Thực trạng quản lí cán bộ, công chức tỉnh Thái Bình - Pdf 43

MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU
Bất kì một quốc gia nào, tồn tại ở một giai đoạn nào thì muốn phát triển,
trước tiên phải có nguồn lực mạnh. Nguồn lực ở đây chính là nhân lực và vật
lực. Trong tình hình hiện nay, thời kỳ hội nhập thế giới, bên cạnh những cơ hội
cũng là những thách thức lớn, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có những chủ
trương và biện pháp cụ thể phù hợp với xu thế phát triển chung. Trước vấn đề
đó, cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy hành chính Nhà nước đóng vai trò
quyết định và then chốt. Đảng và Nhà nước luôn xác định cán bộ, công chức là
cái gốc của mọi công việc, sự thành công trên mặt trận Chính trị - Hành chính.
Trong Chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa – Hiện đại
hóa đất nước khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của
cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu
then chốt trong xây dựng Đảng”. Chính vì vậy, trong báo cáo Chính trị của Ban
chấp hành Trung ương khóa X tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thức XI của Đảng
nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng
yêu cầu trong tình hình mới là yếu tố quyết định đến chất lượng của bộ máy
hành chính Nhà nước” trước thực trạng “ Đội ngũ cán bộ, công chức tuy đông
nhưng không đồng bộ, vẫn còn tình trạng vừa thừa, vừa thiếu. Trình độ kiến
thức, năng lực quản lý chưa đáp ứng được nhu cầu”.
Trong đợt kiến tập vừa qua tại sở Nội vụ tỉnh Thái Bình, em có điều kiện
tìm hiểu về tình hình và thực trạng công tác quản lí đội ngũ cán bộ, công chức
của sở Nội vụ tỉnh Thái Bình. Nhận thấy rằng tình hình cán bộ, công chức của
tỉnh Thái Bình có nhiều hướng tiến bộ, bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế cần
được đưa ra làm rõ để khắc phục. Chính vì vậy em đã chọn đề tài “Thực trạng
quản lí cán bộ, công chức tỉnh Thái Bình”.
1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong bài báo cáo về thực trạng quản lí cán bộ, công chức tại Sở Nội vụ
tỉnh Thái Bình của mình, đối tượng mà em hướng đến là tất cả các cán bộ,công

5. Bố cục của báo cáo
Báo cáo về thực trạng quản lí cán bộ, công chức tại sở Nội vụ tỉnh Thái
Bình
CHƯƠNG 1: Khái quát chung về sở Nội vụ tỉnh Thái Bình
Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và nội quy, quy chế của
sở Nội vụ tỉnh Thái Bình
CHƯƠNG 2: Cơ sở lí luận về cán bộ công chức
3


Thực trạng quản lí cán bộ, công chức sở Nội vụ tỉnh Thái Bình trong năm
2014
CHƯƠNG 3: Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác
quản lí cán bộ, công chức tại sở Nội vụ Tỉnh Thái Bình

4


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỞ NỘI VỤ TỈNH THÁI BÌNH
CƠ CẤU TỔ CHỨC, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ NỘI
QUY, QUY CHẾ CỦA SỞ NỘI VỤ TỈNH THÁI BÌNH
1.1 Tổng quan về tỉnh Thái Bình
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thái Bình là một tỉnh ven biển ở đồng bằng sông Hồng, miền Bắc Việt
Nam.
Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách thủ đôHà Nội 110 km về phía
đông nam, cách thành phố Hải Phòng 70 km về phía tây nam. Thái Bình tiếp
giáp với 5 tỉnh, thành phố: Hải Dương ở phía bắc, Hưng Yên ở phía tây bắc, Hải

Nhân, Trực Định, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Thanh Quan, Thư Trì, Thụy Anh, Tiền
Hải, Thần Khê, Vũ Tiên.
Sau đó, đơn vị hành chính cấp phủ bị loại bỏ, các huyện có sở lị phủ thì
đổi theo tên của phủ kiêm quản trước đó: Thanh Quan thành Thái Ninh, Trực
Định thành Kiến Xương, Thần Khê thành Tiên Hưng.
Tỉnh lị tỉnh Thái Bình khi mới thành lập năm 1890, đặt tại xã Kỳ Bố,
trước là huyện lị của huyện Vũ Tiên (từ thời Minh Mạng). Sau này, tỉnh lị Thái
Bình phát triển mở rộng sang các huyện lân cận thành thị xã Thái Bình, rồi
thành thành phố Thái Bình.
Sau năm 1954, tỉnh Thái Bình có 13 đơn vị hành chính gồm thị xã Thái



Bình và 12 huyện: Đông Quan, Duyên Hà, Hưng Nhân, Kiến Xương, Phụ
Dực, Quỳnh Côi, Thái Ninh,Thư Trì, Thụy Anh, Tiền Hải, Tiên Hưng, Vũ Tiên.
Ngày 17 tháng 6 năm 1969, hợp nhất 2 huyện Đông Quan và Tiên Hưng



thành huyện Đông Hưng; hợp nhất 2 huyện Hưng Nhân và Duyên Hà thành
huyện Hưng Hà; hợp nhất 2 huyện Quỳnh Côi và Phụ Dực thành huyện Quỳnh
Phụ; hợp nhất 2 huyện Thái Ninh và Thụy Anh thành huyện Thái Thụy; hợp
nhất 2 huyện Vũ Tiên và Thư Trì thành huyện Vũ Thư. tỉnh Thái Bình còn 1 thị
xã và 7 huyện.
Ngày 29 tháng 4 năm 2004, chuyển thị xã Thái Bình thành thành phố Thái



Bình.
6

chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh,
đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của
Bộ Nội vụ.
1.2.3.2. Nhiệm vụ và quyền hạn.
7


Trình UBND dự thảo các Quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài
hạn, năm năm, hàng năm và các đề án, dự án; chương trình thuộc phạm vi quản
lý nhà nước của Sở trên địa bàn tỉnh.
Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch,
đề án, dự án, chương trình đã được phê duyệt; thông tin tuyên truyền, hướng dẫn
kiểm tra, phổ biến giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà
nước được giao
1.2.4. Hệ thống văn bản
UBND tỉnh Thái Bình ban hành quyết định số 212/QĐ-UBND ngày 20
tháng 01 năm 2016 quyết định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ
chức của Sở Nội vụ Thái Bình
1.2.5. Cơ cấu tổ chức
-BAN GIÁM ĐỐC SỞ : Gồm 04 đồng chí, 01 Giám đốc và 03 Phó Giám
đốc
-CÁC PHÒNG, BAN, CHI CỤC TRỰC THUỘC SỞ NỘI VỤ THÁI
BÌNH
+ Văn phòng Sở
+ Phòng công chức, viên chức
+ Phòng xây dựng chính quyền và công tác thanh niên
+ Phòng cải cách hành chính
+ Thanh tra sở
+ Phòng tổ chức biên chế và tổ chức phi chính phủ



-Nhược điểm
Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận trong Sở Nội vụ đã được phân công
quy địng rõ ràng nhưng còn chồng chéo do một người kiêm nhiệm nhiều công
viêc nên đôi khi dẫn đến thực hiện công việc chưa đạt hiệu quả cao nhất.
1.3. Nội quy, quy chế làm việc của sở Nội vụ tỉnh Thái Bình
- Chế độ làm việc
Buổi Sáng từ : 7h30phút đến 11h30phút
Buổi Chiều từ : 14h đên 17h
Thực hiện theo Quy định của Nhà nước: Làm việc theo giờ hành chính
(8h /1 ngày) từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần và sáng ngày thứ 7. Nghỉ làm việc vào
ngày chiều thứ 7 chủ nhật và các ngày lễ tết theo quy định chung của Nhà nước.
Cán bộ thành phố Thái bình nói chung và các bộ sở Nội vụ Thái Bình nói
riêng luôn đảm bảo việc thực hiện đến trụ sở văn phòng làm việc đúng giờ.
- Chế độ họp
Hàng tuần, giám đốc sở chủ trì họp giao ban các bộ phận được phân công
phụ trách để kiểm điểm, đánh giá kết quả công tác tuần vào ngày thứ 6; hàng
tháng họp toàn thể cơ quan để kiểm điểm công tác tháng, triển khai nhiệm vụ
tháng tới vào ngày cuối tháng. Ngoài ra Văn phòng có thể tổ chức các cuộc họp
bất thường để phổ biến, triển khai công việc đột xuất của địa phương.
- Chế độ thông tin, báo cáo
Báo cáo định kỳ;
Báo cáo đột xuất.
1.4. Môi trường làm việc, văn hoá công sở tại sở Nội vụ tỉnh Thái
Bình
1.4.1. Môi trường làm việc, cơ sở vật chất
Với diện tích lớn, sở Nội Vụ tỉnh Thái Bình được xây dựng trong khuôn
viên rộng. Toàn bộ sở gồm 3 dãy nhà trong đó có 01 dãy nhà 5 tầng, 01 dãy nhà
3 tầng và 01 dãy nhà 2 tầng nằm ở số 6 đường Trần Hưng Đạo thành phố Thái
10



CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH THÁI BÌNH
NĂM 2014
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. khái niệm cán bộ, công chức
Theo điều 4, luật cán bộ, công chức năm 2008 có hiệu lực từ 01/01/2010
quy định:
- Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước.
- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan,
đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà
không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ
lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
2.1.2.Tiêu chuẩn để xác định cán bộ, công chức nhà nước
- Là công dânViệt Nam.
- Được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử vào làm việc trong biên chế

bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỉ luật và thực hiện chính
sách đối với cán bộ, công chức. Có thể đánh giá cán bộ, công chức qua các tiêu
chí cụ thể sau đây
13


-Tiêu chí thứ nhất : Phẩm chất chính trị
Tiêu chuẩn này biểu hiện ở bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập
trường của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lí tưởng cách mạng, với
chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định với mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
-Tiêu chí thứ hai : Trình độ năng lực
Trình độ chính trị biểu hiện ở sự hiểu biết về lí luận chính trị, quan điểm
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trình độ văn hoá,
chuyên môn, kiến thức về khoa học lãnh đạo, quản lí; năng lực dự báo và định
hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách,
thuyết phục các tổ chức nhân dân thực hiện; ý thức tham gia đấu tranh bảo vệ
quan điểm, đường lối của Đảng, và pháp luật của Nhà nước.
-Tiêu chí thứ ba : Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao
Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao là khả năng làm tốt mọi công
việc, đạt được chất lượng hiệu quả công việc thực tế, luôn phấn đấu thực hiện có
kết quả đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
2.2.Thực trạng quản lí cán bộ, công chức tại sở Nội vụ Tỉnh Thái
Bình trong năm 2014
2.2.1. Công tác tuyển dụng cán bộ, công chức
Việc tuyển dụng bổ nhiệm cán bộ, công chức phải căn cứ vào nhu cầu
công việc của cơ quan. Cán bộ, công chức phải có phẩm chất đạo đức tốt, đáp
ứng được tiêu chuẩn chuyên môn - nghiệp vụ.
Công tác tuyển dụng, bổ nhiệm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác
của cán bộ, công chức. Vì vậy, khi tuyển dụng phải đảm bảo tính dân chủ, công

khả năng của mỗi người và đúng với nhu cầu, tính chất công việc.
Ngoài việc tổ chức kì thì tuyển công chức, Sở Nội vụ còn tổ chức kỳ thi
nâng ngạch lên chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp.
2.2.2. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức
Trước hết, chúng ta cần phải hiểu về đào tạo, bồi dưỡng. Thông thường,
đào tạo được cho là “quá trình tác động đến con người làm cho người đó lĩnh hội
15


và nắm vững những tri thức, kỹ năng kỹ xảo... một cách có hệ thống nhằm
chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân
công lao động nhất định” . Đào tạo được xem như là một quá trình làm cho
người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”, còn bồi
dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta “tăng thêm năng lực hoặc
phẩm chất”. Xét về mặt thời gian, đào tạo có thời gian dài hơn, thường là từ một
năm học trở lên, về bằng cấp thì đào tạo có bằng cấp chứng nhận trình độ được
đào tạo, còn bồi dưỡng thường chỉ có chứng chỉ chứng nhận đã học qua khoá
bồi dưỡng. Việc tách bạch khái niệm đào tạo bồi dưỡng riêng rẽ chỉ để tiện cho
việc phân tích cặn kẽ sự giống và khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng.
Đào tạo được xác định như là quá trình làm biến đổi hành vi con người
một cách có hệ thống thông qua việc học tập. Việc học tập này có được là kết
quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát triển, và lĩnh hội kinh nghiệm một cách
có kế hoạch. Theo định nghĩa của Uỷ ban Nhân lực của Anh, ĐTBD CBCC
được xác định như là: một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức
hoặc kỹ năng thông qua việc học tập rèn luyện để làm việc có hiệu quả trong
một hoạt động hay trong một loạt các hoạt động nào đó. Mục đích của nó, xét
theo tình hình công tác ở tổ chức, là phát triển nâng cao năng lực cá nhân và đáp
ứng nhu cầu nhân lực hiện tại và tương lai của cơ quan.
Đào tạo bồi dưỡng chính là việc tổ chức những cơ hội cho người ta học
tập, nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng

chức danh công chức cấp xã, cho Trưởng, Phó phòng và chuyên viên, cho cán
bộ phụ trách tôn giáo, công tác hội, thanh niên, cán bộ làm công tác thi đua,
công tác văn thư, lưu trữ của Sở ngành, huyện, thành phố, chủ tịch hội phụ nữ,
Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, công chức tài chính, kế toán,
công chức Địa chính nông nghiệp, thủy lợi và môi trường, công chức văn phòng
17


Sở Nội vụ đã phối hợp với Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình và
Trường Chính Trị tỉnh mở các lớp Bồi dưỡng ngạch chuyên viên, chuyên viên
chính với tổng số 450 chỉ tiêu, lớp bồi dưỡng cho công chức đang trong thời
gian tập sự, lớp tin học, tiếng anh, lớp bồi dưỡng năng lực cho cán bộ, công
chức nữ, lớp cập nhật kiến thức cho công chức diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy
quản lý, lớp Trưởng phòng và công chức trong nguồn quy hoạch Trưởng phòng
thuộc cơ quan, đơn vị tổng số 980 học viên.
Các lớp bồi dưỡng cũng được tổ chức theo đúng kế hoạch, đảm bảo thời
gian và quy định của Trung ương, của tỉnh. Số lượng học viên đúng thành phần
và học tập nghiêm túc
Về cơ bản, các lớp được tổ chức theo đúng kế hoạch, đảm bảo thời gian
và các quy định của Trung ương, của tỉnh, số lượng học viên đúng thành phần và
học tập nghiêm túc.
Điển hình trong đó là buổi tập huấn chuyển giao phần mềm quản lý Cơ
sở dữ liệu cán bộ, công chức, viên chức tại tỉnh Thái Bình
Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình trong những năm qua đã hết
sức quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành,
giải quyết công việc của đội ngũ công chức, viên chức tại địa phương. Việc ứng
dụng công nghệ trong tin đã góp phần to lớn vào thực hiện thắng lợi chương
trình tổng thể cải cách hành chính của tỉnh, giúp đẩy nhanh tiến độ tiếp nhận, xử
lý công việc, tiết kiệm chi phí và giảm thời gian đi lại cho người dân và doanh
nghiệp. Tuy nhiên, trong công tác tổ chức cán bộ, các hoạt động tuyển dụng, sử

hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đánh giá cán bộ không đúng, không chính
xác có thể dẫn đến sử dụng cán bộ một cách tùy tiện, làm mất đi động lực phấn
đấu của từng cá nhân, thậm chí làm xáo trộn tâm lý của cả một tập thể, gây nên
sự trầm lắng, trì trệ trong công việc. Bởi vậy, đánh giá và sử dụng cán bộ phải
được xem xét, thực hiện thống nhất trên nền tảng những quan điểm và phương
pháp đúng đắn, khoa học.
Trong công tác cán bộ, đánh giá đúng cán bộ là khâu tiền đề đầu tiên để
quyết định bố trí, sử dụng cán bộ. Đánh giá đúng cán bộ làm cơ sở cho việc quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, bố trí để phát huy được tiềm năng đội
19


ngũ cán bộ, để bản thân cán bộ có phương hướng đúng trong phấn đấu, rèn
luyện; là cơ sở để thực hiện đúng chính sách cán bộ, biểu dương, tôn vinh những
cán bộ hoàn thành xuất sắc trách nhiệm được giao, có đóng góp, có cống hiến
cho đất nước, cho địa phương, đơn vị; đồng thời phê bình những cán bộ không
hoàn thành nhiệm vụ, không nêu gương, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với
tổ chức đảng. Đánh giá đúng cán bộ là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng
tình đoàn kết, thống nhất trong cơ quan, địa phương, đơn vị, góp phần ổn định
chính trị, động viên, phát huy được tính tích cực của nhân dân, cán bộ vào sự
nghiệp chung. Ngược lại, nếu đánh giá sai cán bộ, nhất là người đứng đầu, thì dễ
gây ra những phân tâm trong cán bộ, ảnh hưởng đến đoàn kết nội bộ, làm giảm
lòng tin, có khi mất cả phong trào ở mỗi địa phương, ngành, đơn vị.
Việc nhận xét, đánh giá cán bộ, công chức đảm bảo khách quan, khoa học,
đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, phản ánh đúng năng lực, phẩm chất của cán
bộ, công chức. Công tác khen thưởng được đổi mới, công khai, dân chủ, kịp
thời. Công tác kỷ luật được thực hiện nghiêm theo các quy định của pháp
luật.Song chất lượng nhận xét, đánh giá công chức chưa cao, chưa thực chất.
Việc khen thưởng chưa có tiêu chí cụ thể, còn hiện tượng khen theo kiểu đồng
loạt. Công tác kỷ luật còn một số quy định chưa cụ thể.

hạng, đánh giá cán bộ, công chức, viên chức.
Tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương, chế độ
bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; đến năm 2020, tiền lương của cán bộ,
công chức, viên chức được cải cách cơ bản, bảo đảm được cuộc sống của cán
bộ, công chức, viên chức và gia đình ở mức trung bình khá trong xã hội. Trong
Kế hoạch cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 – 2020, các nhiệm vụ về
cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành
chính nhà nước, cải cách tài chính công, hiện đại hóa hành chính và công tác chỉ
đạo, điều hành cải cách hành chính cũng được đề ra để các cơ quan, đơn vị tổ
chức thực hiện.
Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực
thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu
21


quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công.
Đối với nội dung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức, các nhiệm vụ cần thực hiện gồm: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách chế độ
công vụ, công chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số
lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân
dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước; 100% các cơ quan hành chính
nhà nước có cơ cấu cán bộ, công chức theo vị trí việc làm. Đề cao trách nhiệm
và đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ
đạo, điều hành và thực thi công vụ của cán bộ, công chức. Bổ sung và hoàn
thiện các chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của công chức, viên chức. Đổi mới
phương thức tuyển dụng công chức, viên chức về quy trình, thẩm quyền, trách
nhiệm và có quy định về xử lý các vi phạm; tổ chức thí điểm đổi mới phương
thức tuyển chọn lãnh đạo, quản lý.
Sở Nội vụ đã:

Đặc biệt công chức giữ chức danh lãnh đạo, quản lý là những người ưu tú, chấp
hành tốt chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước, có tinh thần trách nhiệm
cao trong công tác;100% công chức lãnh đạo, quản lý là đảng viên Đảng cộng
sản Việt Nam, phần lớn họ là những người đã trải qua hoạt động thực tiễn công
tác đảng, chính quyền các cấp. Do vậy, họ có khả năng chỉ đạo, tổ chức thực
hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Về trình độ chuyên môn, kỹ năng làm việc và kết quả công tác:
- Về trình độ chuyên môn: Kết quả khảo sát cho thấy: 100% công chức
lãnh đạo, quản lý có trình độ đại học và trên đại học; có trình độ cao cấp và cử
nhân chính trị; có chứng chỉ ngoại ngữ, tin học văn phòng và đều đã qua các
khóa bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước. Có thể nói, công chức lãnh đạo cấp
Sở, ngành của tỉnh (gồm 21 đồng chí giám đốc Sở, ngành và 66 đồng chí phó
giám đốc Sở, ngành) chức vụ càng cao thì trình độ mọi mặt cao đều hơn, trong
đó có 05 đồng chí Giám đốc, Phó giám đốc Sở, ngành có trình độ tiến sĩ, có 17
đồng chí Giám đốc, Phó giám đốc Sở, ngành có trình độ Thạc sĩ. Số công chức
chuyên môn, nghiệp vụ có trình độ đại học và trên đại học chiếm khoảng 77%
23


(so với năm 2005 tỷ lệ công chức hành chính có bằng đại học và trên đại học
tăng 30 %, mỗi năm tăng trên 10%). Mỗi năm số công chức có trình độ đào tạo
đại học và sau đại học ngày càng tăng cao, đồng thời số công chức có trình độ
trung cấp, sơ cấp không qua đào tạo ngày càng giảm. Có sở như: Sở Khoa học
và Công nghệ không còn công chức có trình độ trung cấp, nhiều sở chỉ còn 23% công chức loại B, C và đối tượng chủ yếu là nhân viên làm công việc đơn
giản như: phục vụ, lái xe, thủ quỹ..
Số lượt công chức được bồi dưỡng về lý luận chính trị, quản lý nhà nước
tương đối cao chiếm tỷ lệ trên 60%, đa phần có trình độ quản lý nhà nước từ
chuyên viên trở lên. Số công chức ngạch chuyên viên chính và chuyên viên
chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 75 %. Trong đó, 100% công chức ngạch chuyên viên
cao cấp là lãnh đạo các Sở, ngành của tỉnh. Tỷ lệ công chức là đảng viên cao đạt

Đội ngũ công chức ở tỉnh Thái Bình nhìn chung đã thể hiện bản lĩnh chính
trị vững vàng; có tinh thần đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào
thắng lợi của sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo. Có tinh thần
trách nhiệm và ý thức kỷ luật cao; có ý thức tự chủ, năng động và sáng tạo trong
công việc; có kiến thức trình độ và năng lực hoạt động thực tiễn, có tinh thần
khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; được rèn luyện và thử
thách trong đấu tranh cách mạng, trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội, sẵn sàng
tiếp cận với kiến thức và công nghệ mới, từng bước thích nghi dần với cơ chế
quản lý mới. Đại bộ phận giữ được lối sống lành mạnh, luôn luôn chăm lo cho
sự nghiệp chung của Đảng, Nhà nước và của dân.
Trước sự hụt hẫng về trình độ, năng lực quản lý do chuyển đổi từ cơ chế
tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; đội ngũ công chức của
tỉnh đã tích cực, chủ động khắc phục khó khăn để học tập, bồi dưỡng nâng cao
trình độ lý luận chính trị, văn hoá, kiến thức về kinh tế thị trường, quản lý Nhà
nước, pháp luật, pháp chế, đặc biệt là nghiệp vụ hành chính, ngoại ngữ, tin học,
… Do tích cực học tập nên trình độ của công chức được nâng lên, tăng khả năng
tham mưu, đề xuất ý kiến đóng góp cùng cấp uỷ xây dựng các chủ trương công
tác, hoặc tham mưu, đề xuất ý kiến giúp các cấp, các ngành hoàn thiện các
nhiệm vụ, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội theo Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh, huyện,
… đề ra, góp phần từng bước đưa địa phương vượt qua những khó khăn, thử
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status