sự ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp đối với việc nâng cao loại hình sản xuất và thay đổi phương pháp tổ chức sản xuất - Pdf 10

Đề tài: Sự ảnh hởng của quy mô doanh nghiệp
đối với việc nâng cao loại hình sản xuất và thay
đổi phơng pháp tổ chức sản xuất
Khái niệm doanh nghiệp
Quy mô doanh nghiệp là phạm trù phản ánh độ lớn của doanh nghiệp
và cách thức tổ chức, bố trí các bộ phận cấu thành doanh nghiệp ấy.
Quy mô doanh nghiệp bao gồm 2 mặt: lợng và chất
- Về mặt lợng:
Để đánh giá quy mô doanh nghiệp ngời ta sử dụng những chỉ tiêu
định lợng cụ thể, hay nói cách khác độ lớn của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc
trực tiếp vào trình độ tích tụ, tập trung hoá sản xuất. Trình độ tích tụ, tập
trung hoá sản xuất càng cao, quymô của doanh nghiệp càng lớn. Nhng điều
đó không phủ nhận sự tồn tại của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ bởi
vì trình độ tích tụ tập trung hoá kinh doanh của các chủ đầu t cũng không
giống nhau. Mặt khác, quá trình tích tụ tập trung hoá diễn ra song song với
quá trình nâng cao trình độ chuyên môn hoá, mở rộng các quan hệ liên kết
kinh tế.
- Về mặt chất: quy mô của doanh nghiệp không phải là sự tập hợp
giản đơn các bộ phận cấu thành doanh nghiệp mà nó phản ánh cách thức tổ
chức, sắp xếp các bộ phận ấy theo yêu cầu thực hiện, mục tiêu kinh doanh
của doanh nghiệp. Cách thức tổ chức, sắp xếp bộ phận trong doanh nghiệp
phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau độ lớn của doanh nghiệp, đặc điểm
lĩnh vực kinh doanh, các mối quan hệ liên kết kinh tế mà doanh nghiệp
tham gia.
Quy mô hợp lý của doanh nghiệp phải là quy mô đảm bảo khả năng
cạnh tranh cao trên thị trờng. Do vậy quy mô hợp lý của doanh nghiệp
không nhất thiết phải là quy mô lớn. Việc lựa chọn quy mô hợp lý của
doanh nghiệp đặc biệt quan trọng vì
- Nó quy định trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn đầu t cơ bản.
- ảnh hởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và qua đó ảnh
hởng đến khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong môi trờng

càng lớn thì doanh nghiệp càng có điều kiện thuận lợi để nâng cao loại hình
sản xuất.
Quy mô của doanh nghiệp bị ảnh hởng bởi tiến bộ khoa học, kỹ
thuật, công nghệ sản xuất và thiết bị máy móc.
Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ ảnh hởng trực tiếp đến khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng doanh nghiệp có trình độ khoa
học - công nghệ càng cao khả năng cạnh tranh càng lớn và ngợc lại. Trình
2
độ khoa học công nghệ cũng có ảnh hởng to lớn đến quy mô của doanh
nghiệp. Thông thờng, trình độ khoa học công nghệ cao có khả năng tạo ra
khối lợng sản phẩm lớn nhng nó cũng đòi hỏi lợng vốn đầu t lớn và tạo
thành tài sản cố định có giá trị cao của doanh nghiệp. Nghĩa là, việc áp
dụng công nghệ có trình độ cao xét về tổng thể, thờng dẫn tới việc hình
thành cao doanh nghiệp có quy mô lớn. Tuy nhiên, quy mô của doanh
nghiệp còn bị ràng buộc bởi hình thức chuyên môn hoá và các quan hệ liên
kết kinh tế khác (hợp tác hoá, đa dạng hoá sản phẩm) cũng cần nhấn mạnh
rằng hiệu quảkinh tế cao mà mỗi doanh nghiệp có khả năng đạt đợc không
hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ công nghệ hiện đại nhất, mà phụ thuộc
vào trình độ công nghệ thích ứng với nhu cầu và khả năng của từng doanh
nghiệp. Do vậy, khi lựa chọn quymô doanh nghiệp không tách rời việc lựa
chọn công nghệ.
Trong điều kiện ở nớc hiện nay, việc lựa chọn quy mô hợp lý của
doanh nghiệp chịu sự ràng buộc của những yêu cầu rất phức tạp: một mặt,
doanh nghiệp phải có khả năng vơn tới trình độ công nghệ cao, mặt khác lại
phải phù hợp với khả năng về vốn đầu t còn hạn hẹp và có thể cần tạo thêm
đợc nhiều việc làm. Những yêu cầu ấy không phải luôn luôn đồng hớng mà
lại thờng xuyên mâu thuẫn với nhau.
Tiến bộ khoa học, kỹ thuật có ảnh hởng rất lớn đến tổ chức sản xuất
trong doanh nghiệp tạo tiền đề vật chất, kỹ thuật cho tổ chức sản xuất trong
doanh nghiệp đợc hợp lý.

Doanh nghiệp có trình độ chuyên môn hoá cao hợp tác hoá rộng thì
số loại sản phẩm số ít sản lợng của từng loại sản phẩm sẽ lớn nên có điều
kiện tổ chức theo loại hình sản xuất khối lợng lớn hay sản xuất hàng loạt.
Nh vậy, quy mô của doanh nghiệp lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào
loại hình sản xuất chuyên môn hoá.
Chuyên môn hoá sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình
phân công lao động giữa các doanh nghiệp để xác định nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp vào những công việc cùng loại nhất
định.
Ngoài ra, quá trình phân công lao động giữa các doanh nghiệp càng
sâu, đòi hỏi sự hợp tác hoá giữa các doanh nghiệp càng phải chặt chẽ. Hợp
tác hoá là quá trình tổ chức phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp nhằm
thực hiện có hiệu quả cao các nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp.
Nh vậy, chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất có mối quan hệ hữu
cơ với nhau. Chuyên môn hoá càng sâu, hợp tác hoá sản xuất phải càng chặt
chẽ, tổ chức sản xuất trong mõi doanh nghiệp càng trở nên đơn giản. Do đó
trong quá trình tổ chức và tổ chức lại sản xuất, mỗi doanh nghiệp đều phải
chú ý và coi trọng sự ảnh hởng của nhântố này, vì mục tiêu cơ bản của
4
chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất của doanh nghiệp là nâng cao hiệu
qủa kinh tế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của
mình.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp trong điều
kiện kinh tế thị trờng. Mặt khác thị trờng rất đa dạng và hiện có sự biến
động do các tiến bộ khoa học, kỹ thuật phát triển nhanh chóng, sự cạnh
tranh giữa các loại hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá đồng dạng rất gay gắt và
yêu cầu nâng cao không ngừng hiệu quả hoạt động nên mỗi doanh nghiệp
phải biết sức năng động trong việc lựa chọn các phơng án sản xuất kinh
doanh, phải thực hiện đa dạng hoá sản phẩm cho phù hợp với sự biến động

và phát triển, hiệu quả đạt đợc của mỗi doanh nghiệp mới cao để từ đó nâng
cấp quy mô sản xuất của doanh nghiệp.
Sự cần thiết phải kết hợp các loại quy mô doanh nghiệp
Nh trên đã đề cập, do khả năng của các chủ đầu t rất khác nhau, trình
độ tích tụ, tập trung hoá sản xuất ở các doanh nghiệp cũng khác nhau, nên
trong mỗi ngành công nghiệp chuyên môn hoá tồn tại các doanh nghiệp có
quy mô khác nhau. Bên cạnh các doanh nghiệp quy mô lớn, còn có những
doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Song trên phơng diện tổ chức, không
thể để các doanh nghiệp có quy mô khác nhau tồn tại, trong trạng thái phân
tán, rời rạc mà cần phải kết hợp chúng thành một hệ thống thống nhất. Sự
cần thiết phải kết hợp các loại quy mô doanh nghiệp trong công nghiệp,
ngoài đặc trng của cơ chế thị trờng là các doanh nghiệp tồn tại trong môi tr-
ờng vừa cạnh tranh, vừa liên kết với nhau, còn là vì mỗi loạiquy mô doanh
nghiệp đều có những u, nhợc điểm nhất định.
Có thể tổng hợp u, nhợc điểm của mỗi loại quy mô doanh nghiệp
trong bảng so sánh dới đây:
6
Nội dung so sánh doanh nghiệp quy mô
lớn
doanh nghiệp quy mô
vừa và nhỏ
1 2 3
1. Khả năng áp dụng
công nghệ mới và phát
triển công nghệ
- Có u thế vì phù hợp
với xu thế phát triển
công nghệ, có tiềm lực
vật chất tài chính và lao
động

sản xuất
Lớn
- Chậm
- Nhỏ
- Nhanh
5. Đáp ứng nhu cầu
- Nhu cầu rộng
- Nhu cầu rộng
- Nhu cầu đặc thù
- Có u thế
- Bị hạn chế
- Bị hạn chế
- Có u thế
6. Kết hợp kinh tế quốc
phòng
Khó phân tán và bảo vệ
trong chiến tranh
Dễ phân tán và bảo vệ
7
Có thể khẳng định rằng không có loại quy mô doanh nghiệp nào có u
thế tuyệt đối. Bên cạnh những u điểm, các doanh nghiệp quy mô lớn có
những nhợc điểm nhất định. Ngợc lại, các doanh nghiệp quy mô vừa và
nhỏ cũng có những u điểm mà doanh nghiệp quy mô lớn không thể có.
Chính điều đó đòi hỏi phải có sự kết hợp hợp lý các loại quy mô lớn không
thể có. Chính điều đó đòi hỏi phải có sự kết hợp hợp lý các quy mô doanh
nghiệp bằng các biện pháp thích ứng. để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Việc kết hợp ấy phải đợc quán triệt trong tất cả các ngành công
nghiệp chuyên môn hoá. Nhng ở mỗi ngành, do đặc điểm về kỹ thuật sản
xuất và vị trí trong hệ thống kinh tế chi phối cần xác định đợc loại quy mô
trọng tâm. Chẳng hạn, trong các ngành hoá dầu, luyện kim, điện lực, xi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status