, ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG VÀ CHUYỂN ĐỔI
vi
311
357
397
419
439
453
519
527
537
Việt Nam, cho nên khi cần thiết bạn đọc có thể tham khảo các kết quả nghiên cứu đòa chất
Việt Nam đã được công bố hoặc lưu trữ trong ngành đòa chất Việt Nam.
Khi soạn thảo quyển sách này chúng tôi đã gặp một số khó khăn. Khó khăn đầu tiên là
phải tổng hợp một khối lượng tài liệu rất lớn của nhiều năm, không đồng bộ về phương pháp
cùng chất lượng, mức độ nghiên cứu ở các vùng cũng rất khác nhau, có những vùng mức độ
tìm kiếm thăm dò khá chi tiết, nhưng cũng còn những vùng mức độ khảo sát đòa chất mới sơ
bộ, chưa có các khoan thăm dò. Mặt khác khoa học đòa chất dầu khí cũng như khoa học đòa
vii
chất nói chung, cùng một sự kiện nhưng có nhiều quan điểm, lý giải khác nhau. Chúng tôi
tạm chọn những quan điểm, những ý kiến được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận, nhưng vẫn
nêu những quan điểm, ý kiến khác được xem là những vấn đề còn “mở” cần được tiếp tục
nghiên cứu với hy vọng khi có thêm các tài liệu, khi công nghệ khoa học kỹ thuật được cải
tiến, các vấn đề đó sẽ được giải quyết chính xác hơn, đúng đắn hơn.
Khó khăn thứ hai gặp phải là sử dụng các thuật ngữ khoa học và Việt hoá các thuật ngữ
khoa học nước ngoài như thế nào? Chúng tôi chọn cách sử dụng có chọn lựa, có chỉnh sửa
các thuật ngữ trong quyển Từ điển Đòa chất Anh – Việt của nhà xuất bản Từ điển Bách khoa
(Hà Nội – 2001) và Từ điển Dầu khí Anh-Nga-Việt, Nga-Anh của nhà xuất bản Lao động
Xã hội (Hà Nội – 2004), cũng như đề xuất những thuật ngữ mới chưa có trong những quyển
sách trên. Để tiện đối chiếu, chúng tôi liệt kê danh sách các thuật ngữ này kèm theo các
thuật ngữ tiếng Anh tương ứng.
Khó khăn thứ ba là từ trước đến nay trong ngành dầu khí chưa có quy đònh thống nhất về
chuẩn hoá các hình vẽ, ký hiệu, các chữ viết tắt vv…, cho nên mỗi tác giả, mỗi công ty dầu
khí có cách diễn tả theo kiểu của mình. Để có sự thống nhất trong cùng một quyển sách,
chúng tôi cũng phải đề xuất chuẩn hoá các ký hiệu dựa trên sự tham khảo thông lệ sử dụng
của các công ty dầu khí thế giới.
Khó khăn thứ tư là các bản vẽ tham khảo từ các nguồn văn liệu nước ngoài không có
điều kiện về thời gian để chuyển đổi sang tiếng Việt và một số bản vẽ được thành lập trước
đây còn sử dụng một số thuật ngữ theo cách cũ cũng chưa có điều kiện để thành lập lại. Mặt
được trước.
Như trên đã trình bày, quyển sách này là chuyên khảo đầu tiên về đòa chất dầu khí ở
Việt Nam. Vì thời gian và trình độ có hạn chắc chắn là không thể tránh khỏi thiếu sót, Ban
Biên soạn xin hoan nghênh mọi ý kiến góp ý (xin gửi về Hội Đòa chất Dầu khí Việt Nam)
để lần tái bản sau sẽ được sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện hơn.
HỘI ĐỊA CHẤT DẦU KHÍ VIỆT NAM
BAN BIÊN SOẠN
ix
Chương
1
Việt Nam,
một số nét
chủ yếu
Chương 1. Việt Nam, một số nét chủ yếu
Việt Nam là một quốc gia ở Đông Nam Á có lòch sử trên bốn nghìn năm xây dựng và phát
triển, trải qua nhiều cuộc đấu tranh chống thiên tai và giặc ngoại xâm. Từ tháng 5 năm 1975
Việt Nam thống nhất từ Bắc chí Nam, vừa hàn gắn vết thương chiến tranh vừa phát triển đất
nước, đứng vào hàng ngũ các nước đang phát triển trên thế giới.
1. Đòa lý Việt Nam
Việt Nam nằm ở phía Đông của bán đảo
vó độ Bắc đến 23 02’ vó độ Bắc, kéo dài từ
Bắc trải rộng từ thung lũng sông Lô – sông
Lũng Cú (huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang)
Gâm đến tận bờ biển Quảng Ninh có hình
đến xóm Mũi (huyện Năm Căn tỉnh Cà
dạng các cánh cung lồi ra phía biển (cánh
Mau). Đất nước có chiều dài khoảng 4 lần
cung sông Gâm, cánh cung Ngân Sơn, Yên
chiều rộng. Nơi rộng nhất chừng 500 km
Lạc, Bắc Sơn và cánh cung Đông Triều).
0
(Móng Cái, Quảng Ninh - Điện Biên); nơi
Dãy Trường Sơn chạy từ Nam cao
hẹp nhất khoảng 50 km (từ biên giới Việt –
nguyên Xiêng Khoảng (Lào) cho đến cực
phẩm bồi tụ của hệ thống sông Hồng sông
Thổ Chu… ở vònh Thái Lan.
Thái Bình. Diện tích của toàn châu thổ tính
Khoảng hai phần ba diện tích lãnh thổ
từ đường bình độ 25m trở xuống là khoảng
3
Đòa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam
Hình 1.1. Việt Nam trong Đông Nam Á
15.000 km2, hiện nay vẫn tiếp tục được bồi
Đòa hình thềm lục đòa khác nhau ở phần
thêm ra phía biển ở khu vực bờ biển Ninh
Bắc, Trung và Nam của biển Đông. Đòa
Bình khoảng 100 m/năm.
hình đáy biển từ Móng Cái đến Hải Phòng
Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích
đòa tương đối đơn giản, thoải dần từ bờ ra
được phân bố từ Thanh Hóa đến Phan Thiết;
khơi.
là sản phẩm bồi tụ của các con sông chảy
Từ nam Nghệ Tónh đến Đà Nẵng xuất
từ sườn Đông Trường Sơn xuống biển.
hiện các dãy đê cát ngầm chạy song song
Việt Nam được bao bọc bởi Biển Đông,
với đường bờ, còn ở phía ngoài khơi các
có hai vònh lớn là Vònh Bắc Bộ và Vònh
dạng đòa hình âm dương xen kẽ phức tạp
Thái Lan. Diện tích của Biển Đông khoảng
(Hình 1.2).
3,5 triệu km .
Thềm lục đòa miền Trung rất dốc, đường
Lưỡi Liềm, Vónh An và Macclesfield.
tương đối phẳng, xen kẽ đòa hình âm có đáy
Quần đảo Trường Sa nằm trong khoảng
rộng.
50 đến 120 vó Bắc trên cao nguyên ngầm bò
Quần đảo Hoàng Sa nằm trong khoảng
chia cắt có diện tích lớn hơn 300.000 km2.
5
Đòa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam
Quần đảo bao gồm hàng trăm đảo nổi, đá,
bãi nông, bãi ngầm với hơn 130 nơi đã được
đặt tên, được chia thành 8 cụm lớn là Song
Tử, Thò Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn,
Bình Nguyên, Trường Sa và Thám Hiểm
(theo Biển Đông, tập III, Đòa chất-Đòa vật
Hình 1.3. Bản đồ khí hậu Việt Nam (Theo Atlat đòa lý Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, 2004)
6
km2 rừng nguyên thuỷ), rừng thường xanh
đến vó tuyến 180 Bắc) chòu ảnh hưởng của
khô đòa hình thấp (10 nghìn km2), rừng
khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông
thường xanh ở núi (8 nghìn km2), rừng rụng
lạnh. Mặc dù chỉ có 3 tháng nhiệt độ trung
lá (3 nghìn km2), rừng khô họ Dầu (2 nghìn
bình dưới 200C nhưng cũng có không ít ngày
km2), rừng núi đá vôi (2 nghìn km2), rừng
rét đến 50C. Mùa hè là mùa mưa kéo dài từ
lá kim (gần 2 nghìn km2), rừng ngập mặn
tháng 4 đến tháng 10, là mùa có tháng có
(trên 1 nghìn km2)…
nhiệt độ cao nhất trong năm (trung bình 31-
Việt Nam là một đất nước có 54 dân tộc
dân số, Công giáo 8%, tín ngưỡng bản đòa
khoảng 3-40C. Hai mùa mưa và khô phân
(Cao Đài, Hoà Hảo..) Tin lành, Hồi giáo.
biệt rõ rệt hơn ở miền Bắc. Mùa mưa từ
Dân số Việt Nam đã vượt qua con số 82
tháng 4-5 đến tháng 10-11. Lượng mưa rơi
triệu người (2004). Mức tăng trưởng dân số
chiếm đến 90% lượng mưa trong năm. Có
khoảng 1,4-1,8%/năm. Tháp tuổi dân số là
ít bão.
tháp tuổi trẻ, đặc trưng cho các nước đang
Miền Trung và Nam Trung Bộ có khí
phát triển. Mật độ dân cư trung bình trong
hậu chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu
cả nước là 250 người trên 1 km2. Nhưng
mỏ và điểm quặng với khoảng 60 chủng
sông lớn, đó là các hệ thống sông Hồng,
loại khoáng sản. Quặng sắt với tổng trữ
sông Cửu Long, sông Thái Bình, sông Kỳ
lượng tài nguyên dự báo 1,2 tỷ tấn; 22,82
Cùng- Bằng Giang, sông Mã, sông Cả,
triệu tấn oxyt crôm; 22 triệu tấn titan; 3,6
7
Đòa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam
tỷ tấn than; 6 tỷ tấn bauxit; 0,1 triệu tấn
Về lập pháp có Quốc hội là cơ quan có
thiếc-wonfram; 1,2 triệu tấn đồng; 0,152
quyền lực cao nhất.
triệu tấn nikel; 2,92 triệu tấn chì, hàng trăm
Về tư pháp có Viện Kiểm sát Nhân dân
km đường đô thò, 5.451 km đường chuyên
Tiềm năng nước dưới đất của Việt Nam
dùng. Các con đường này phải đi qua 5.802
rất lớn, tổng trữ lượng động tự nhiên toàn
cầu và nhiều bến phà.
lãnh thổ chưa kể phần hải đảo là 1.513.445
Tổng chiều dài đường sắt ở Việt Nam
m3/sec. Còn tổng trữ lượng khai thác nước
là 3.259,5 km.
dưới đất trên cơ sở kết quả tìm kiếm thăm
Hệ thống đường sông dài khoảng 90-10
dò ở 136 vùng trên toàn quốc với trữ lượng
nghìn km, kể cả các kênh rạch, hệ thống
đã được phê duyệt cấp A+B là 1.946.869
m3/ngày, cấp C1 là 2.780.637 m3/ngày, cấp
Hàng không Việt Nam đang mở rộng
(công suất trên 10 MW) trên 31 sông và
không gian bay. Cả nước có 3 sân bay quốc
đoạn sông là 72 tỷ kwh/năm với công suất
tế và 12 sân bay nội đòa.
Bưu chính viễn thông Việt Nam đang
17.566 MW [theo 4]
được phát triển với tốc độ nhanh và sử dụng
2. Chính quyền
các công nghệ tiên tiến. Mạng lưới điện
Việt Nam tên gọi đầy đủ là Cộng hoà
thoại di động phủ trên cả nước. Dự kiến
Xã hội Chủ nghóa Việt Nam. Chính thể
trong thời gian tới Việt Nam sẽ có vệ tinh
là Nhà nước Xã hội Chủ nghóa. Thủ đô là
viễn thông riêng của mình.
phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật
chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo
nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản
trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại hoá. Nguồn lực con người, năng
lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng;
tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được
tăng cường; thể chế kinh tế thò trường đònh
hướng xã hội chủ nghóa được hình thành về
cơ bản; vò thế của nước ta trên trường quốc
tế được nâng cao.”
Mục tiêu cụ thể của Chiến lược là:
• Đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi
năm 2000..
• Tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt trên 30%
GDP. Nhòp độ tăng xuất khẩu gấp trên
2 lần nhòp độ tăng GDP.
• Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp
16-17%, công nghiệp 40-41%, dòch vụ
42-43%. Gia tăng giá trò nông nghiệp
(kể cả thuỷ sản, lâm nghiệp) bình quân
hàng năm 4-4,5%, công nghiệp khoảng
10-10,5%. Bảo đảm cung cấp đủ và an
toàn năng lượng (điện, dầu khí, than)…
Phát triển mạnh kết cấu hạ tầng và dòch
vụ.
• Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con
người (HDI) của nước ta. Tốc độ tăng
dân số đến năm 2010 còn khoảng 1,1%.
Giải quyết việc làm ở cả thành thò và
(5,8% ở thành thò). Tổng đầu tư phát triển
bằng 35,6% GDP là một tỷ lệ cao so với
các nước trong khu vực [theo 3, 7].
9
Đòa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam
Tài liệu tham khảo
1. Báo Nhân Dân số 17632 thứ tư ngày
5-11-2003
2. Báo Thanh Niên số 300 (2865) thứ hai
ngày 27-10-2003
30. Cục Đòa chất Việt Nam xuất bản.
Hà Nội-1995.
6. Lê Bá Thảo, 2002. Việt Nam lãnh thổ
và các vùng đòa lý (tái bản lần thứ hai).
Nhà xuất bản Thế Giới.
3. Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp lần
thứ 4 Quốc hội khoá XI. Báo Nhân
Dân số 17618 ngày 22-10-2003.
7. Nguyễn Mạnh Hùng (chủ biên), 2003.
Kinh tế xã hội Việt Nam 2002. Kế
hoạch 2003. Tăng trưởng và hội nhập.
Nhà xuất bản Thống Kê 2003.
điều tra
đòa chất,
thăm dò và
khai thác
dầu khí
Chương 2. Hoạt động điều tra đòa chất, thăm dò và khai thác dầu khí
Lòch sử hoạt động liên quan đến đòa chất, thăm dò, khai khoáng, chế biến và sử dụng tài
nguyên khoáng sản ở Việt Nam ở những mức độ khác nhau gắn liền với quá trình phát triển
từ thời nguyên thuỷ đến nay đã được ghi nhận qua nhiều di tích khảo cổ và sử liệu.
1. Thời kỳ tiền sử
Dụng cụ, di vật cổ bằng đá từ các thời
thống kê qua các triều đại đến thế kỷ 19 đã
đại đồ đá cũ được tìm thấy ở núi Đọ (Thanh
có trên 150 mỏ được khai thác ở Việt Nam
Hoá), đồ đá giữa của văn hoá Hoà Bình rồi
gồm các kim loại cơ bản, sắt và hợp kim sắt,
đến đồ đá mới thuộc văn hoá Bắc Sơn cách
nhiên liệu, khoáng chất công nghiệp (Phan
đây khoảng 100 nghìn năm… chứng tỏ người
(Đào Duy Anh, 1964).
Việt Nam, các tổ chức về mỏ và đòa chất
2. Thời kỳ phong kiến
đã được thành lập, điều hành việc điều tra
Thời đại kim khí thời Hùng Vương
đòa chất và khai thác tài nguyên khoáng
phát triển qua các giai đoạn đồ đồng, đồng
sản của nước thuộc đòa.
thau mà rực rỡ nhất là văn hoá Đông Sơn
Sở Mỏ Nam Kỳ được thành lập vào
khoảng thế kỷ 13 trước công nguyên, trong
năm 1868, rồi đến Nha Mỏ Đông Dương-
đó có trống đồng nổi tiếng (Hà Văn Phùng,
1884, Công ty Than Bắc Kỳ - 1888, Sở Đòa
1981).
1973).
biệt là công tác điều tra khai thác tài nguyên
Trên thực tế, từ thế kỷ 16, 17 đã có
khoáng sản được bắt đầu rất sớm (Arnoux
những nhà buôn, cha cố phương Tây đến
E., 1854-1855; Fuchs E., Saladin E., 1882;
Việt Nam đã có những nhận đònh “đây là
Sarran E., 1888, 1898; Bel JM., 1898-1901;
một vò trí cần được chiếm lấy, vì chiếm
Counilon H., 1899-1914; Beauverie E.,
được vò trí này thì các thương gia châu
1911; Bordeaux A., 1925-1928; Blondel F.,
Âu sẽ thu được một nguồn lợi rất lớn với
1927-1952…)
một khả năng tài nguyên rất đỗi dồi dào”
Sở Đòa chất Đông Dương đã nhanh chóng
Các công trình chuyên sâu về đòa chất
xúc tiến việc điều tra cơ bản lập bản đồ đòa
dầu khí rất ít so với đòa chất khu vực nói
chất ở các tỷ lệ 1:4.000.000 (1882, 1928);
chung và khoáng sản rắn nói riêng. Tuy
1:2.000.000 (1928, 1931, 1937, 1952, 1971).
nhiên các tài liệu còn để lại cũng ghi được
Tiếp theo là việc lập bản đồ đòa chất tỷ lệ
những thông tin về dầu khí ở Việt Nam và
1:100.000 trên các tờ Thất Khê (1907), Tú
Đông Dương đã biết được khá sớm.
Lệ (1910), Bắc Hà, Hà Giang, Malipo, Yên
Vào năm 1901 đã khoan một vài giếng
Minh (1915), Cao Bằng (1924), Hạ Lang
Vấn đề dầu mỏ ở Bắc Bộ và những
(1942), Vónh Long (1962).
Ngoài công việc lập bản đồ đòa chất,
vùng còn lại thuộc Đông Dương đã được
nghiên cứu cổ sinh, đòa tầng (Zeiller R.,
nêu rõ trong báo cáo chung về công nghệ,
1886-1903; Mansuy H., 1908-1921; Colani
nhân cuộc thanh tra các nước thuộc đòa vào
M., 1916-1927; Fontain H., 1954-1994),
tháng 3/1922 gồm những vùng chính như
thạch học (Lacroix A., 1893-1935); kiến tạo
sau [8, 9,18]:
(Deprat J., 1911-1917, Dussault L., 1921-
1. Bể trầm tích Đệ Tam Đồng Ho (Quảng
1929; Jacob CH., 1920-1932; Fromaget J.,
Ninh) chứa các vỉa than lignit đang
Trên mái lớp lignit còn gặp đá phiến
ở đoạn 35 m đã xuyên qua lớp cát kết
sét-vôi màu sôcôla, khi chưng cất cho
màu đen có mùi dầu mỏ nhưng sau đó
ra các dầu khoáng tỷ lệ khác nhau. Hai
đã ngừng bỏ. (La question du pétrole,
thành tạo trên rất giống nhau, nhưng các
1922; Viennot P., 1924). Sau đó vào
bể đó rất hạn chế nên trữ lượng các đá
năm 1922 theo đề xuất của Guidon
phiến sơ bộ thấy rằng khó mà xây dựng
Lavallée thuộc Sở Mỏ ở Hà Nội Piere
được một nhà máy dầu ở nước thuộc
Viennot đã cùng với ông ta khảo sát lại
đòa này. Tuy vậy, sự tồn tại các lớp đã
nhiễm tạo thành móng của bể trầm tích
ngày 1/12/1924 do F. Delafond làm
sông-hồ Đệ Tam dày khoảng 1.000 m
chủ toạ, P. Viennot, 1924 [19] đã điểm
bò uốn nếp ở Yên Bái dọc thung lũng
qua các nghiên cứu về đòa chất của
sông Hồng (Viennot P., 1924, Sarran
Beauverie E., 1911, Zeiller R., 1893,
E., 1899; Fromaget J., 1941)
Dussault L., 1922, 1929 liên quan đến
15
Đòa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam
đá granit khi thuỷ triều rút xuống. Dầu
thu được do chưng cất dung dòch màu
nâu, nặng có thuộc tính Parafin và chỉ
số khúc xạ là 1,425 ở nhiệt độ 280 C.
Ông ta cho rằng dấu hiệu giả đònh có
móng granit và trên đó là lớp bùn cát
này (Hình 2.1 và hình 2.2).
biển màu xám nhưng không phát hiện
4. Vùng Tourane (Đà Nẵng) người ta đã
ra dầu. Sau đó vào năm 1945 người
thông báo về sự tồn tại cát kết chứa
Nhật cũng tiến hành khoan thêm một
dầu mỏ và được xác nhận của nhà thăm
số giếng nhưng cũng không cho điều gì
dò (Prospecteur) điều tra cho biết đã
mới [5]. Đến năm 1957, Saurin E. trở
có dầu khoáng rò rỉ trong 20 năm qua
lại nghiên cứu điểm dầu này gần làng
từ khi làm các nền móng công trình ở
Hội Lộc bên dưới lớp cát biển 20 cm là
có nhận đònh rằng dầu ở đây không
hiện tại là đá biến chất kết tinh, việc
phải từ trầm tích Neogen hay Đệ Tứ cổ
kéo dài của bể này dưới những bồi tích
mà chính là lớp bùn Sapropel giàu mùn
có lẽ khoảng 10 km ở phía Nam Đà
thực vật ở vònh Quy Nhơn.
Nẵng.
4. Thời kỳ từ Cách mạng tháng 8 (1945)
5. Điểm lộ dầu ở vùng đầm Thò Nại ở Quy
đến nay
Nhơn được phát hiện vào năm 1920 và
Saurin E., 1944 mô tả ở làng Hội Lộc,
4.1. Giai đoạn 1945-1954
chân phía Tây núi Eo Vược nơi bờ biển
dốc đứng có dầu rỉ lộ ra loang trên bề
thành lập trực thuộc Bộ Quốc dân Kinh tế.
Đòa chất và Khoáng sản Việt Nam. Hà Nội
Năm 1946 Sở Đòa chất và Sở Khoáng chất
1998); chẳng hạn như “Đòa chất miền Bắc
được tách ra nhưng vẫn nằm trong Bộ Quốc
Việt Nam” và bản đồ đòa chất miền Bắc
dân Kinh tế.
Việt Nam (1965) (do Dovjikov A.E. chủ
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp
biên. 1965); “Bản đồ đòa chất Việt Nam
(1945-1954) chỉ có một số hoạt động đòa
phần miền Bắc tỷ lệ 1:1.000.000” (do Trần
chất và mỏ với quy mô nhỏ được tiến hành
Văn Trò chủ biên. 1973)… Dưới đây chúng
nhằm phục vụ trực tiếp cho quốc phòng và
và sau thuộc Bộ Tài chính và Kinh tế quốc
lộ trình đã hoàn thành báo cáo “Đòa chất
dân. Hoạt động đòa chất không có gì nhiều,
và triển vọng dầu khí ở Việt Nam Dân chủ
ngoài việc một số nhà đòa chất Pháp như
Cộng hoà” [13]. Đây là công trình tổng hợp
Fromaget J., Saurin E.,… công bố một số
đầu tiên về đòa chất và đánh giá triển vọng
công trình nghiên cứu đòa chất ở Lạng Sơn,
dầu khí ở Việt Nam. Theo tác giả, miền
Hải Phòng… và ở một số hòn đảo, … đáng
Bắc Việt Nam có 4 vùng triển vọng (Hình
kể là việc tái bản công trình bản đồ đòa chất
2.3):
1. Vùng trũng giữa núi tam giác châu
Đông Dương tỷ lệ 1:2.000.000 do Fromaget
nước Đông Âu. Chính phủ đặc biệt quan
nguyên Paleozoi giữa-trên.
Ngày 27-11-1961 Đoàn Đòa chất 36 trực
tâm đến việc đào tạo chuyên gia trong nước
thuộc Tổng cục Đòa chất được thành lập.
và gửi đi đào tạo ở nước ngoài.
17