Bản sắc và truyền thống văn hóa việt nam trong luật hôn nhân gia đình việt nam - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HẰNG

BẢN SẮC VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA
VIỆT NAM TRONG LUẬT HÔN NHÂN GIA
ĐÌNH VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017

i


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HẰNG

BẢN SẮC VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA VIỆT NAM
TRONG LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH VIỆT NAM

Chuyên ngành
Mã số

: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

1.1. Một số vấn đề lý luận về bản sắc và truyền thống văn hóa Việt .................. 10
1.1.1. Lý luận chung về Văn hóa .......................................................................... 10
1.1.2. Khái niệm bản sắc văn hóa Việt ................................................................ 13
1.1.3. Khái niệm truyền thống văn hóa ................................................................ 15
1.1.4. Đặc điểm và biểu hiện của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt ............ 16
1.1.5. Nguồn gốc hình thành và phát triển của Văn hóa Việt.............................. 20
1.1.6. Bản sắc và truyền thống văn hóa Việt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
.............................................................................................................................. 22
1.2. Một số vấn đề lý luận chung về Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam....... 25
1.2.1. Khái niệm Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam ...................................... 25
1.2.2. Vị trí của Luật Hôn nhân và Gia đình ....................................................... 26
1.2.3. Đặc điểm của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam ................................ 27
1.3.2. Tác động của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay đối với bản
sắc và truyền thống văn hóa Việt ......................................................................... 34
CHƢƠNG 2............................................................................................................. 39
BIỂU HIỆN CỦA BẢN SẮC VÀ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA VIỆT TRONG
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY ............................. 39
2.1. Biểu hiện trong nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình ............. 39
2.2. Biểu hiện thông qua các quy định về áp dụng phong tục, tập quán ............. 40
2.2.1. Thông qua quy định về việc ghi nhận áp dụng phong tục, tập quán về hôn
nhân và gia đình ................................................................................................... 40
2.2.2. Loại bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu để giữ gìn những nét đẹp của
bản sắc và truyền thống văn hóa Việt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ....... 44

iv


2.2.3. Quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về tuyên truyền, vận động
nhân dân áp dụng tập quán.................................................................................. 45
2.3. Biểu hiện trong các quy định về vấn đề kết hôn ........................................... 48



3.1.3. Nguyên nhân của những hạn chế ............................................................... 86
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay
nhằm nâng cao vai trò của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt ....................... 88
3.2.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình nhằm nâng
cao vai trò của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt......................................... 88
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình nhằm nâng cao vai
trò của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt ..................................................... 90
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 110

vi


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bản sắc, truyền thống văn hóa, pháp luật đều là những bộ phận quan trọng của kiến
trúc thƣợng tầng. Trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau và mỗi quốc gia dân tộc
khác nhau thì sự tác động giữa các bộ phận trong kiến trúc thƣợng tầng có sự khác
nhau do sự khác biệt về đặc điểm lịch sử, tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội. Đối với một quốc gia đa sắc tộc nhƣ Việt Nam, bản sắc và truyền thống văn
hóa ở mỗi vùng miền khác nhau nên sự ảnh hƣởng của nó đến hệ thống pháp luật
nói chung và Luật Hôn nhân và Gia đình nói riêng, thể hiện tính độc đáo của dân
tộc Việt. Cụ thể, trong suốt quá trình hình thành và phát triển, Luật Hôn nhân và
gia đình đều hƣớng tới việc thể hiện bản sắc và truyền thống văn hóa của ngƣời
Việt trong các chế định, các quy phạm pháp luật. Ví dụ: quy định “cấm kết hôn
giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ và có họ trong phạm vi ba đời”
nhằm đảm bảo giống nòi đƣợc phát triển khỏe mạnh và bảo vệ luân thƣờng đạo lý,
thuần phong mỹ tục của dân tộc. Nhƣ vậy, sự liên hệ qua lại giữa bản sắc và truyền

2.1. Nhóm các luận văn, luận án:
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nhóm này có:
“Ảnh hưởng của Nho giáo đến các quy định của pháp luật Việt Nam về mối quan
hệ vợ chồng”, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Đinh Hạnh Nga năm 2007, Khoa
Luật – ĐHQGHN. Trong Luận văn tác giả đã nêu bật đƣợc những vấn đề cơ bản về
giá trị tốt đẹp của Nho giáo và những giáo lý khắt khe của Nho giáo trong mối
quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên, bên cạnh đó, luận văn chƣa nêu bật đƣợc ý nghĩa,
vai trò của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt trong Nho giáo đến những quy
định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Mà mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá,
nhận xét những quy định của Nho giáo đối với mối quan hệ vợ chồng.

2


“Áp dụng phong tục, tập quán về Hôn nhân và gia đình đối với đồng bào dân tộc
thiểu số theo quy định của pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn
Thị Minh Phƣơng năm 2015, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội. Đối với Luận văn này,
tác giả cũng đã đƣa ra đƣợc những phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia
đình của các đồng bào dân tộc thiểu số, nêu lên thực trạng của việc áp dụng phong
tục, tập quán và những kiến nghị nhằm phát huy vai trò của áp dụng phong tục, tập
quán về Hôn nhân và gia đình đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, luận
văn chƣa nêu bật lên đƣợc ý nghĩa của việc áp dụng phong tục, tập quán trong giải
quyết các vấn đề hôn nhân và gia đình – với tƣ cách là một trong những biểu hiện
của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt.
“Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt
Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Vũ Thị Thanh Huyền năm 2007. Trong
luận văn tác giả đã nêu lên đƣợc ý nghĩa của ngƣời phụ nữ trong hôn nhân và gia
đình, những nét đẹp truyền thống của ngƣời phụ nữ. Tuy nhiên, luận văn mới chỉ
dừng lại ở việc phân tích vai trò của ngƣời phụ nữ để từ đó phát huy quyền bình
đẳng đối với ngƣời phụ nữ mà chƣa đặt vị trí, vai trò của ngƣời phụ nữ trong bản

Trong các cuốn sách trên, việc đề cập đến các yếu tố bản sắc, truyền thống văn hóa
Việt đã đƣợc phân tích một cách tổng quát, nhƣng chƣa làm rõ đƣợc mối liên hệ
qua lại cụ thể và những biểu hiện của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt trong
Luật Hôn nhân và gia đình.
2.3. Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí:
Có thể kể đến một số bài nhƣ: “Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành” (Nguyễn
Hồng Hải, 2003, Tạp chí Luật học, số 5); “Chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ
chồng liên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam” (Bùi Minh Hồng,
2009, Tạp chí Luật học, số 11); Phùng Trung Tập, “Khái niệm, vị trí, vai trò và
một số nội dung chính của luật tục từ góc độ nghiên cứu pháp luật”, Tọa đàm Luật
4


tục trong mối quan hệ với luật dân sự, Hà Nội, 22/02/2001…. Nguyễn Hải An
(2014), “Áp dụng tập quán trong công tác xét xử án dân sự, hôn nhân và gia đình
của Tòa án nhân dân”, Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân tối cao, số 4,
số 5, số 6; Lê Thị Thái Hòa (2008), “Tìm hiểu vấn đề hôn nhân và gia đình trong
luật tục Chăm”, Tạp chí Dân tộc, số 09…
Các bài viết này thƣờng phân tích rất sâu một vấn đề cụ thể, nhƣng do tính chất của
một bài viết nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập bản sắc văn hóa Việt trong Luật
Hôn nhân và Gia đình nhƣ một luận cứ mà không phân tích toàn diện các khía
cạnh của vấn đề này.
2.4. Nhóm các đề tài khoa học pháp lý:
Hiện nay, khoa học pháp lý ở nƣớc ta có rất nhiều công trình nghiên cứu trên khía
cạnh lý luận chung về mối quan hệ giữa pháp luật và phong tục, tập quán. Tuy
nhiên, những nghiên cứu cụ thể về áp dụng phong tục, tập quán về HN &GĐ với tƣ
cách là một đối tƣợng nghiên cứu riêng thì vẫn còn rất mới mẻ. Hiện nay đã và
đang có nhiều ý kiến trao đổi, các cuộc hội thảo về những vấn đề này và hiện nay
Bộ Tƣ pháp đang triển khai đề tài "Ảnh hưởng của phong tục, tập quán đối với

- Phƣơng pháp so sánh đƣợc thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiện
hành với hệ thống pháp luật trƣớc đây của Việt Nam cũng nhƣ pháp luật của một
số nƣớc khác.
- Phƣơng pháp thống kê đƣợc thực hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn.
- Phƣơng pháp phân tích quy phạm.
6. Những điểm mới của luận văn
- Luận văn hệ thống hoá và phân tích khái niệm bản sắc và truyền thống văn
hóa Việt, vai trò của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt đối với Luật Hôn nhân và
gia đình và của Luật Hôn nhân và gia đình với bản sắc và truyền thống văn hóa Việt.
- Phân tích những biểu hiện của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt trong lĩnh vực
hôn nhân và gia đình trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện nay.

7


- Từ những ví dụ cụ thể về thực tiễn áp dụng pháp luật, luận văn nhận dạng những
quy định chƣa phù hợp, những điểm còn khiếm khuyết của pháp luật hiện hành
dƣới góc độ pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, luận văn kiến
nghị một số giải pháp có tính chất khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp
luật, nâng cao vai trò của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt đối với Luật Hôn
nhân và Gia đình Việt Nam hiện nay. Đồng thời tiến tới hoàn thiện pháp luật về
Hôn nhân và gia đình hiện nay.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học:
- Luận văn là cơ sở tham khảo cho các công trình nghiên cứu sau này về vấn đề
Bản sắc và truyền thống văn hóa Việt đối với hệ thống pháp luật nói chung và Luật
Hôn nhân và gia đình nói riêng .
- Luận văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu
và học tập các môn học nhƣ Giáo dục công dân, Đạo đức, Việt Nam học, Luật Hôn
nhân và gia đình … tại các cơ sở đào tạo từ cấp 1 cho tới sau đại học.

1.1. Một số vấn đề lý luận về bản sắc và truyền thống văn hóa Việt
1.1.1. Lý luận chung về Văn hóa
1.1.1.1. Định nghĩa Văn hóa
Hiện nay có hàng trăm các định nghĩa, quan điểm khác nhau về văn hóa dựa trên
nhiều cách tiếp cận, nghiên cứu khác nhau.
Có định nghĩa tiếp cận từ góc độ lịch sử qua việc nhấn mạnh các quá trình kế thừa
xã hội, truyền thống và tính ổn định thì cho rằng: “Văn hóa chính là bản thân con
người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho
một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo
truyền thống.” [10 - tr.10].
Một số định nghĩa dựa vào chuẩn mực bằng cách nhấn mạnh đến các quan niệm về
giá trị: “Văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội như các thiết chế, tập tục, phản
ứng cư xử,... của một nhóm người” [10 - tr.10]; hay các đặc điểm tâm lý qua việc
nhấn mạnh vào quá trình thích nghi với môi trƣờng, quá trình học hỏi, hình thành
thói quen, lối ứng xử của con ngƣời: “Văn hoá là tổng thể những thích nghi của
con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh...
Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp những thủ thuật
như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa.” [10 – tr.12],
Chính vì sự đa dạng, muôn vẻ của khái niệm “văn hoá”, tổ chức UNESCO (năm
2002) chỉ đƣa ra một định nghĩa mang tính gợi ý rằng: “Văn hóa nên được đề cập
đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc
cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn

10


học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền
thống và đức tin.” [9 – tr.256].
Nhƣ vậy, ở mỗi định nghĩa lại cho chúng ta một khía cạnh của văn hóa. Bản thân
cái “văn”, cái “đẹp” vốn đã khó định hình khi mà tƣ duy thẩm mĩ phụ thuộc vào

Thứ ba, văn hóa có chức năng giao tiếp: Một trong những đặc điểm khác biệt của
con ngƣời với động vật là ở sự hợp quần thành xã hội, mà xã hội không thể hình
thành và tồn tại đƣợc nếu thiếu sự giao tiếp. Văn hóa đã tạo ra những điều kiện và
phƣơng tiện (nhƣ ngôn ngữ và các hệ thống ký hiệu) cho sự giao tiếp ấy, văn hóa
là môi trƣờng giao tiếp của con ngƣời. Đồng thời, đến lƣợt mình, văn hóa cũng là
sản phẩm của giao tiếp: các sản phẩm của văn hóa còn có thể đƣợc tạo ra bằng hoạt
động của các cá nhân riêng rẽ chứ bản thân văn hóa thì chỉ có thể là sản phẩm của
hoạt động xã hội mà thôi.
Thứ tư, văn hóa có chức năng giáo dục: Thông qua sự tích lũy và chuyển giao
những giá trị tƣơng đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dƣới những
khuôn mẫu xã hội trong cộng đồng ngƣời qua không gian và thời gian và đƣợc cố
định hóa dƣới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dƣ luận... từ
thế hệ này sang thế hệ khác tạo nên truyền thống văn hóa trên cơ sở tính lịch sử của
nó chính là chức năng giáo dục của văn hóa. Nhƣng văn hóa thực hiện chức năng
giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả
những giá trị đang hình thành. Văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình
thành nhân cách ở con ngƣời, trồng ngƣời (dƣỡng dục nhân cách), tạo nên nền tảng
tinh thần của xã hội. Văn hóa đƣa con ngƣời gia nhập vào cộng đồng xã hội; bởi
vậy mà có ngƣời gọi chức năng này của văn hóa là chức năng xã hội hóa.
Ngoài bốn chức năng cơ bản trên, còn có thể nói đến các chức năng khác của văn
hóa nhƣ chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ, chức năng giải trí…
1.1.1.3. Đặc trưng của Văn hóa Việt

12


- Thứ nhất, Việt Nam có một nền văn hóa phong phú và đa dạng. Cộng đồng 54
dân tộc anh em có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời, có những lễ hội
nhiều ý nghĩa mang tính sinh hoạt cộng đồng, những niềm tin bền vững trong tín
ngƣỡng, sự khoa dung trong tƣ tƣởng, giáo lý khác nhau của tôn giáo, tính câu từ,

điểm cho rằng “bản sắc dùng để chỉ tính chất, mầu sắc tiêng tạo thành phẩm chất
đặc biệt của mội sự vật tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật
đó” [10 – tr.11]. Trong thực tế, khi nói bản sắc thƣờng là nói tới cái riêng, cái rất
riêng của một sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác trong thế giới khách quan.
"Bản sắc" là từ một ghép có gốc Hán - Việt nên có một cách tiếp cận khác là phân
tích trên ngữ nghĩa của hai từ "bản" và "sắc". Theo đó, "bản" là cái gốc, cái căn
bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; "sắc" là sự biểu hiện cái căn bản, cái
cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài. Cách tiếp cận thứ hai này có tính hợp lý hơn bởi
khái niệm "bản sắc" đƣợc nhận thức trên cả 2 mặt: mặt bản chất bên trong và mặt
biểu hiện bên ngoài và giữa hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong
đó, mặt bên trong phản ánh tính đồng nhất, bản chất của một lớp đối tƣợng sự vật
nhất định và mặt bên ngoài phản ánh những dấu hiệu, những sắc thái riêng của sự
vật để làm cơ sở phân biệt sự khác nhau giữa sự vật này với sự vật khác.
Thuật ngữ bản sắc thƣờng đƣợc sử dụng gắn với văn hóa và dân tộc. Nói đến dân
tộc là nói đến văn hoá, bản sắc văn hoá và nói đến văn hoá là nói đến dân tộc, bản
sắc dân tộc. Có thể hiểu bản sắc văn hoá là hệ thống các giá trị đặc trƣng bản chất
của một nền văn hoá đƣợc xác lập, tồn tại, phát triển trong lịch sử và đƣợc biểu
hiện thông qua nhiều sắc thái văn hóa. Trong bản sắc văn hóa, các giá trị đặc trƣng
bản chất là cái trừu tƣợng, tiềm ẩn, bền vững; còn các sắc thái biểu hiện của nó có
tính tƣơng đối cụ thể, bộc lộ và biến đổi hơn. Tuy nhiên, nếu dừng lại ở đây thì
khái niệm bản sắc văn hóa vẫn là một khái niệm vô định, vì nói tới văn hóa là nói
tới con ngƣời và nói tới những dân tộc cụ thể đã sinh ra, duy trì và phát triển nó. Vì

14


vậy, chỉ khi tiếp cận đến bản sắc văn hóa của dân tộc thì ý nghĩa của nó mới đƣợc
thể hiện một cách trọn vẹn.
Văn hóa đƣợc coi là kết quả của một quá trình chọn lọc lâu dài của tự nhiên và xã
hội thì bản sắc văn hóa hơn tất cả là tinh hoa kết đọng cuối cùng của quá trình

bố lại các giá trị. Tính lịch sử đƣợc duy trì bằng truyền thống văn hóa. hiện nay
cũng có nhiều quan điểm khác nhau về truyền thống văn hóa.
Có quan điểm cho rằng “truyền thống văn hóa là những tập tục, thói quen và là
những kinh nghiệm xã hội được hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ
của con người, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.” [9 – tr. 259],
Hay “truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (kinh nghiệm tập
thể) được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian,
được đúc kết thành những khuôn mãu xã hội và cố định dưới dạng ngôn ngữ,
phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…”[22- tr. 13].
Nguyên tắc chung của việc giữ gìn và phát huy truyền thống là phải bảo đảm sự kế
thừa biện chứng với 4 nội dung:
Một là, loại bỏ những yếu tố tiêu cực, phản tiến bộ của quá khứ (tập tục lạc hậu,
tàn dƣ tƣ tƣởng phong kiến, tâm lý sản xuất nhỏ...);
Hai là, giữ lại những yếu tố tích cực, tiến bộ (tinh thần yêu nƣớc, lao động cần cù
sáng tạo, tinh thần nhân đạo cao cả...);
Ba là, ngay các yếu tố tích cực, tiến bộ đó cũng không giữ lại nguyên xi, mà phải
đƣợc cải biến cho phù hợp với điều kiện mới, hoàn cảnh mới;
Bốn là, các thế hệ mới phải sáng tạo ra những yếu tố hoàn toàn mới mà các thế hệ
cha anh hoặc không có khả năng, hoặc không có điều kiện để thực hiện.
1.1.4. Đặc điểm và biểu hiện của bản sắc và truyền thống văn hóa Việt
- Thứ nhất, về ngôn ngữ

16


Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của lịch sử xã hội loài
ngƣời. Ngôn ngữ đƣợc vừa là sản phẩm vừa là nhân tố cấu thành nên văn hóa. Khi
tiếp xúc với một nền văn hóa, cái đầu tiên chúng ta bắt gặp trƣớc hết đó hẳn là lời
ăn tiếng nói, chữ viết. Ở mỗi dân tộc có một dấu ấn ngôn ngữ khác nhau. Khi
ngƣời Trung Quốc xâm lƣợc nƣớc ta, bắt nƣớc ta học tiếng Hán để nhằm đồng hóa

thành viên tuân theo. Ở mỗi dân tộc, mỗi tộc ngƣời, các điều luật tục, phong tục
cũng khác nhau, thể hiện quan niệm, quan điểm của ngƣời dân trƣớc việc quy định
các sự việc, hiện tƣợng, điều khiển các hành vi, hành động của từng cá nhân, phục
vụ mục đích bảo vệ môi trƣờng sinh thái, bảo vệ và ổn định, phát triển đời sống xã
hội và gìn giữ an ninh cộng đồng.
Thông qua luật tục, phong tục tốt đẹp của mỗi dân tộc ta thấy bản sắc văn hóa của
từng dân tộc trong quá trình giáo dục nhân cách, đạo đức của con ngƣời theo
những chuẩn mực văn hóa nhất định do cộng đồng quy định.
Ở Việt Nam, do nƣớc ta là một quốc gia có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống,
nên vẫn còn nhiều luật tục, phong tục của nhiều đồng bào dân tộc. Những luật tục,
phong tục tốt đẹp đã trở thành bản sắc và truyền thống văn hóa của dân tộc ta.
- Thứ tư, lễ hội
Là trung tâm sinh hoạt văn hóa mang tính tổng hợp nhất và là nơi bộc lộ rực rỡ
nhất bản sắc văn hóa của một cộng đồng nhất định. Quy tụ tại đây mọi loại hình tín
ngƣỡng, mọi sắc thái trang phục, sinh hoạt dân ca, trò chơi dân gian, và các hình
thái nghi lễ của tộc ngƣời, của dân tộc. Hàng năm, ở các dân tộc Việt, lễ hội đƣợc
diễn ra rất phong phú, đa dạng, lễ hội chùa chiền, lễ hội xuống đồng, lễ hội vào
mùa…. Lễ hội đã bảo lƣu rõ nét nhất cho bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam và
ngày nay đƣợc chúng ta giữ gìn và phát triển.
- Thứ năm: về trang phục - trang sức
Trang phục là nơi thể hiện ý thức thẩm mỹ, nhu cầu thẩm mỹ và là nơi gửi gắm
những nhận thức về thế giới tự nhiên và xã hội cũng nhƣ môi trƣờng sống nói
18


chung thông qua các biểu tƣợng hoa văn, màu sắc, hình ảnh đƣợc thêu trên áo,
quần và các đồ trang sức khác nhau. Nhìn vào trang phục và cách trang sức ta có
thể dễ nhận ra bản sắc văn hóa của một tộc ngƣời, của một dân tộc. Đối với nƣớc
ta, trang phục, trang sức của các dân tộc anh em cũng hết sức đa dạng, phong phú.
Và có rất nhiều nhà văn hóa nghiên cứu, tìm hiểu về trang phục của ngƣời Việt họ


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status