Nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá độ tin cậy cho lưới điện phân phối áp dụng phân tích và nâng cao độ tin cậy cho lưới điện phân phối thực tế việt nam - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------------------------

Lê Việt Anh

NGHIÊN CỨU CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ ĐỘ TIN CẬY CHO
LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI. ÁP DỤNG PHÂN TÍCH VÀ NÂNG
CAO ĐỘ TIN CẬY CHO LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI
THỰC TẾ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ HỆ THỐNG ĐIỆN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÃ MINH KHÁNH

Hà Nội – 2014


1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực
sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển,
áp dụng vào thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lã Minh Khánh.
Những số liệu được sử dụng được chỉ rõ nguồn trích dẫn trong danh mục tài
liệu tham khảo. Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nghiên cứu nào từ trước đến nay.
Hà Nội, ngày

tháng

6

MỞ ĐẦU

7

CHƯƠNG 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ĐỘ TIN CẬY VÀ YÊU
CẦU BẢO ĐẢM CHỈ TIÊU ĐỘ TIN CẬY CHO LƯỚI ĐIỆN PHÂN
PHỐI.

10

1.1 Khái niệm về độ tin cậy.
10
1.2 Các nguyên nhân gây mất điện.

11

1.3 Sự tác động của độ tin cậy đến việc xây dựng cấu trúc lưới.
12

1.4 Đảm bảo độ tin cậy trong bài toán kinh tế.
1.5 Những biện pháp nâng cao độ tin cậy cung cấp điện.
1.6. Kết luận chương 1

14
15
19

CHƯƠNG 2. CÁC CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ ĐỘ

3.2 Các phương án nâng cao độ tin cậy.
42
3.3 Xây dựng chương trình đánh giá độ tin cậy trên máy tính.

54

3.4 Kết luận chương 3.

69

KẾT LUẬN CHUNG

70

TÀI LIỆU THAM KHẢO

72


4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT

Viết tắt

Giải thích
Hệ thống điều khiển giám sát và thu thập dữ liệu từ xa

1


Tần suất (số lần) mất điện trung bình của khách hàng

7

MAIFI

Chỉ tiêu tần suất mất điện thoáng qua trung bình

8

ASAI

Chỉ tiêu khả năng sẵn sàng phục vụ trung bình

9

LOLP

Xác suất thiếu điện cho phụ tải

10

LOLE

Kỳ vọng mất điện trung bình năm trong hệ thống điện


5



Sơ đồ cấu trúc ngược đẳng trị phương án 1

Hình 3.3

Sơ đồ một sợi phương án 2

Hình 3.4

Sơ đồ đánh số thứ tự ngược phương án 2

Hình 3.5

Sơ đồ một sợi phương án 3

Hình 3.6

Sơ đồ thứ tự ngược đẳng trị phương án 3

Hình 3.7

Ví dụ về lưới phân phối cấu trúc ngược

Hình 3.8

Ví dụ về đẳng trị lưới phân phối

Hình 3.9

Thuật toán tìm ma trận đường nối

cứu về các chỉ tiêu, các yêu cầu và phương pháp đánh giá độ tin cậy cho lưới điện phân
phối, và dùng để ứng dụng cho bài toán quy hoạch phát triển lưới điện.
Mục đích nghiên cứu của luận văn.
Luận văn dự kiến áp dụng mô phỏng tính toán cho một xuất tuyến lưới phân phối
thực tế ở Việt Nam để phân tích và nâng cao độ tin cậy cho lưới điện, cụ thể các mục
đích của luận văn bao gồm:
- Tìm hiểu yêu cầu nâng cao độ tin cậy cho lưới điện phân phối và mối quan hệ
giữa độ tin cậy với tổn thất kinh tế, từ đó đánh giá chi phí cho độ tin cậy cho một
phương án lưới điện phân phối.
- Nghiên cứu các phương pháp và chỉ tiêu đánh giá độ tin cậy cho lưới điện phân
phối, lựa chọn chỉ tiêu thích hợp cho bài toán quy hoạch phát triển lưới điện.


8

- Thu thập số liệu và tính toán mô phỏng cho lưới điện thực tế (cụ thể là xuất
tuyến 22kV 471E9.9 Điện lực thành phố Thanh Hóa).
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu trong luận văn là các chỉ chỉ tiêu áp dụng cho nghiên cứu độ
tin cậy của lưới điện phân phối tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu là lưới phân phối cụ thể đã được lựa chọn từ bài toán quy
hoạch phát triển lưới điện phân phối và áp dụng các phương án nâng cao chỉ tiêu độ tin
cậy phù hợp.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
Xác định được độ tin cậy cho lưới phân phối sẽ đánh giá được chất lượng lưới
phân phối về mặt liên tục cung cấp điện cho các phụ tải. Tuy nhiên việc thống kê dữ
liệu về lưới phân phối phục vụ cho tính toán độ tin cậy gặp không ít khó khăn, do đó
trong các bài toán quy hoạch thiết kế hay vận hành thường không xét đến chỉ tiêu độ
tin cậy, phương án được lựa chọn có thể không đảm bảo tối ưu về mặt độ tin cậy cũng
như tổn thất kinh tế gây ra do mất điện.



10

CHƯƠNG I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ĐỘ TIN CẬY VÀ
YÊU CẦU BẢO ĐẢM CHỈ TIÊU ĐỘ TIN CẬY CHO LƯỚI
ĐIỆN PHÂN PHỐI.
1.1 Khái niệm về độ tin cậy.
Để hiểu về độ tin cậy trong hệ thống điện trước tiên ta tìm hiểu về định nghĩa
về độ tin cậy. Về cơ bản độ tin cậy chính là xác suất để hệ thống hoàn thành triệt để
nhiệm vụ yêu cầu trong khoảng thời gian nhất định và trong điều kiện vận hành nhất
định (theo [1]).
Có nghĩa là độ tin cậy luôn gắn với việc hoàn thành một nhiệm vụ cụ thể,
trong khoảng thời gian nhất định và trong hoàn cảnh nhất định. Như vậy mức độ độ
tin cậy là xác suất hoàn thành nhiệm vụ trong khoảng thời gian xác định. Xác suất
này được gọi là độ tin cậy của hệ thống.
Xác suất là đại lượng thống kê, không có giá trị chính xác vì vậy đặc điểm của
độ tin cậy cũng có tính thống kê từ kinh nghiệm làm việc trong quá khứ của hệ
thống. Đấy là ta nói riêng với hệ thống không phục hồi.
Còn đối với độ tin cậy trong hệ thống điện thì hơi khác biệt hơn chút ít bởi vì
hệ thống điện là hệ thống có tính chất phục hồi cho nên khái niệm khoảng thời gian
xác định không có ý nghĩa bắt buộc, bởi do tính chất của hệ thống điện làm việc liên
tục.
Do đó độ tin cậy trong hệ thống điện sẽ dùng một đại lượng khác để đo thích
hợp hơn ta gọi đó là độ sẵn sàng. Độ sẵn sàng trong hệ thống điện (hay độ tin cậy
trong hệ thống điện) là xác suất để hệ thống hoàn thành hoặc sẵn sàng hoàn thành
nhiệm vụ không phải trong thời gian nhất định nữa mà là trong thời điểm bất
kỳ(theo[1]).
Như vậy đặc điểm của độ sẵn sàng cũng là xác suất để hệ thống ở trạng thái tốt
trong thời điểm bất kỳ và được tính bằng tỷ số giữa thời gian hệ thống ở trạng thái

hỏng phần động lực (phát động), hỏng máy biến áp; hỏng thiết bị đóng cắt; hỏng
phần dẫn điện; hỏng chất cách điện của đường dây tải điện, trạm biến áp, chống sét


12

van, hỏng cáp điện lực; hỏng thiết bị điều khiển điện áp: thiết bị điều chỉnh điện áp
của các máy phát điện, thiết bị điều khiển tụ bù…; hỏng bảo vệ và điều khiển như:
hỏng rơle, hỏng đường truyền tín hiệu, hỏng mạch điều khiển.
Theo thống kê khoảng 50% sự cố được khôi phục trong khoảng thời gian 60
phút. Khoảng 90% sự cố lớn được khôi phục trong khoảng 7 giờ.
Kinh nghiệm cho thấy rằng, hầu hết các sự cố của lưới phân phối bắt nguồn từ
yếu tố thiên nhiên như: sét, bão, mưa, lũ lụt, động vật… Những sự mất điện khác có
thể quy cho khiếm khuyết của thiết bị, vật liệu và hành động của con người như: xe
ôtô đâm phải cột, phương tiện chạm vào dây dẫn, cây đổ, phá hoại, máy đào phải
cáp ngầm. Một số sự cố nguy hiểm và lan rộng trong hệ thống phân phối do bão, lũ
lụt. Trong trường hợp đó sự phục hồi cấp điện bị ngăn cản bởi những nguy hiểm, và
hầu hết các đơn vị điện lực không có đủ người, phương tiện, máy móc thiết bị để
phục hồi nhanh lưới điện trên một vùng địa lý rộng lớn và phức tạp.
Nhìn chung, có thể phân chia, sắp xếp lại để giảm thiểu số lượng khách hàng
bị ảnh hưởng của hỏng hóc thiết bị hoặc thời gian mất điện là nhỏ nhất. Sẵn sàng
hoạt động là sự lựa chọn duy nhất của ngành điện để nâng cao độ tin cậy. Giảm
thiểu thời gian mất điện, bằng cách kịp thời sửa chữa thiết bị hư hỏng.
Việc phối hợp giữa lập kế hoạch bảo trì phòng ngừa với phân tích độ tin cậy
có thể rất hiệu quả. Việc phân tích sự cố giúp xác định rõ những điểm yếu nhất của
hệ thống phân phối và giải quyết nhanh và chính xác các điểm đó. Sự phân tích
được thực hiện chỉ ở những khúc quan trọng của hệ thống. Những thông tin kết quả
được sử dụng trong quyết định xây dựng hệ thống tới mức an toàn nào đó hoặc chấp
nhận rủi ro mất điện.
1.3 Sự tác động của độ tin cậy đến việc xây dựng cấu trúc lưới.

Tổn thất kinh tế do mất điện rất lớn, đồng thời về mặt chính trị - xã hội cũng
đòi hỏi độ tin cậy cấp điện ngày càng cao, khiến cho hệ thống điện ngày càng phải
hoàn thiện về cấu trúc, cải tiến về vận hành để không ngừng nâng cao độ tin cậy.


14

Yếu tố độ tin cậy có ảnh hưởng đến quyết định cấu trúc hệ thống điện gồm có:
Với cấu trúc nguồn điện cần quan tâm đến độ dự trữ công suất, các tổ máy dự trữ
lạnh… Với cấu trúc lưới cần có những mạch vòng kín, nhiều lộ song song, trong
trạm cần nhiều máy biến áp, sơ đồ trạm và nhà máy điện phức tạp… Như vậy mới
làm tăng độ tin cậy cho lưới. Với cấu trúc hệ thống điều khiển để tăng cường độ tin
cậy cần có các thiết bị bảo vệ, thiết bị chống sự cố, hệ thống thông tin, hệ thống
điều khiển tự động, phương thức vận hành…Với cấu trúc hệ thống quản lý cần có
hệ thống sẵn sàng can thiệp khi sự cố, dự trữ thiết bị, phương tiện đi lại, tổ chức sửa
chữa sự cố và bảo dưỡng định kỳ…
Tóm lại cần có lượng vốn đầu tư rất lớn để nâng cao độ tin cậy cho hệ thống
điện, do đó độ tin cậy không phải được nâng cao bằng mọi giá. Mà chúng ta cần
nghiên cứu tính toán để tìm ra những giải pháp nâng cao độ tin cậy phù hợp với tình
hình kinh tế xã hội ở nước ta. Ta sẽ chọn lựa phương án với nguyên tắc sao cho đầu
tư vào nâng cao độ tin cậy chỉ có hiệu quả khi mức giảm tổn thất kinh tế do nâng
cao độ tin cậy lớn hơn chi phí để nâng cao độ tin cậy.
Khi xây dựng hàm mục tiêu của các bài toán xác định cấu trúc nguồn điện,
lưới điện và nguồn điện ta cần lưu ý đến thành phần tổn thất do độ tin cậy được tính
theo tổn thất kinh tế đã nói trên.
Tuy nhiên việc tính toán có liên quan đến thành phần đó rất phức tạp và cũng
gặp phải rất nhiều khó khăn. Vì vậy chúng ta còn có thể tính toán với yếu tố độ tin
cậy như là điều kiện biên của bài toán, tức là dùng chỉ tiêu gián tiếp về độ tin cậy
như là độ tin cậy( xác suất không xảy ra mất điện) phải bằng hoặc lớn hơn giá trị
nào đó, độ rủi ro (xác suất xảy ra mất điện) phải nhỏ hơn giá trị nào đó. Các chỉ tiêu

dao cách ly, các thiết bị bảo vệ, điều khiển và tự động hóa… Ngày nay cùng với sự
phát triển mạnh của ngành công nghệ vật liệu mới, đã có nhiều vật liệu và thiết bị
điện có độ tin cậy rất cao được ứng dụng. Cụ thể là những vật liệu cách điện có
cường độ cách điện cao như các loại giấy cách điện, sứ cách điện bằng silicon… Về
thiết bị điện có thể kể một số loại như máy cắt điện chân không, máy cắt điện SF6.
Hiện nay, các thiết bị sử dụng rơle điện từ đã, đang được thay thế bằng các thiết bị
bảo vệ và tự động hóa sử dụng công nghệ kỹ thuật số có độ tin cậy cao hơn rất


16

nhiều. Ngoài ra, máy biến áp hiện nay có tổn hao nhỏ và cách điện tốt với việc hiện
nay sử dụng vật liệu dẫn từ nên tăng độ tin cậy.
Tuy nhiên việc sử dụng thiết bị có độ tin cậy cao đồng nghĩa với việc tăng chi
phí đầu tư cho lưới điện và ảnh hưởng đến các chỉ tiêu kinh tế của hệ thống. Nên
việc sử dụng biện pháp này còn tùy vào điều kiện cụ thể, tùy vào loại phụ tải. Đối
với những hộ phụ tải không được phép mất điện như hộ phụ tải loại 1 thì chúng ta
cố gắng đầu tư với khả năng tốt nhất cho phép. Còn đối với các phụ tải khác phải
dựa trên sự so sánh giữa tổn thất do mất điện và chi phí đầu tư để từ đó lựa chọn các
biện pháp thích hợp. Thực tế lưới phân phối hiện nay còn sử dụng nhiều thiết bị cũ,
công nghệ lạc hậu, có độ tin cậy thấp đang dần được thay thế bằng những thiết bị
hiện đại có độ tin cậy cao, do đó độ tin cậy của lưới điện đang ngày được nâng cao
rõ rệt.
Việc sử dụng các thiết bị tự động trên lưới, các thiết bị điều khiển từ xa là biện
pháp thứ hai chúng ta có thể tính đến. Chúng ta có thể dùng các thiết bị tự động
thường dùng như là tự động đóng nguồn dự phòng, hệ thống điều khiển giám sát và
thu thập dữ liệu từ xa (SCADA), thiết bị tự động đóng lại …
Theo thống kê, đối với đường dây tải điện trên không (70-80)% tổng số lần sự
cố đường dây là do sự cố thoáng qua. Nguyên nhân có thể là do sét đánh vào đường
dây, cây đổ vào đường dây, vật lạ rơi vào đường dây… Các sự cố này thường tự

cấp điện cho phụ tải cho sơ đồ sử dụng đường dây mạch kép. Bình thường, hai lộ có
thể vận hành song song hoặc vận hành độc lập. Khi sự cố một lộ, lộ còn lại cấp điện
cho toàn bộ phụ tải. Trong đó điều kiện quan trọng khả năng mang tải của mỗi lộ
phải đảm đương được toàn bộ tải. Đặc điểm của sơ đồ này là có độ tin cậy cao
nhưng chi phí đầu tư khá lớn, chỉ thích hợp cho những phụ tải quan trọng không cho
phép mất điện như các hộ phụ tải loại 1.
Đối với sơ đồ lưới kín vận hành hở thì ta sử dụng nhiều nguồn và nhiều phân
đoạn đường dây tạo thành lưới kín nhưng khi vận hành thì các máy cắt phân đoạn
cắt ra tạo thành lưới hở. Khi một đoạn ngừng điện thì chỉ phụ tải phân đoạn đó mất
điện, còn các phân đoạn khác chỉ mất điện tạm thời trong thời gian thao tác, sau đó
lại được cấp điện bình thường. Sơ đồ này có ưu điểm là chi phí đầu tư không cao,


18

có thể áp dụng cho các hệ thống phân phối điện. Tuy nhiên còn tùy thuộc vào tình
hình nguồn điện ở từng khu vực.
Đối với sơ đồ lưới có phân đoạn cụ thể là sơ đồ lưới hình tia có phân đoạn
được sử dụng nhiều nhất hiện nay vì nó có chi chí thấp, sơ đồ lại đơn giản có thể áp
dụng rộng rãi. Nhược điểm của nó là có độ tin cậy chưa cao. Thiết bị phân đoạn có
thể là máy cắt điện, dao cách ly, dao cách ly phụ tải. Trong sơ đồ này khi sự cố một
phân đoạn thì chỉ những phân đoạn phía sau nó bị mất điện, các phân đoạn đứng
trước nó (về phía nguồn) chỉ bị mất điện tạm thời trong thời gian thao tác. Trong
kiểu sơ đồ này, số lượng và vị trí đặt các thiết bị phân đoạn cũng ảnh hưởng đến
thời gian mất điện của phụ tải. Vì vậy cần lựa chọn cụ thể cho từng lưới điện cụ thể.
Kinh nghiệm vận hành cho thấy để giảm thiểu điện năng bị mất do bảo dưỡng định
kỳ và do sự cố cần nhiều thiết bị phân đoạn trên đường dây. Vị trí đặt các thiết bị
phân đoạn chia đều chiều dài đường dây. Tuy nhiên việc lắp đặt quá nhiều thiết bị
phân đoạn sẽ làm tăng vốn đầu tư, tăng phần tử sự cố trên lưới nên đối với lưới
10kV người ta thường chọn chiều dài các phân đoạn đường dây từ 2-3 km. Để sử

ở các chương sau của luận văn dự kiến sẽ tìm hiểu các phương pháp đánh giá độ tin
cậy cho lưới điện và ứng dụng cho các bài toán về độ tin cậy. Trên thực tế hiện nay
tại lưới điện phân phối Việt Nam, việc đánh giá và định lượng các chỉ tiêu độ tin
cậy được thực hiên theo thông tư Thông tư 32/2010/TT-BCT quy định hệ thống
điện phân phối. Trong đó độ tin cậy của lưới điện phân phối đang vận hành được
thống kê và so sánh với chỉ tiêu cấp phát hàng năm của tổng công ty điện lực. Luận
văn dự kiến tìm hiểu các chỉ tiêu độ tin cậy của lưới phân phối điện, các biện pháp
nâng cao độ tin cậy của lưới phân phối, và đánh giá chi tiết hiệu quả của các biện
pháp này.


20

CHƯƠNG 2. CÁC CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ ĐỘ TIN
CẬY CHO LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI.
2.1 Giới thiệu chung về chỉ tiêu độ tin cậy.
Viện kỹ nghệ Điện và Điện tử (IEEE) đã nêu ra định nghĩa chung nhất các chỉ
tiêu độ tin cậy chấp nhận chung tại tiêu chuẩn số P1366 trong "Hướng dẫn về chỉ
tiêu độ tin cậy cho lưới điện phân phối". Chỉ tiêu về độ tin cậy là thành phần quan
trọng để đánh giá khả năng có ích trong việc xác định hiệu suất sử dụng điện dài
hạn. Hơn nữa, IEEE1366 là chuẩn phổ biến cho việc tính toán chỉ số độ tin cậy.
Điều này không có nghĩa là tiêu chuẩn IEEE1366 là cách duy nhất để tính toán độ
tin cậy cho lưới điện phân phối. Đơn giản là bởi vì mức độ chấp nhận chung của
IEEE1366 trở nên thông dụng như một điểm chuẩn để xác định giá trị trung bình
lâu dài của hệ thống như là Thời gian mất điện trung bình của lưới phân phối
(SAIDI), Thời gian mất điện trung bình của khách hàng (ký hiệu là CAIDI), Tần
suất hay số lần mất điện trung bình của hệ thống (SAIFI), Tần suất (số lần) mất điện
trung bình của khách hàng (CAIFI), Chỉ tiêu tần suất mất điện thoáng qua trung
bình (MAIFI), và Chỉ tiêu khả năng sẵn sàng phục vụ trung bình (ASAI)… Các chỉ
tiêu này đã đánh giá một cách toàn diện về chỉ tiêu độ tin cậy của một lưới điện

tổng hợp chúng, và có thể dựa vào đấy để cho cái nhìn chi tiết để xử lý các sự cố
lớn đó. Có nhiều phương pháp khác nhau để phân tích và tính toán ngày sự cố lớn,
nó cũng rất quan trọng trong việc xem xét đánh giá độ hữu ích của nó trong việc
điều khiển kết quả chất lượng dịch vụ cung cấp điện.
Việc chia tách các dữ liệu sự kiện cũng cho phép để đánh giá xu hướng dài
hạn cũng như đánh giá các dữ liệu trong hai chế độ sự cố và bình thường. Ngoài các
sự cố lớn, một số sự cố mất điện, chẳng hạn như cắt điện theo kế hoạch sẽ cung cấp
một lượng dữ liệu chính xác với độ tin cậy cao hữu ích. Tại thời điểm mất điện,
máy móc có thể ghi lại số liệu cắt điện theo kế hoạch như một phần của các số liệu
thống kê của việc cắt điện theo kế hoạch và phân nó thành các thể loại riêng để
phân tích.
Chỉ tiêu về độ tin cậy cũng rất có ích cho nhiều quá trình ra quyết định. Chỉ
tiêu về độ tin cậy có thể hình thành dựa trên cơ sở xem xét hiệu quả hoạt động hàng
ngày và ra quyết định. Mức độ quản lý hệ thống và các hoạt động kỹ thuật là dựa
trên các chỉ tiêu về độ tin cậy sẽ bị ảnh hưởng bởi sự chính xác và tính hợp lệ của


22

dữ liệu thu thập được. Việc thu thập các dữ liệu hữu ích có thể liên quan đến việc sử
dụng các số liệu báo cáo được chuẩn hóa. Trong hoạt động, nó cũng tùy thuộc vào
từng tác dụng để quyết định tần số hữu ích của việc đánh giá dữ liệu và thiết lập
mục tiêu có ý nghĩa. Nhiều thông tin có giá trị được đánh giá trên một cơ sở hàng
tháng.
2.2 Các chỉ tiêu đánh giá độ tin cậy của hệ thống điện và lưới phân phối điện.
Để đánh giá hệ thống điện tổng quát bao gồm cả nguồn điện, các chỉ tiêu
chính sau thường được sử dụng (theo [1]):
- Xác suất thiếu điện cho phụ tải (LOLP – Loss Of Load Probability), đó là
xác suất công suất phụ tải lớn hơn công suất nguồn điện. Chỉ tiêu này thể hiện khả
năng mất điện do thiếu công suất trong hệ thống.

khác.
SAIDI = ΣriNi/NT (giờ/phụ tải.năm)

(2.1)

Trong đó: ri là thời gian mỗi lần mất điện;
Ni là số lần mất điện;
NT là tổng số khách hàng được phục vụ.
2.2.2. SAIFI.
Chỉ số về số lần mất điện trung bình của lưới điện phân phối (ký hiệu là SAIFI
- System Average Interuption Frequency Index). SAIFI được tính tính bằng tổng số
lần mất điện của các khách hàng sử dụng điện, các đơn vị phân phối và bán lẻ điện,
mua điện của các đơn vị phân phối điện chia cho tổng số khách hàng sử dụng điện,
các đơn vị phân phối và bán lẻ điện, mua điện của các đơn vị phân phối điện (hay
tổng số lần mất điện của tất cả các phụ tải trên tổng số phụ tải NT).
Là chỉ số thể hiện số lần mất điện trung bình đối với mỗi khách hàng của đơn
vị phân phối điện.
NT

SAIFI 

n
i 1

NT

i

(số lần/phụ tải. năm)


(2.3)

i

Trong đó: ri là thời gian của mỗi lần mất điện; Ni là số lượng khách hàng bị
mất điện của mỗi lần mất điện duy trì.
2.2.4. CAIFI.
Tần suất (số lần) mất điện trung bình của khách hàng bằng tổng số lần mất
điện trên tổng số phụ tải (CAIFI- Customer Average Interruption Frequency Index).
Chỉ tiêu này cho biết số lần mất điện trung bình cho trên mỗi khách hàng.
CAIFI = Σni/CN (số lần mất điện/khách hàng.năm)
Với: CN là số khách hàng bị mất điện.

(2.4)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status