Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng tại một số dự án trên địa bàn huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn - Pdf 43

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là thời gian để mỗi sinh viên sau khi học tập, nghiên cứu
tại trường có điều kiện củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào thực tế. Đây là giai
đoạn không thể thiếu được đối với mỗi sinh viên các trường đại nói chung và sinh
viên Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội nói riêng.
Với lòng kính trọng và biết ơn, em xin cảm ơn cô giáo TS. Nguyễn Thị
Kim Yến đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề
tài này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy giáo, cô
giáo, cán bộ trong khoa Trắc địa bản đồ và quản lý đất đai đã truyền đạt cho em
những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập và rèn luyện tại
trường.
Em xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo UBND, Phòng Tài Nguyên và Môi
trường huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, các cán bộ, nhân viên đang công tác tại
phòng Tài nguyên và Môi Trường huyện đã giúp đỡ em trong suốt thời gian thực
tập tốt nghiệp.
Trong quá trình học tập và làm đề tài tốt nghiệp, em đã cố gắng hết mình
nhưng do kinh nghiệm còn thiếu và kiếm thức còn hạn chế nên khóa luận tốt
nghiệp này chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè để khóa luận tốt nghiệp của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Lộc Bình, ngày tháng 05 năm 2017
Sinh viên

Lộc Linh Thảo


MỤC LỤC



MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là sản phẩm tự nhiên, là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá

của mỗi Quốc gia, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với đời sống của từng hộ gia
đình, cá nhân. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện tối thiểu đảm bảo
cho quá trình sản xuất giúp xã hội không ngừng phát triển.
Nước ta đang trong thời ký thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, nhiều dự án như các khu công nghiệp, nhà máy, các khu đô thị mới, khu
dân cư đang được triển khai một cách mạnh mẽ. Vậy, để thực hiện các dự án phát
triển kinh tế – xã hội Nhà nước phải thu hồi một phần đất người dân đang sử
dụng. Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) là một việc hết sức khó
khăn, phức tạp và được xã hội đặc biệt quan tâm. Bởi công tác bồi thường giải
phóng mặt bằng liên quan đến một loại tài sản có giá trị rất lớn, ảnh hưởng trực
tiếp đến quyền lợi của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Thực tế, qua nhiều dự
án đã cho thấy công tác giải phóng mặt bằng vẫn còn nhiều bất cập.
Cùng với sự phát triển của cả nước nói chung và huyện Lộc Bình nói riêng
trong những năm gần đây đã có nhiều công trình, dự án được triển khai nhằm
mục đích đẩy mạnh nền kinh tế của tỉnh, nâng cao chất lượng cuộc sống của
người dân và góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển chung của cả nước.
Để đảm bảo tiến độ thực hiện các dự án trên địa bàn huyện thì công tác thu hồi,
bồi thường và giải phóng mặt bằng phải được thực hiện một cách nhanh chóng
và hiệu quả. Tuy nhiên, trên thực tế thì công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
còn gặp những trở ngại, khó khăn dẫn đến việc bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi
công còn chưa kịp thời, làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các dự án trên
địa bàn huyện.
Thực hiện chính sách ưu tiên phát triển kinh tế hạ tầng giao thông – vận
tải miền núi của Đảng và Nhà nước, trong những năm đổi mới huyện Lộc Bình

thực và khách quan, phản ánh đúng quá trình thực hiện các chính sách bồi
thường GPMB qua một số dự án được thực hiện trên đại bàn nghiên cứu.
- Đưa ra được các giải pháp hợp lý nhằm góp phần hoàn thiện việc thực
hiện chính sách bồi thường GPMB và nâng cao đời sống nhân dân có đất bị thu
hồi trên cơ sở các văn bản pháp quy, các kết quả nghiên cứu, những kinh nghiệm
đã làm.


b, Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Đề tài có ý nghĩa rất quan trọng trong việc học tập và nghiên cứu khoa
học, giúp củng cố những kiến thức đã học bằng việc áp dụng trực tiếp và gián
tiếp vào điều kiện thực tiễn của địa phương, có kinh nghiệm thực tế, hiểu rõ về
công tác quản lý Nhà nước về đất đai, cụ thể là bồi thường GPMB, những thuận
lợi khó khăn khi bồi thường dự án.
* Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài góp phần đề xuất các giải pháp để thực hiện công tác bồi thường
GPMB thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ngày càng có hiệu quả.


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái quát về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
1.1.1. Khái niệm về giải phóng mặt bằng
Từ thực tiễn công tác GPMB ở Việt Nam ta có thể nêu ra một khái niệm như
sau:
GPMB là quá trình nhà nước thu hồi đất của các đối tượng sử dụng đất (tổ
chức, cá nhân, hộ gia đình) chuyển giao cho chủ dự án tổ chức di dời các đối
tượng như nhà ở, cây cối hoa màu, công trình xây dựng và một bộ phận dân cư
trả lại mặt bằng để thi công công trình trên cơ sở bồi thường thiệt hại, ổn định
cuộc sống cho các đối tượng phải di dời.

vực ngoại thành hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp,
do đó GPMB cũng được tiến hành với những đặc điểm riêng biệt.
- Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân. Ở khu vực nông thôn thì
dân cư chủ yếu sống vào hoạt động nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất
trong khi trình độ sản xuất lại thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp lại rất khó
khăn, do đó tâm lí của người dân vùng này là giữ đất để sản xuất, thậm chí họ
cho thuê đất còn thu được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho
thuê. Mặt khác do tập quán canh tác và sinh hoạt nên đa phần người dân đều
không muốn mất đi mảnh đất cha ông để lại. Tình hình đó đã dẫn đến công tác
tuyên truyền vận động dân cư tham gia di chuyển là rất khó khăn. Bên cạnh đó
công tác kiểm kê, định giá để bồi thường, hỗ trợ gặp nhiều khó khăn do các tài
sản như công trình, vật kiến trúc gắn liền với đất rất đa dạng. Chính vì vậy khi
thực hiện công tác bồi thường GPMB cần có sự phối hợp hài hòa giữa các cấp
chính quyền, các ban ngành đoàn thể có liên quan và người dân. Cần áp dụng kịp
thời những chính sách của Nhà nước để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên
tham gia theo đúng quy định của pháp luật.


1.1.3 Một số quy định chung về công tác giải phóng mặt bằng
Thực chất của việc GPMB là việc chuyển quyền sử dụng đất, chuyển mục
đích sử dụng đất dưới sự điều tiết của Nhà nước.
Theo điều 62 Luật Đất đai 2013 của nước ta thì:
Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công
cộng trong các trường hợp sau đây:
1. Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ
trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
2. Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định
đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm:
a) Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao,

trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn,
khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu
khoáng sản.
* Một số tiêu chuẩn về bồi thường và tái định cư:
- Cá nhân, hộ gia đình và tổ chức bị ảnh hưởng sau khi tái định cư và nhận
tiền bồi thường phải có cuộc sống tốt hơn hoặc ít nhất là không kém hơn đời
sống của họ trước khi di dời.
- Phải có hỗ trợ bổ sung cho tất cả các cá nhân, hộ gia đình sẽ bị mất thu
nhập do tái định cư đặc biệt, họ không thể duy trì nghề nghiệp trước đây và phải
đào tạo lại.
- Tái định cư kể cả bồi thường phải được xem xét và xử lý trên cơ sở các
quyền được hưởng của cá nhân, hộ gia đình và tổ chức bị ảnh hưởng cũng như
nguyên tắc tái định cư chứ không dựa trên khả năng thanh toán bồi thường có đủ
ngân sách chi trả cho tất cả các khoản bồi thường và các chi phí tái định cư khác
trước khi tiến hành công tác tái định cư.
- Công tác tái định cư đặc biệt đối với những dự án lớn cần được lên kế
hoạch kỹ lưỡng trước khi tiến hành và phải chuẩn bị phương án tái định cư thích
hợp. Những phương án này là hết sức cần thiết cho việc lập dự toán ngân sách
cuối cùng để thực hiện dự án.


- Phải tiến hành thảo luận với cộng đồng dân cư sở tại, nơi bị thu hồi đất và nơi
tái định cư về các vấn đề có liên quan dựa trên cơ sở tham gia đầy đủ và chân thực.
- Các phương án tái định cư cần phải được thống nhất với tất cả cộng đồng
dân cư đại diện cá nhân, hộ gia đình và các tổ chức có liên quan.
- Cần luôn luôn xem xét đến công tác bồi thường và tái định cư với những
người gặp khó khăn về thể xác hoặc tinh thần như: Người già, người độc thân hay
phụ nữ goá chồng, người dân tộc thiểu số, thiếu hiểu biết về văn hoá.
- Trước khi công bố một dự án hay một công trình thì cần điều tra tình hình
dân số của khu vực bị ảnh hưởng. Làm như vậy để giảm thiểu khả năng người dân cố

Nên việc GPMB thực chất là việc mua bán đất đai theo giá thoả thuận giữa
người mua và người bán. Cho nên việc GPMB chỉ mang tính chất thủ tục vì đất
đai thuộc sở hữu tư nhân do đó họ có quyền mang ra trao đổi hay mua bán tự do.
Ngoài ra đất đai còn tham gia vào thị trường bất động sản và thị trường chứng
khoán như một nguồn đầu tư ngoại tệ.
a, Công tác giải phóng mặt bằng ở Trung Quốc
Với hình thức sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể về đất đai, mục tiêu bao
trùm tái định cư ở Trung Quốc là hạn chế tối đa việc thu hồi đất cũng như số
người chịu ảnh hưởng bởi dự án.
Trong trường hợp không thể tránh khỏi việc tái định cư sẽ được chuẩn bị
thành những chương trình cụ thể để đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng
được bồi thường và hỗ trợ đầy đủ trong đó đã tính đến lợi ích của cả ba bên là
nhà nước, tập thể, cá nhân. Tại các thành phố lớn như Bắc Kinh, Quảng Châu,
Vũ Hán và một số tỉnh. Nhiệm vụ quy hoạch đất đai ở đô thị và nông thôn được
Nhà nước Trung Quốc quan tâm và thực hiện triệt để.
Công tác bồi thường và tái định cư ở Trung Quốc những năm gần đây đạt
được kết quả đáng kể, nguyên nhân là do xây dựng các chính sách và thủ tục rất


chi tiết, ràng buộc các hoạt động tái định cư với nhiều lĩnh vực khác, mục tiêu
của các chính sách này là cung cấp cơ hội phát triển cho tái định cư, thông qua
cách tiếp cận và tạo nơi ở mới ổn định, tạo nguồn lực sản xuất cho người thuộc
diện bồi thường, tái định cư. Đối với các dự án phải bồi thường để giải phóng
mặt bằng tái định cư chi tiết được chuẩn bị trước khi thông qua dự án, cùng với
việc dàn xếp kinh tế khôi phục cho từng địa phương, từng gia đình và người bị
ảnh hưởng.
Thành công của Chính phủ Trung Quốc trong việc bồi thường và tái định
cư là do hệ thống pháp luật đồng bộ, pháp luật đất đai và chính sách đất đai đầy
đủ, phù hợp, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất rất năng động, khoa học
cùng với một Nhà nước pháp quyền vững chắc, năng lực thể chế của chính

- Đền bù cho từng cá nhân: Đền bù phải được chi trả cho từng cá nhân tới
chủ đất…
- Đền bù cả gói: Trong trường hợp hộ có thể cùng một dự án với nhiều
mảnh đất thuộc cùng một chủ sở hữu nhưng thuộc các giai đoạn đền bù khác
nhau, chủ thực hiện dự án chi trả cả gói đền bù một lượt.
- Tính toàn số tiền đền bù: Thời điểm tính giá đền bù: Thời điểm tính tại
thời điểm đạt được thỏa thuận; thời điểm cưỡng chế tính tại thời điểm ra quyết
định cưỡng chế, chủ thực hiện dự án phải giao việc đánh giá giá trị đất đai…cho
không dưới hai cơ quan thực hiện đánh giá; trong trường họp chủ đất có yêu cầu
có thể phải lựa chọn một nhà định giá; giá trị đền bù là trung bình cộng của kết
quả định giá bởi hai hoạc ba cơ quan định giá trên.
- Tiêu chuẩn và loại đền bù về đất: Đền bù thực hiện dựa trên bảng giá đất
được công bố theo quy đinh; đơn vị đánh giá sẽ căn cứ vào khung giá đất công
khai chính thứ cho khu vực liên quan để tiến hành định giá đất, giá một đơn vị
diện tích đất của khu vực tham chiếu được chính phủ khảo sát, đánh giá và công
bố hằng năm (ở Việt Nam giá đất do UBND tỉnh công bố hằng năm).
Định giá sẽ so sánh các yếu tố, như vị trí, địa hình, môi trường xung
quanh… có ảnh hưởng đến các giá trị khách quan của đất, tham chiểu từ 02 hoặc
hơn 02 mảnh đất tham khảo với mảnh đất đang cần định giá; đơn vị định giá phải
tiến hành định giá sao cho đảm bảo có sự hài hòa giữa giá đất đưa ra và mức giá
theo khung giá đất công khai chính thức.


Tài sản (gồm: nhà cửa, cây trồng, mồ mả, công trình và tài sản gắn liền
với đất…) nhà cửa, công trình và các tài sản sẽ được tính theo mức chi phí
chuyển đổi cần thiết trừ những trường hợp: nơi khi chuyển đổi nhà, nơi chi phú
chuyển đổi lớn hơn giá trị tài sản, nơi chủ thực hiện dự án thu mua để sử dụng
trực tiếp; cây trồng sẽ được đền bù bằng tổng số loại và mức độ sinh trưởng phát
triển… Mồ mả được đền bù bằng cách tính chi phí cần thiết cho sự thay đổi địa
điểm chôn cất.

kỳ
1.4.1. Thời kỳ từ năm 1993 đến năm 2003
Hiến pháp 1992 đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách bồi thường
GPMB qua những điều 17, 18, 23. Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật Đất đai
1993 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 với
quy định “đất có giá” và người sử dụng đất có quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi
mới có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác bồi thường GPMB của Luật Đất
đai năm 1993. Những quy định về bồi thường GPMB của Luật Đất đai năm 1993
đã thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng
càng về sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế xã hội, nó đã mất
dần đi vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển.
Để tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độc GPMB đẩy nhanh tiến độ thi công
công trình, đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai đã được thông qua ngày 29 tháng
6 năm 2001. Do đòi hỏi của sự hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai 2001 đã bổ sung các quy định cụ thể
về quyền của tổ chức kinh tế sử dụng đất. Việc cho phép các tổ chức kinh tế
được quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh và góp vốn bằng
QSDĐ đã nâng cao năng lực và khả năng cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh
này. Để cụ thể hóa các quy định của Luật Đất đai năm 1993 và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, nhiều văn bản quy định về chính
sách bồi thường GPMB đã được ban hành gồm:
- Nghị định số 90/CP ngày 17 tháng 9 năm 1994 của Chính phủ quy định
về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích
an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Xét về tính chất và nội
dung, Nghị định 90/CP đã đáp ứng được một số yêu càu nhất định, so với các
văn bản trước Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao và cụ
thể hóa việc thực hiện chính sách bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, việc đền
bù bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất.
- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất;

phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện.
Thứ hai : Quy định cụ thể và làm rõ các điều kiện về bồi thường về đất khi
Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh; phát triển kinh tế xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng đối với từng loại đối tượng mà Nhà nước thu hồi
đất.


Trong đó, Luật bổ sung thêm 2 trường hợp được bồi thường về đất quy
định tại Điều 75, cụ thể:
- Bổ sung bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền một
lần cho cả thời gian thuê nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa người sử dụng đất
theo hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê với người được giao
đất có thu tiền sử dụng đất.
- Bổ sung bồi thường đối với các trường hợp Cộng đồng dân cư,cơ sở tôn
giáo,tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải đất do Nhà nước giao, cho
thuê và có GCN quyền SDĐ , quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất
theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.
Thứ ba: Thể chế hóa các cơ chế, chính bồi thường về đất,chi phí đầu tư
vào đất còn lại thông qua các quy định chi tiết đối với từng loại đất gồm: Đất
nông nghiệp, đất ở, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở và theo từng loại đối
tượng sử dụng đất ( Điều 77 đến Điều 81 của Luật )
Trong đó, quy định của Luật đất đai năm 2013, việc xác định mức bồi
thường cho người có đất thu hồi đối với sử dụng có thời hạn không chỉ căn cứ
loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn căn cứ thời gian sử dụng đất còn lại cửa
người sử dụng đất đối với đất đó.
Thư tư : Quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại
( Điều 76 ) cho một số trường hợp không được bồi thường về đất, bao gồm :
- Đất được nhà Nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất
nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại Khoản 1,
Điều 54;

Quy định về nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại Khoản 1, Điều
83 cụ thể :
“1. Nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;
a, Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi
thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;
b, Việc hỗ trợ đảm bảo khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và
đúng quy định của pháp luật”.


Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ
gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường tại Khoản 1, Điều 84. Cụ
thể:
“ Hộ gia đình cá nhân trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp, khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường ngoài việc
được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo chuyển nghề, tìm kiếm việc
làm.
Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc
làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các
cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu
đãi để phát triển sản xuất kinh doanh”
Thứ bẩy : Về tái định cư.
Luất Đất đai 2013 đã có những quy định mới về tái định cư nhằm khắc
phục những yếu kếm trong chất lượng cơ sở hạ tầng, cải thiện đời sống cho
người bị thu hồi đất như sau:
- Bổ sung quy định cụ thể về lập và thực hiện dự án tái định cư tại Điều 85
theo hướng:
“1. UBND cấp tỉnh,UBND cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực
hiện dự án TĐC trước khi thu hồi đất.
2. Khu TĐC tập chung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, đảm bảo

Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất.Theo quy
định mới,Nhà nước sẽ hỗ trợ nhằm giúp ổn định đời sống và sản xuất khi thu hồi
đất.


CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Kết quả công tác bồi thường giải phóng mặt bằng của một số dự án trên
địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
- Thực trạng đời sống của nhân dân sau khi bị thu hồi đất tại dự án trên
địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
* Đề tài nghiên cứu 2 dự án
- Dự án 1: “ Nâng cấp hệ thống thủy lợi Tà Keo, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng
Sơn”.
Dự án “Nâng cấp hệ thống thủy lợi Tà Keo, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng
Sơn” là tiểu dự án thuộc dự án “Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn bền vững các
tỉnh miền núi phía Bắc, tỉnh Lạng Sơn” với mục đích xây dựng và nâng cao năng
lực quản lý cơ sở hạ tầng cấp cộng đồng để từng bước cải thiện điều kiện sống
của người dân nghèo miền núi.
-Dự án 2: “ Cầu thị trấn Lộc Bình, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn”.
Xác định phát triển giao thông nông thôn là cơ hội để phát triển kinh tế-xã
hội, tạo diện mạo nông thôn mới nên những năm qua, xã Lục Thôn luôn tranh
thủ sự hỗ trợ của Nhà nước để xây dựng công trình cầu thị trấn Lộc Bình nối
giữa thị trấn với xã Lục Thôn, thuận tiện cho việc đi lại và phát triển kinh tế của
mọi người dân.
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

2.3.1. Thu thập tài liệu thứ cấp có liên quan
Thu thập tài liệu từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lộc Bình về :
*
*
*

Phương án giải phóng mặt bằng.
Kết quả bồi thường, đền bù.
Các văn bản, thông tư triển khai công tác giải phóng mặt bằng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status