BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC PHẦN I
MÔN GDCD LỚP 10 TRƢỜNG THPT TÔ HIỆU,
THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Nhóm ngành: GD
Sơn La, năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC PHẦN I MÔN
GDCD LỚP 10 TRƢỜNG THPT TÔ HIỆU,
THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Nhóm ngành: GD
Sinh viên thực hiện: Lò Thị Kiên
Giới tính: Nữ
Phòng, Ban chức năng của trường Đại học Tây Bắc.
Chúng em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, các thầy giáo, cô giáo
trong Khoa Lý luận Chính trị, cô giáo chủ nhiệm, tập thể các bạn sinh viên lớp
K55ĐHGD - Chính trị B, gia đình và bạn bè đã tạo mọi điểu kiện thuận lợi giúp chúng
em hoàn thành đề tài.
Bên cạnh đó, chúng em cũng gửi lời cảm ơn tới các các thầy cô giáo trong
trường THPT Tô Hiệu, TP.Sơn La, tỉnh Sơn La đã giúp đỡ nhiệt tình để chúng em
hoàn thành đề tài.
Đặc biệt chúng em xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn khoa
học Th.s Giáp Thị Dịu – Giảng viên khoa Lý luận Chính trị đã hướng dẫn, chỉ bảo,
giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu để chúng em hoàn thành đề tài.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Những người thực hiện đề tài
Lò Thị Kiên
Nùng Thị Hường
Quàng Thị Thoại
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐC
Đối chứng
TN
Thực nghiệm
GDCD
Giáo dục công dân
Trung học phổ thông
KHTN
Khoa học tự nhiên
KHXH
Khoa học xã hội
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .........................................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .......................................................................................2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ..............................................................3
3.1. Mục đích nghiên cứu................................................................................................3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ...............................................................................................4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ...........................................................4
4.1. Đối tượng nghiên cứu ..............................................................................................4
4.2. Phạm vi nghiên cứu..................................................................................................4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ...........................................................................................4
6. Những đóng góp mới của đề tài.................................................................................4
7. Kết cấu của đề tài ........................................................................................................5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
PHƢƠNG PHÁP TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC PHẦN I MÔN GDCD LỚP
10 Ở TRƢỜNG THPT TÔ HIỆU, THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA ..........6
1.1. Cơ sở lý luận của việc vận dụng phƣơng pháp trực quan trong dạy học phần
một “Công dân với việc hình thành thế giới quan - phƣơng pháp luận khoa học”
2.3.2. Phân tích kết quả điều tra, khảo sát .....................................................................39
2.3.3. Tiêu chí đánh giá ..................................................................................................40
2.3.4. Kết quả thực nghiệm .............................................................................................41
2.3.5. Những yêu cầu cơ bản của việc vận dụng phương pháp trực quan trong dạy học
môn GDCD lớp 10 ..........................................................................................................42
CHƢƠNG 3: QUY TRÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƢƠNG
PHÁP TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC PHẦN I MÔN GDCD LỚP 10 Ở
TRƢỜNG THPT TÔ HIỆU, THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA .................44
3.1. Quy trình vận dụng phƣơng pháp trực quan trong dạy học phần I “Công dân
với việc hình thành thế giới quan, phƣơng pháp luận khoa học” môn GDCD lớp
10 .....................................................................................................................................44
3.1.1. Giai đoạn chuẩn bị ...............................................................................................44
3.1.2. Giai đoạn thực hiện ..............................................................................................51
3.1.3. Giai đoạn kết thúc .................................................................................................52
3.2. Một số giải pháp vận dụng phƣơng pháp trực quan trong dạy học phần I
môn GDCD lớp 10 ở trƣờng THPT Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. ....53
3.2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng phương pháp trực quan trong dạy học
môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. ..................53
3.2.2. Một số giải pháp vận dụng phương pháp trực quan trong dạy học phần I môn
GDCD lớp 10 ở trường THPT Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La ...........................55
KẾT LUẬN ....................................................................................................................59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................61
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa đã đặt ra những yêu cầu
dạy học nói chung và phương tiện trực quan nói riêng.
Tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn “Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường
trung học phổ thông” đã đề cập đến các các phương pháp dạy học và cách sử dụng
phương tiện trực quan trong dạy học .
2
Hầu hết các tác giả đã làm rõ các khái niệm cơ bản về PPDH, PPDH tích cực, cơ
sở thực tiễn và cơ sở lý luận của việc đổi mới PPDH, phân loại các PPDH một cách có
logic và có hệ thống; đồng thời đề xuất một số biện pháp đổi mới PPDH, cũng như
một số quan điểm, phương pháp, kỹ thuật dạy học mới để vận dụng vào việc dạy học
các môn học. Tuy nhiên, các tác giả chưa nghiên cứu chi tiết về PP trực quan và việc
vận dụng vào dạy học môn GDCD lớp 10 ở trường trung học phổ thông.
Cùng với nhóm nghiên cứu về PPDH, đổi mới PPDH theo hướng tích cực còn có
nhóm nghiên cứu về phương pháp trực quan, phương tiện trực quan có các tác giả sau:
Nguyễn Hữu Châu trong cuốn “Phương pháp, phương tiện, kỹ thuật và hình thức
tổ chức dạy học trong nhà trường” đã đề cập tới những vấn đề của phương pháp dạy
học và các phương tiện dạy học cụ thể.
Lê Tràng Định trong cuốn “Phân loại và sử dụng phương tiện trực quan trong
dạy học” cũng đã đề cập nhiều về cách phân loại và cách sử dụng phương tiện dạy học
cụ thể.
Tô Xuân Giáp, “Phương tiện dạy học”, đã đề cập đến nhiều loại phương tiện dạy
học và cách sử dụng phương tiện dạy học.
Trong nhóm này, các tác giả cũng thể hiện khá chi tiết về khái niệm, phân loại
phương tiện trực quan; tầm quan trọng của việc vận dụng phương tiện trực quan cũng
như các giải pháp sử dụng phương tiện trực quan một cách khoa học theo hướng tích
cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong giờ học. Tuy nhiên việc vận dụng
phương pháp trực quan, phương tiện trực quan trong dạy học một môn học cụ thể
chẳng hạn như môn GDCD lớp 10 trung học phổ thông, phần “Công dân với việc hình
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn trong việc nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, đề xuất một
số giải pháp để vận dụng PP trực quan vào dạy học phần “Công dân với việc hình
thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học” môn GDCD lớp 10 ở trường THPT
Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: dự giờ, thăm lớp, thiết kế bài thực nghiệm,
trực tiếp lên lớp.
- Phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn: xây dựng câu hỏi, bảng biểu, xử lý
số liệu.
- Phương pháp thống kê toán học: xử lý kết quả, tính điểm trung bình, độ lệch
chuẩn, lệch điểm trung bình.
6. Những đóng góp mới của đề tài
Qua việc nghiên cứu và vận dụng đề tài này ở trường THPT Tô Hiệu, đề tài sẽ
góp phần bổ sung, làm phong phú thêm lý luận về vận dụng phương pháp trực quan
4
trong dạy học môn GDCD ở trường trung học phổ thông nói chung và trường trung
học phổ thông Tô Hiệu nói riêng, đặc biệt là qua những giải pháp vận dụng PP trực
quan nêu trên sẽ góp phần thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung
học phổ thông cũng như việc nâng cao hiệu quả dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”,
phát huy được tính tích cực, chủ động, hứng thú đối với môn học nhất là môn GDCD ở
trường trung học phổ thông mà lâu nay nhiều người cho rằng đơn điệu, khô khan, khó
tiếp thu.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài gồm
có 3 chương:
trọng hàng đầu của nghề dạy học. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có nhiều cách định
nghĩa khác nhau về PPDH chẳng hạn như: Trong Phương pháp dạy học truyền thống
và đổi mới, Nhà xuất bản Giáo dục, tác giả Thái Duy Tuyên đã trích dẫn từ một số tài
liệu nước ngoài về khái niệm PPDH:
- PPDH là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ
giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học (Iu.K.Babanxki, 1983).
- PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ
chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo học sinh lĩnh hội nội
dung học vấn (I.Ia.Lecne.1981).
- Còn theo Nguyễn Ngọc Quang trong Phương pháp dạy đại học, năm 1978, cho
rằng: Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò dưới sự chỉ đạo của
thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác, tích
cực, tự lực đạt được mục đích dạy học. Nó gắn liền với quá trình giáo dục và có sự tác
động qua lại giữa hoạt động của thầy và hoạt động của trò trong quá trình dạy học.
6
- Cùng khái niệm này, tác giả Bùi Thị Mùi, trường Đại học Cần Thơ đã khái quát
trong Giáo trình Lý luận dạy học, năm 2007, về PPDH: “PPDH là tổng hợp các cách
thức hoạt động phối hợp của giáo viên và học sinh được thực hiện trong quá trình dạy
học; trong đó, cách thức hoạt động của giáo viên đóng vai trò chủ đạo, cách thức hoạt
động của học sinh đóng vai trò chủ động nhằm thực hiện mục đích dạy học”.
Ngoài ra, còn nhiều cách định nghĩa khác về PPDH nhưng về cơ bản thì PPDH
chính là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá
trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học.
* Phương pháp trực quan
Về khái niệm phương pháp trực quan, tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng: Phương
pháp trực quan “là một loại PPDH có đặc điểm là học sinh tiếp thu kiến thức nhờ các
giác quan tri giác trực tiếp các sự vật và hiện tượng trong thực tiễn”.
thực tiễn.Chính vì vậy mà giai đoạn nhận thức cảm tính rất sinh động và mang lại
những tài liệu đáng tin cậy trong quá trình nhận thức.
- Giai đoạn nhận thức cảm tính gồm 3 hình thức: cảm giác, tri giác và biểu tượng.
+ Cảm giác: trong quá trình nhận thức, hình ảnh của sự vật, hiện tượng được ghi
lại một cách trực tiếp thông qua các giác quan và nó chỉ phản ánh những thuộc tính
riêng lẻ của sự vật, hiện tượng. Cảm giác có vai trò là “nguồn gốc của mọi sự hiểu
biết”. Lênin đã viết: “Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”.
+ Tri giác: là một hình thức của nhận thức được nâng cao hơn so với cảm giác,
nó phản ánh nhiều mặt, nhiều thuộc tính của sự vật, hiện tượng, mang lại cho nhận
thức con người về sự vật, hiện tượng một cách đầy đủ, phong phú hơn.
+ Biểu tượng: là hình thức phản ánh cao nhất, phức tạp nhất của giai đoạn trực
quan sinh động. Nó là hình ảnh được tái hiện lại mặc dù không trực tiếp nhưng lại toàn
diện và khái quát sự vật hơn.
Như vậy, các hình thức của trực quan (giai đoạn nhận thức cảm tính) rất sinh
động, phong phú, trực tiếp với sự vật, rất đáng tin cậy.Đây là ưu điểm mà người dạy
học vận dụng trong quá trình dạy học để phát huy tính tích cực của học sinh.
- Giai đoạn nhận thức lý tính là giai đoạn sau của quá trình nhận thức.Nó không
nhận thức trực tiếp sự vật, hiện tượng mà là nhận thức gián tiếp.Tuy nhiên, nhận thức
này xa hơn sự vật nhưng lại sâu sắc hơn vì nó nhận thức đi sâu vào bản chất của sự
vật. Giai đoạn nhận thức lý tính gồm 3 hình thức:
+ Khái niệm: Là thao tác logic nhờ đó phát hiện chính xác nội hàm của khái niệm
hoặc xác lập ý nghĩa của thuật ngữ dùng trong khái niệm.
+ Phán đoán: Là sự phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ của sự vật,
hiện tượng của thế giới quan, sự phản ánh đó có thể hợp hoặc không phù hợp với bản
thân thế giới quan. Vì vậy, mỗi phán đoán có thể là đúng hoặc sai, không có phán đoán
nào không đúng cũng không sai và không có phán đoán vừa đúng lại vừa sai.
8
thân học sinh tiến hành thực nghiệm nghiên cứu hay tiến hành thí nghiệm. Kết quả của
quan sát nhằm rút ra kết luận, hình thành tri thức mới.
9
Tùy theo đặc điểm, nội dung bài học, trình độ tay nghề, điều kiện cụ thể của nhà
trường và địa phương mà giáo viên có thể lựa chọn hình thức trực quan cho phù hợp.
Có như thế, mới phát huy được hiệu quả của phương pháp trực quan một cách tối ưu.
1.1.3. Những ưu, nhược điểm của phương pháp trực quan
* Ưu điểm
- Trong dạy học, nếu sử dụng tốt phương pháp trực quan thông qua phương tiện
trực quan và phương tiện kỹ thuật dạy học sẽ có tác dụng phát huy được vai trò nhận
thức tích cực của học sinh.
- Nếu phối hợp tốt với các PPDH khác, phương pháp trực quan sẽ kết hợp được
tín hiệu thứ nhất và tín hiệu thứ hai trong dạy học làm học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, giảm
mệt nhọc do tư duy nhiều, bởi vì hệ thống tín hiệu thứ nhất là những gì nghe được,
thấy được, cảm xúc được từ thế giới bên ngoài, đây là những thông tin về thế giới
khách quan mà con người nhận được trực tiếp từ thực tiễn thông qua các giác quan; hệ
thống tín hiệu thứ hai là ngôn ngữ và chữ viết là những thông tin về thực tiễn khách
quan đã được trừu tượng hóa. Hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở của hệ thống tín hiệu
thứ hai, con người không thể hiểu được khi dùng ngôn ngữ để mô tả một khái niệm,
một hiện tượng nếu không có những biểu tượng ban đầu về nó.
- Thông qua các tài liệu trực quan, ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiến
thức bền vững, chính xác còn giúp học sinh kiểm nghiệm lại tính đúng đắn của các kiến
thức; hoặc bổ sung, điều chỉnh, đánh giá lại chúng nếu không phù hợp với thực tiễn.
- Phương pháp trực quan giúp cho sự phát triển năng lực quan sát, óc tò mò, hứng
thú của học sinh trong học tập, tạo điều kiện hình thành cho học sinh tính độc lập, tự
giác vận dụng những gì đã học vào thực tiễn cuộc sống ở xung quanh các em.
* Nhược điểm
sâu sắc, nó trực tiếp đề cập đến những vấn đề chính trị, tư tưởng của giai cấp công
nhân, của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp xác lập, củng cố định hướng chính trị xã
hội chủ nghĩa cho HS. Toàn bộ nội dung môn GDCD từ lớp 10 đến lớp 12 tập trung
vào việc xây dựng cho HS thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, phương
pháp luận đúng đắn với những biện pháp và hình thức khác nhau.
Ba là, tri thức của môn GDCD mang tính tích hợp, có quan hệ chặt chẽ với nhiều
môn khoa học, nhiều lĩnh vực khoa học khác. Phân tích chương trình môn GDCD ta
thấy môn học này chứa đựng nhiều loại kiến thức của các môn học khác nhau và ở
mức độ nhất định nó còn chứa đựng cả kiến thức của các môn khoa học tự nhiên, khoa
học xã hội.
Bốn là, tri thức môn GDCD gắn bó mật thiết với hiện thực, phản ánh một cách
sinh động đời sống hiện thực.Nếu việc dạy học những tri thức của môn GDCD tách
khỏi thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thì sẽ mất hết
ý nghĩa và tác dụng. Bởi lẽ, dạy học GDCD là dạy để HS trở thành người công dân có
11
tinh thần trách nhiệm của một thành viên hữu ích cho Đất nước, có những kiến thức và
kĩ năng cần thiết để tham gia vào một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Do đó, quá
trình dạy học bộ môn phải gắn trực tiếp, cụ thể với đời sống, với việc rèn luyện, tu
dưỡng của mỗi HS.
* Đặc điểm của phần I môn GDCD lớp 10
Ở phần I cung cấp cho chúng ta một số nội dung chủ yếu của Triết học nhằm
trang bị cho học sinh những cơ sở ban đầu về thế giới quan, phương pháp luận trong
cuộc sống và là căn cứ luận cho các phần sau. Thông qua kiến thức được trang bị HS
hiểu được bản chất của thế giới là vật chất. Vận động và phát triển theo những quy luật
khách quan là thuộc tính vốn có của thế giới vật chất. Con người có thể nhận thức và
vận dụng được những quy luật ấy. Và thấy được mối quan hệ biện chứng giữa hoạt
động của chủ thể với khách thể qua các mối quan hệ: thực tiễn với nhận thức, tồn tại
- Tổng số lớp: 32 lớp trong đó:
Khối lớp 10: 12 lớp
Khối 11: 10 lớp
Khối 12: 10 lớp
Giáo viên dạy GDCD là 4 thầy cô trong đó: 01 giáo viên nam, 03 giáo viên nữ
- Thiết bị phục vụ giảng dạy: Có 2 phòng máy tính để phục vụ cho quá trình
giảng dạy của nhà trường.
- Có 32 phòng học tương ứng với 32 lớp học đã được lắp đặt máy tính và máy
chiếu để phục vụ cho giảng dạy của nhà trường nói chung và môn GDCD nói riêng.
Được sự quan tâm của Sở Giáo dục và Đào tạo Sơn La, Ban lãnh đạo nhà trường,
Hội Phụ huynh học sinh; nhà trường đã trang bị được một hệ thống thiết bị tương đối
đầy đủ như: tranh ảnh, bản đồ, các thiết bị thí nghiệm thực hành sinh – hóa, máy vi
tính, tivi, cát xét, máy chiếu projector; nhưng riêng bộ môn GDCD thì còn thiếu nhiều
cụ thể là tranh ảnh, phim phục vụ bộ môn… Nhận thức chung của giáo viên về vai trò
của môn học GDCD và việc vận dụng phương pháp trực quan trong quá trình dạy học
Nhằm đánh giá thực trạng nhận thức của giáo viên về vị trí, vai trò của môn
GDCD và việc vận dụng phương pháp trực quan trong quá trình dạy học, chúng tôi đã
tiến hành điều tra 04 giáo viên bộ môn GDCD ở trường với kết quả như sau: (phụ lục 1)
Bảng 1.1. Đánh giá của GV về tầm quan trọng của môn GDCD đối với việc
hình thành thế giới quan và phƣơng pháp luận khoa học
Mức độ
Số lƣợng
Tỉ lệ (%)
Rất quan trọng
4
4
100
- Kích thích được hứng thú học tập của học sinh, làm cho giờ
4
100
3
75
0
0
học hấp dẫn, sinh động hơn.
- Phát huy được tính tích cực, độc lập và sáng tạo của học
sinh.
- Các ý kiến khác.
- Về ý nghĩa của việc vận dụng phương pháp trực quan: có 100% ý kiến cho rằng
phương pháp trực quan “Kích thích được hứng thú học tập của học sinh, làm cho giờ
học hấp dẫn, sinh động hơn” và 75% ý kiến “Phát huy được tính tích cực, độc lập và
sáng tạo của học sinh”. Ngoài ra, 100% ý kiến “Làm giờ cho giờ học nhẹ nhàng, tự
nhiên và hiệu quả” và “các ý kiến khác” không có. Điều đó chứng tỏ vai trò của PPTQ
trong dạy học môn GDCD được các GV đánh giá cao. Đây là một kết quả đáng mừng
bởi GV ở trường đã ý thức được việc cần thiết phải đổi mới PPDH và vận dụng linh
thỉnh thoảng mới sử dụng PPTQ, và không có giáo viên nào chưa bao giờ sử dụng
14
PPTQ trong dạy học GDCD. Điều này cho thấy các GV đã nhận thức được hiệu quả
tầm quan trọng và vai trò của việc vận dụng PPTQ tuy nhiên mức độ sử dụng còn hạn
chế.
Bảng 1.4. Thực chất của việc vận dụng PPTQ trong dạy học môn GDCD ở
trƣờng THPT
Nội dung
Số lƣợng
Tỉ lệ (%)
- Dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên, học sinh sẽ khám
3
75
- Minh họa cho bài giảng của giáo viên
3
75
- Giúp học sinh tham gia tích cực vào hoạt động với phương
Do đánh giá quá cao vai trò của phương pháp trực quan, phương tiện trực quan
nên một số giáo viên còn lạm dụng quá nhiều hình ảnh trực quan, biến tiết dạy trở
thành một tiết “xem hình, xem phim” hoặc “tiết trình chiếu”, do đó không thể chuyển
tải được hết kiến thức cơ bản, cần thiết của bài học, dần dần gây tâm lý nhàm chán,
không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình tiếp thu kiến
thức của học sinh. Hoặc lạm dụng trong việc trình chiếu chạy chữ thay vì có thể sử
dụng bằng hình thức nói hoặc viết.
Nói cách khác, giáo viên chưa sử dụng phối hợp một cách khoa học giữa phương
tiện dạy học truyền thống và hiện đại.
Sử dụng hình ảnh trực quan đôi khi chưa có tác dụng giáo dục lồng ghép về
những vấn đề mang tính thời sự, xã hội.
Bên cạnh đó, một khó khăn lớn nhất hiện nay của nhà trường là điều kiện còn
thiếu trang thiết bị dạy học nhất là phương tiện dạy học truyền thống (tranh ảnh) cũng
như phương tiện dạy học hiện đại như: máy chiếu projector, chưa đáp ứng được nhu
cầu sử dụng của giáo viên trong dạy học; vì thế, giáo viên dạy học môn GDCD phải
vay mượn tranh, ảnh từ các bộ môn khác hoặc phải đăng ký trước tiết dạy có sử dụng
máy chiếu để được cán bộ phụ trách phòng máy vi tính sắp xếp.
Vì vậy, việc vận dụng phương pháp trực quan trong giảng dạy môn GDCD ở
trường THPT Tô Hiệu chưa phát huy được tính tích cực của nó.
Mặt khác, do ảnh hưởng của nhận thức về vị trí, vai trò của môn học GDCD
trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông của một số giáo viên chưa đúng với
mục tiêu của môn học: hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học, bởi vì
có một số quan điểm cho rằng môn học GDCD là môn phụ, nếu không phải là môn
phụ thì cũng là môn không thi tốt nghiệp nên không cần đầu tư nhiều, nhận thức này
không chỉ của các giáo viên bộ môn khác mà còn cả chính những giáo viên dạy môn
học này.
1.2.3 . Thực trạng việc tiếp cận với phương pháp trực quan của học sinh trong giờ
học môn GDCD lớp 10, phần “Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương
Là môn học không cần thiết.
10
8,3
Qua số liệu điều tra trên cho thấy: Đa số học sinh đều nhận thức đúng về vai trò,
vị trí của môn GDCD ở trường THPT, cụ thể là có 80% số học sinh cho rằng môn
GDCD là môn học cần thiết và bổ ích trong cuộc sống. Có 11,7% số học sinh cho rằng
môn GDCD là môn học phụ, không cần học cũng không sao, 8,3% số HS cho rằng
môn GDCD là môn học không cần thiết.
Bảng 1.6: Mức độ hứng thú của học sinh đối với các PPDH mà GV sử dụng
trong dạy học môn GDCD.
Nội dung
Số lƣợng
Tỉ lệ (%)
-
Phương pháp thuyết trình
30
25
-
Phương pháp thảo luận nhóm
-
Thỉnh thoảng phát biểu ý kiến xây dựng bài
36
30
-
Không bao giờ
46
38,3
Qua bảng trên ta thấy mặc dù đa số học sinh nhận thức đúng về vai trò, vị trí của
môn GDCD ở trường THPT, nhưng về động cơ, thái độ học tập thì trái với nhận thức,
17
thể hiện ở các số liệu: Chỉ có 31,7% ý kiến cho là “tích cực phát biểu ý kiến xây dựng
bài”, có 30% ý kiến cho rằng “thỉnh thoảng phát biểu ý kiến xây dựng bài” và có
38,3% ý kiến “không bao giờ”.
Như vậy, giữa nhận thức về vị trí, vai trò môn học và thái độ học tập của học sinh
trong trường hợp này rõ ràng có mâu thuẫn. Để tìm hiểu nguyên nhân, chúng tối tiến
hành trò chuyện với học sinh và được biết là do môn học này không thi tốt nghiệp và
phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa thật sự kích thích hứng thú, tích cực, sáng