NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
NGUYỄN QUỐC PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC
SẢN XUẤT CƠ KHÍ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành : CHẾ TẠO MÁY
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS. HÀ MINH HÙNG
GS.TS. TRẦN VĂN ĐỊCH
Hà Nội – Năm 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ
1
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Nguyễn Quốc Phượng – Tác giả của luận văn
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Tác giả luận văn
LUẬN VĂN THẠC SĨ
3
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
MỤC LỤC
TRANG
Trang bìa phụ…………………………………………………………………………...1
Lời cam đoan…………………………………………………………………………....2
Lời cám ơn……………………………………………………………………………...3
Mở đầu ……………………………………………………………………....................5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
1.1. Khái niệm về tổ chức sản xuất cơ khí…...…………………………….………..11
1.2. Mối quan hệ của tổ chức sản xuất với các khoa học khác……………………...11
1.3. Kinh nghiệm tổ chức sản xuất TBCN…………………………………………..12
1.4. Các nguyên tắc tổ chức sản xuất cơ khí………………………………………...13
1.5. Các phương pháp tổ chức sản xuất cơ khí……………………………………...17
1.5.1. Tổ chức sản xuất theo thời gian…………………………...………………….17
1.5.2. Tổ chức sản xuất theo không gian……………………...………......................27
1.5.3. Tổ chức sản xuất theo dây chuyền………………………...………………….33
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC LAO ĐỘNG TRONG CÁC NHÀ MÁY CƠ KHÍ.
2.1. Tổ chức lao động………………………………………………………………..39
2.1.1. Nhiệm vụ của tổ chức lao động……………………………………………….39
2.1.2. Phân chia lao động……………………………………………………………39
2.1.3. Tổ chức ca làm việc và cách bố trí thời gian làm việc……………………….42
2.1.4. Tổ chức phục vụ nhiều máy…………………………………………………..44
2.1.5. Tich hợp các nghành nghề…………………………………………………….48
3.2.2. Đối tượng của kiểm tra kỹ thuật………………………………………………78
3.2.3. Chức năng của kiểm tra kỹ thuật……………………………………………...79
3.3. Tổ chức dịc vụ dụng cụ…………………………………………………………79
3.3.1. Vai trò, nhiệm vụ và thành phần của dịch vụ dụng cụ……………………….79
3.3.2. Phân loại và ký hiệu dụng cụ…………………………………………………80
3.3.3. Định mức tiêu hao dụng cụ…………………………………………………...80
3.3.4. Lập kế hoạch dụng cụ…………………………………………………………81
3.3.5. Tổ chức phục hồi dụng cụ…………………………………………………….85
LUẬN VĂN THẠC SĨ
5
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
3.4. Tổ chức dịch vụ sửa chữa……………………………………………………….86
3.4.1. Nhiệm vụ và ý nghĩa của dịch vụ sửa chữa……………………….…………..86
3.4.2. Hệ thống sửa chữa theo kế hoạch……………………………………….…….87
3.4.3. Định mức sửa chữa…………………………………………………….……...88
3.4.4. Tổ chức chuẩn bị sửa chữa……………………………………………………91
3.5. Tổ chức cung ứng vật tư – kỹ thuật……………………………………………..92
3.5.1. Nhiệm vụ của tổ chức cung ứng vật tư – kỹ thuật……………………………92
3.5.2. Phân loại và ký hiệu vật liệu………………………………………………….92
3.5.3. Định mức tiêu hao vật liệu……………………………………………………92
3.5.4. Định mức dự trữ vật liệu……………………………………………………...94
3.6. Tổ chức kho chứa……………………………………………………………….95
3.6.1. Nhiệm vụ và ý nghĩa của kho chứa………………….………………………..95
3.6.2. Phân loại kho chứa……………………………………………………………96
3.6.3. Tính diện tích và thiết bị của kho chứa…………….…………………………97
3.7. Tổ chức vận chuyển…………………………………………………………….99
3.7.1. Nhiệm vụ của vận chuyển…………….………………………………………99
4.3.3. Lập kế hoạch trong sản xuất hàng khối…………………………….………..127
4.3.4. Lập kế hoạch có trợ giúp của máy tính……………………………………...128
4.4. Ứng dụng phương pháp toán học để lập kế hoạch tối ưu……………………..129
4.5. Hạch toán kinh tế trong nhà máy……………………………………………...135
4.5.1. Tổ chức hạch toán kinh tế trong nhà máy…………………………………...135
4.5.2. Hạch toán kinh tế của phân xưởng…………………………………………..137
4.5.3. Hạch toán kinh tế của công đoạn sản xuất, đội sản xuất và chỗ làm việc….138
4.5.4. Ứng dụng nguyên tắc hạch toán kinh tế tổ chức hoạt động công việc của các bộ
phận quản lý nhà máy………………………………………………………………..139
4.5.5. Phân tích kinh tế……………………………………………………………..140
Kết luận ……………………………………………………………………………...144
Tài liệu tham khảo ………………………………………………………….………..145
MỞ ĐẦU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
7
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
Ngày nay đất nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
với mục tiêu hội nhập và phát triển cùng các nước trên thế giới, điều này mang lại cho
chúng ta nhiều điều thuận lợi đồng thời cũng có nhiều thách thức khó khăn. Để giải
quyết các khó khăn đó các doanh nghiệp cần có những phương pháp tổ chức kinh
doanh mang tính chiến lược nhằm mang lại hiệu quả cao nhất có thể cho doanh nghiệp.
Cùng với sự hát triển của các nghành khác, nghành công nghiệp đã và đang đóng
một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Trong đó các doanh
nghiệp cơ khí với các loại hình khác nhau giữ vai trò chủ chốt, và nó là cơ sở để thúc
đẩy sự phát triển của các nghành khác.
Tổ chức sản xuất có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tai và phát triển trong các nhà
máy hay các doanh nghiệp cơ khí. Tổ chức sản xuất bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động
Chương 1: Tổng quan về các phương pháp sản xuất.
Bao gồm các khái niệm về tổ chức sản xuất, các mối quan hệ giữa tổ chức sản xuất
với các khoa học khác, kinh nghiệm của tổ chức sản xuất TBCN, các nguyên tắc tổ
chức sản xuất và các phương pháp về tổ chức sản xuất.
Chương 2: Tổ chức lao động.
Trình bày các phương pháp tổ chức chủ yếu liên quan đến người lao động, bao gồm
tổ chức lao động, định mức lao động, tổ chức tiền lương và phương thức quản lý giám
sát lao động trong các nhà máy cơ khí.
Chương 3: Phương pháp tổ chức các hoạt động sản xuất trong nhà máy cơ khí.
Trình bày các hình thức tổ chức liên quan đến các phòng ban như tổ chức chuẩn bị
kỹ thuật, tổ chức kiểm tra kỹ thuật, tổ chức dịch vụ sửa chữa, … và nghiên cứu phát
triển sản phẩm trong các nhà máy cơ khí.
Chương 4: Kế hoạch phát triển kinh tế - kỹ thuật của nhà máy.
Trình bày các đường lối lập kế hoạch kinh tế - kỹ thuật, ứng dụng phương pháp toán
học để lập kế hoạch tối ưu, hạch toán kinh tế trong nhà máy, và đề cập đên vấn đề lập
kế hoạc nhân sự cho nhà máy.
“Nghiên cứu các phương pháp tổ chức sản xuất cơ khí” là đề tài được nghiên cứu
thông qua các tài liệu tham khảo kết hợp với kinh nghiệm của bản thân, đặc biệt có sự
LUẬN VĂN THẠC SĨ
9
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
hướng dẫn của PGS.TS Hà Minh Hùng và GS.TS Trần Văn Địch đã giúp cho tác giả
hoàn thành đề tài này.
Với kinh nghiệm còn thiếu chắc chắn đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, tác
giả rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy (cô) cùng các đồng nghiệp.
Em xin chân thành cám ơn PGS.TS Hà Minh Hùng và GS.TS Trần Văn Địch đã
nhiệt tình giúp đỡ tác giả hoàn thành đề tài này.
Các môn học về kinh tế là cơ sở lý thuyết để xây dựng các phương pháp tổ chức sản
xuất và xác định phương pháp giải quyết vấn đề đặt ra đối với một nhà máy cơ khí
trong những điều kiện sản xuất cụ thể
LUẬN VĂN THẠC SĨ
11
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
Các môn học về kỹ thuật nghiên cứu các quy luật phát triển và hoàn thiện các tính
chất cũng như kết cấu của sản phẩm và các phương pháp chế tạo chúng, có nghĩa là
nghiên cứu nguyên liệu, vật liệu, chi tiết và thiết bị
Môn học Công nghệ chế tạo máy, có quan hệ chặt chẽ với việc nghiên cứu các
phương pháp tổ chức sản xuất cơ khí, nó là cơ sở để nghiên cứu các vấn đề kỹ thuật
của tổ chức sản xuất
Giải quyết các vấn đề về tổ chức sản xuất đòi hỏi nhiều phép toán phức tạp để trên
cơ sở đó có thể chọn được các phương pháp tối ưu trong những điều kiện cụ thể của
nhà máy. Vì vậy, các môn học đặc biệt là toán học thống kê là yếu tố không thể thiếu
đối với khoa học về tổ chức sản xuất
1.3. Kinh nghiệm tổ chức sản xuất TBCN
Ph.I.Taylo là người Mỹ đầu tiên xây dựng lên học thuyết về tổ chức sản xuất.
Những tư tưởng chính trị của Ph.I.Taylo về khoa học tổ chức sản xuất bao gồm:
- Thay các phương pháp truyền thống và kinh nghiệm thô sơ bằng các phương pháp
dựa trên các quy luật khoa học để thực hiện công việc. Vì vậy theo ông, nếu một
phương pháp làm việc mới ra đời thì năng suất lao động có thể tăng lên nhiều lần. VD:
cùng một người công nhân khi sử dụng phương pháp làm việc mới đã nâng năng suất
chuyển gang vào lò từ 12.5 tấn tới 47 tấn trong một ca làm việc mà không sử dụng bất
kỳ động tác cơ khí nào.
- Lựa chọn những công nhân có năng lực để đào tạo họ trở thành người có năng suất
- Phần thiết kế và chuẩn bị sản xuất được thực hiện tại một trung tâm của nhà máy trên
cơ sở ứng dụng các nghiên cứu thực nghiệm tại các phòng thí nghiệm.
Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong tổ chức sản xuất cho phép Henry Ford đạt
được những thành tích đáng kể. Nếu như trong 7 năm (1908 – 1915) tất cả các nhà máy
của ông chỉ sản xuất được 1 triệu chiếc ôtô thì riêng năm 1923 các nhà máy này đã sản
xuất được 2 triệu chiếc ôtô sau khi áp dụng các biện pháp tổ chức sản xuất tiên tiến.
Các nguyên tắc của Henry Ford là cở sở để thực hiện tổ chức sản xuất tiên tiến
trong các nhà máy sản xuất dây chuyền, và các nguyên tắc này cũng được áp dụng
trong các nhà máy của các nước XHCN trước đây và ngày nay.
1.4. Các nguyên tắc tổ chức sản xuất cơ khí.
LUẬN VĂN THẠC SĨ
13
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
Cơ sở tổ chức quá trình sản xuất ở bất kỳ nhà máy cơ khí nào đều phải tính đến sự
phối hợp hài hòa giữa thời gian và không gian của tất cả các quá trình chính và các quá
trình phụ. Đặc điểm và phương pháp của sự phối hợp này là khác nhau trong những
điều kiện sản xuất khác nhau. Nhìn chung, tổ chức quá trình sản xuất phải tuân theo
một số nguyên tắc chung sau đây:
1. Nguyên tắc chuyên môn hóa: Chuyên môn hóa là hình thức phân chia lao động
xã hội cho từng nghành, từng nhà, từng phân xưởng, từng công đoạn và từng chỗ làm
việc. Mức độ chuyên môn hóa của nhà máy cơ khí phụ thuộc vào quy mô sản xuất và
khối lượng lao động (thời gian gia công) để chế tao sản phẩm.
2. Nguyên tắc chuẩn hóa kết cấu: Sử dụng phương pháp này cho phép nâng cao
năng xuất gia công (do các kết cấu của sản phẩm được tiêu chuẩn hóa) và hạ giá thành
sản phẩm.
3. Nguyên tắc tiêu chuẩn hóa công nghệ: Trong quá trình thiết kế quy trình công
nghệ phải cố gắng đạt được mức độ giống nhau cao nhất về phương pháp gia công, các
Trong phạm vi một phân xưởng thì nguyên tắc thẳng dòng được thể hiện ở trình tự
của quá trình sản xuất (đảm bảo thứ tự của các nguyên công).
7. Nguyên tắc liên tục
Nguyên tắc liên tục của quá trình sản xuất có nghĩa là loại bỏ hoặc giảm thiểu các
gián đoạn trong sản xuất. Đó là các gián đoạn giữa các nguyên công, trong từng
nguyên công và giữa các ca làm việc. Máy móc càng hiện đại thì mức đô liên tục của
quá trình sản xuất càng cao. Sản suất tự động hóa có mức độ lien tục cao nhất.
8. Nguyên tắc nhịp nhàng.
Nguyên tắc này đòi hỏi chế tạo số lượng sản phẩm như nhau hoặc lượng tăng lên
như nhau trong những khoảng thời gian như nhau và lặp lại sau một chu kỳ sản xuất ở
tất cả các công đoạn và các nguyên công.
Thứ tự lặp lại của quá trình sản xuất được xác định bằng nhịp sản xuất. Cần phân
biệt nhịp xuất xưởng của sản phẩm (ở cuối quá trình sản xuất), nhịp nguyên công
(trung gian) và nhịp khởi xuất (ở đầu quá trình sản xuất). Nhịp xuất xưởng của sản
phẩm là quan trọng nhất vì nó xác định kế hoạch của nhà máy trong một thời gian nhất
định. Nhịp xuất xưởng xủa sản phẩm chỉ có thể ổn định lâu dài khi nhịp nguyên công
LUẬN VĂN THẠC SĨ
15
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
được đảm bảo. Nói cách khác trên mỗi vị trí, mỗi máy, mỗi dây chuyền lắp ráp công
việc luôn được thực hiện để đảm bảo cho nhịp xuất xưởng của sản phẩm tồn tại đối với
từng chủng loại và sản lượng. Tuy nhiên điều kiện này chỉ được thỏa mãn nếu nhịp
khởi xuất diễn ra một cách bình thường, có nghĩa là phải cung cấp đủ nguyên vật liệu
cho những nguyên công đầu tiên của quá trình sản xuất.
Tổ chức sản xuất nhịp nhàng là một nhiệm vụ tổng thể của nhà máy. Nó không chỉ
giới hạn trong phạm vi của các phân xưởng chính mà tất cả các phân xưởng phụ và các
bộ phận phụ, quản lý đều phải làm việc một cách cân đối nhịp nhàng.
1.5.1.1. Thời gian và cấu trúc của chu kỳ sản xuất.
Thời gian của chu kỳ sản xuất hay chu kỳ sản xuất là khoảng thời gian giữa lúc bắt
đầu và khi kết thúc của quá trình sản xuất để chế tạo một sản phẩm ( có thể là phôi, chi
tiết, máy ) hoặc một loạt sản phẩm
Thời gian của chu kỳ sản xuất cần được tính theo ngày hoặc theo giờ, và cần được
tính chính xác để lập kế hoạch của nhà máy hoặc phân xưởng, để xác định thời gian bắt
đầu của quá trình sản xuất nếu đặt ra yêu cầu về thời gian kết thúc của quá trình sản
xuất. Giảm thời gian của quá trình sản xuất có ý nghĩa kinh tế quan trọng: thời gian của
chu kỳ sản xuất càng ngắn, số lượng sản phẩm được chế tạo ra trong một đơn vị thời
gian càng lớn, hiệu quả sử dụng quỹ cơ bản càng cao và nhu cầu về vốn lưu động của
nhà máy càng thấp.
Thời gian của chu kỳ sản xuất gồm 2 thành phần: thời gian làm việc và thời gian
gián đoạn.
1. Thời gian làm việc: là thời gian khi mà quy trình công nghệ (các nguyên công) và
các công việc chuẩn bị (điều chỉnh máy) được thực hiện. Thời gian này được gọi là
thời gian công nghệ, nó bao gồm thời gian của các nguyên công, thời gian phục vụ
(kiểm tra và vận chuyển), thời gian các quá trình tự nhiên,… Ví dụ thời gian làm khô
sản phẩm sau khi sơn, thời gian làm nguội chi tiết ngoài không khí,…
2. Thời gian gián đoạn có thể được chia ra: thời gian gián đoạn giữa các nguyên
công (trong một ca làm việc) và thời gian gián đoạn giữa các ca làm việc
Thời gian gián đoạn giữa các nguyên công lại được chia ra: gián đoạn theo loạt,
gián đoạn chờ đợi, gián đoạn sắp bộ.
LUẬN VĂN THẠC SĨ
17
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
- Gián đoạn theo loạt: mỗi chi tiết trong loạt sau khi được gia công xong ở một
nguyên công bất kỳ đều phải nằm chờ đến khi chi tiết cuối cùng trong loạt đi qua
18
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
Ttn : thời gian của các quá trình tự nhiên.
Tgd : thời gian gián đoạn.
Thời gian nguyên công nói chung Tnc được xác định như sau: khi tại nguyên công
nào đó đồng thời có một số máy làm việc thì thời gian gia công cả loạt chi tiết Tnc là:
Tnc =
n.t tc
c
( 1.2)
Trong đó:
n: số chi tiết được gia công trong loạt.
c: chỗ làm việc của nguyên công.
t tc : thời gian từng chiếc (thời gian gia công từng chi tiết).
Nếu giả sử rằng, tại mỗi chỗ nguyên công chỉ có một chỗ làm việc C = 1 thì thời
gian nguyên công của cả loạt chi tiết là:
Tnc = n.t tc
(1.3)
Khi xác định thời gian của chu kỳ nguyên công cần phải tính mức độ gia công đòng
thời (gia công song song) trên nhiều nguyên công khác nhau của quy trình công nghệ.
Mức độ này phụ thuộc vào nhiều phương pháp phối hợp theo thời gian thực hiện
Vì chu kỳ nguyên công trong trường hợp này tỷ lệ thuận vơi số lượng chi tiết trong
loạt và khối lượng lao động của từng nguyên công riêng biệt cho nên dạng di chuyển
nối tiếp này chỉ nên áp dụng trong những trường hợp khi gián đoạn nguyên công không
ảnh hưởng đáng kể đến chu kỳ nguyên công. Nếu điều này không được thỏa mãn thì để
giảm chu kỳ sản xuất nên áp dụng dạng di chuyển nối tiếp – song song.
Dạng di chuyển nối tiếp – song song thể hiện ở sự phối hợp thời gian để thực hiện
hai nguyên công kề nhau. Trong trường hợp này toàn bộ loạt chi tiết đi qua từng
nguyên công mà không có sự gián đoạn nào.
Cần phân biệt 2 phương án di chuyển nối tiếp – song song:
- Thời gian của nguyên công trước nhỏ hơn thời gian của nguyên công sau.
- Thời gian của nguyên công trước lớn hơn thời gian của nguyên công sau.
LUẬN VĂN THẠC SĨ
20
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
Hình 1.2: Thời gian của chu kỳ nguyên công khi di chuyển nối tiếp - song song (quy
trình gồm 2 nguyên công).
a/ Thời gian của nguyên công trước nhỏ hơn thời gian của nguyên công sau.
b/ Thời gian của nguyên công trước lớn hơn thời gian của nguyên công sau.
Trong trường hợp thứ nhất di chuyển p chi tiết có thể được thực hiện ngay sang
nguyên công tiếp theo sau khi kết thúc nguyên công trước. Trong trường hợp thứ 2
hiện tượng máy không bị dừng ở nguyên công tiếp theo chỉ có thể được đảm bảo sau
khi hội đủ số lượng chi tiết cho phép thực hiện nguyên công này một cách liên tục.
Từ hình 1.2 ta nhận thấy dạng di chuyển nối tiếp – song song có thời gian nguyên
công nhỏ hơn so với dạng di chuyển nối tiếp. Ta còn thấy trong cả hai trường hợp di
(1.8)
Vì chỉ số của t (t1 hoặc t2) ứng với nguyên công có thời gian ngắn hơn, do đó cả 2
công thức (1.7) và (1.8) có thể viết dưới dạng chung như sau:
τ = t n (n − p)
(1.9)
Trong đó:
τ : thời gian giảm được
t n : thời gian ở nguyên công có chu kỳ ngắn hơn
n: số chi tiết trong loạt
p: số chi tiết (trong loạt gồm n chi tiết) được di chuyển từ nguyên công
này sang nguyên công khác.
Nguyên tắc xây dựng dạng di chuyển nối tiếp – song song đối với quy trình công
nghệ gồm 2 nguyên công có thể được áp dụng cho bất kỳ 2 nguyên công kề nhau nào
của quy trình công nghệ nhiều nguyên công (hình 1.3).
LUẬN VĂN THẠC SĨ
22
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
Hình 1.3: Thời gian của chu kỳ nguyên công khi di chuyển nối tiếp – song
song (quy trình gồm nhiều nguyên công).
Từ sơ đồ trên, ta thấy thời gian của chu kỳ nguyên công khi di chuyển – song song
bằng hiệu giữa thời gian của chu kỳ nguyên công khi di chuyển nối tiếp và tổng thời
gian trùng khớp τ 1 , τ 2 , τ 3 (thời gian mà 2 nguyên công hoặc 3 nguyên công cùng hoạt
nguyên công riêng biệt lớn.
Dạng di chuyển song song có đặc trưng là không có gián đoạn, loạt chi tiết hoặc sản
phẩm được di chuyển sang nguyên công tiếp theo ngay lập tức sau khi kết thúc nguyên
công trước (hình 1.4)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
23
NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC SẢN XUẤT CƠ KHÍ
Hình 1.4: Thời gian của chu kỳ gia công khi di chuyển song song.
Từ sơ đồ trên hình 1.4 có thể xác định thời gian của chu kỳ nguyên công khi di
chuyển song song Tnc (ss ) :
m
Tnc ( ss ) = nt max + ∑ pt − pt max
(1.12)
1
Hoặc:
m
Tnc ( ss ) = (n − p)t max + ∑ pt
(1.13)
r : nhịp sản suất của dây chuyền
1.5.1.3. Chu kỳ chế tạo sản phẩm.
Chu kỳ chế tạo sản phẩm Tck (máy) bao gồm chu kỳ chế tạo các chi tiết riêng lẻ và
chu kỳ lắp ráp, chu kỳ các nguyên công sửa nguội, điều chỉnh, chạy rà và chạy thử.
Tính toán chu kỳ lắp ráp (còn gọi là sơ đồ chu kỳ). Khi xây dựng sơ đồ chu kỳ trước
hết phải xác định khoảng thời gian của các công việc công nghệ, công việc vận chuyển
và công việc kiểm tra.
Thời gian của chu kỳ chế tạo sản phẩm (máy) được xác định theo thời gian lớn nhất
của chi tiết chính (thường là chi tiết phức tạp nhất hay còn gọi là chi tiết đại diện) và
chu kỳ lắp ráp tính từ thời điểm chi tiết chính đi vào dây chuyền lắp ráp. Chọn chi tiết
chính có thể được minh họa bằng sơ đồ như trên hình 1.5. Ta thấy, chi tiết A có chu kỳ
sản xuất là 10 ngày đi vào dây chuyền lắp ráp sau 12 ngày khi dây chuyền lắp ráp bắt
đầu hoạt động. Trong khi đó chi tiết B mặc dù có chu kỳ sản xuất nhỏ hơn (8 ngày)
nhưng đi vào dây chuyền lắp ráp sớm hơn, vì vậy chi tiết B được chọn là chi tiết chính.
Như vậy, chu kỳ sản xuất của sản phẩm Tck (máy) trong trường hợp này là 24 ngày.
LUẬN VĂN THẠC SĨ
25